TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA: 2008-2012
Đề tài:
NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG
TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
NGUYỄN THỊ MỸ LINH
NGUYỄN THỊ KIM LIÊN
MSSV: 5086045
LỚP: LUẬT TƯ PHÁP 1
KHÓA: 34
CẦN THƠ, 04/2012
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
----------- .................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
----------- .................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
1.3.1 Trong bộ luật nhà Lê ....................................................................................... 16
1.3.2 Trong Luật Gia đình số 1/59 ngày 02/01/1959, Sắc luật ngày 13/7/ 1964, Bộ Dân luật
ngày 20/12/1972. ................................................................................................................. 17
1.3.3 Trong luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ..................................................... 18
1.3.4 Trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản điều chỉnh vấn đề
trên ............................................................................................................................ 20
1.4 Ý nghĩa của sự chung thủy của vợ chồng ....................................................... 21
1.4.1 Ý nghĩa của nghĩa vụ chung thủy đối với nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng ........................................................................................................................ 21
1.4.2 Ý nghĩa của sự chung thủy đối với đời sống vợ chồng ................................... 22
CHƯƠNG 2
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ NGHĨA VỤ
CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG
2.1 Điều kiện phát sinh nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng ............................... 24
2.1.1 Kết hôn hợp pháp ............................................................................................ 24
2.1.2 Chung sống như vợ chồng được pháp luật công nhận .................................... 26
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
2.2 Thời điểm phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng ........ 28
2.3 Nội dung của nghĩa vụ chung thủy ................................................................. 30
2.4 Giới hạn của nghĩa vụ chung thủy và sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy ..... 31
2.5 Mối quan hệ giữa nghĩa vụ chung thủy và nguyên tắc hôn nhân một vợ một
3.4.1.3 Tăng chế tài hình sự quy định căn cứ xét mức xử lý.................................... 64
3.4.2 Về mặt xã hội ................................................................................................... 65
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 69
MỤC LỤC ............................................................................................................... 71
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là những hình ảnh thu nhỏ của xã hội
một cách trực quan và sinh động nhất. Gia đình cũng là nơi duy trì nòi
giống, là nơi nuôi dưỡng ra những thế hệ tương lai. Cũng là nơi hình thành
nhân cách con người, nơi nuôi dạy, bảo tồn và phát huy những truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, chống lại các tệ nạn xã hội. Đồng thời tạo ra nguồn nhân
lực nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Xuất phát từ những tầm quan trọng ấy, tại hội nghị cán bộ thảo luận
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
hôn nhân một vợ một chồng. Tuy nhiên có một số trường hợp pháp luật
không xử lý được khi chưa thỏa điều kiện vi phạm nguyên tắc hôn nhân một
vợ một chồng. Và nếu đã thỏa điều kiện vi phạm để xử lý thì gặp một vướng
mắc đó là pháp luật được ban hành ra nhưng khó thực thì được vi gặp nhi ều
quy định còn hạn chế. Do vậy người viết chọn đề tài: “Nghĩa vụ chung thủy
của vợ chồng trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” là đề tài nghiên cứu
cho luận văn.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu về tình hình thực tế của những quy định của pháp luật bên
cạnh các yếu tố xã hội tác động, cũng như nêu lên một số hậu quả, nguyên
nhân của sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy đó nhằm có những hướng đóng
góp vào các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề trên. Trong khuôn
khổ của một đề tài luận văn người viết cũng nhằm mục đích nhằm góp phần
hoàn thiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đồng thời bổ sung thêm
các yếu tố của nghĩa vụ chung thủy. Và sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy khi
có đầy đủ các điều kiện về yếu tố vi phạm khi đó những đối tượng vi phạm
sẽ bị chế tài theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhằm góp phần
nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân “một vợ một chồng”.
Bên cạnh nêu lên sự bình đẳng trong quy định vợ chồng có nghĩa vụ
chung thủy thể hiện sự bình đẳng giữa vợ và chồng. Nhưng trên thực tế th ì
về định kiến xã hội (về giới) vẫn còn tồn tại không ít sự bất bình đẳng trong
cách nhìn nhận vấn đề.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
dùng được hiểu theo nghĩa có mối quan hệ xác thịt với một người khác ng oài
chồng hoặc vợ của họ.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề
trong luận văn dựa vào phương pháp phân tích luật viết, các phương pháp
quy nạp, diễn dịch phương pháp thu thập tài liệu, quá trình tìm hiểu thực tế .
Sử dụng phương pháp khoa học lịch sử biện chứng, kết hợp với quan điểm,
đường lối của Đảng và nhà nước nghi trong các văn bản pháp chế điều chỉnh
về hôn nhân và gia đình.
5. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Luận
văn nghiên cứu về “Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam” còn có phần nội dung được kết cấu thành ba chương.
Chương 1: Lý luận chung về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Chương 2: Các quy định của pháp luật điều chỉnh về nghĩa vụ chung
thủy của vợ chồng.
Chương 3: Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện việc thực hiện nghĩa vụ
chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
3
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
1
Xem: O. M. Promlemley, Family law, 5th edition, London Butterworth, 1976, tr 15.
Xem: Leonard & Elias. Berkeyly, Family law Dictionary, Cali. Nolo 1990
3
Xem: Dictionary of law – Third edition, Petter collin publishing, 2000.
4
Xem: Nguyễn Quang Quỳnh, Dân luật, Bộ văn hóa giáo dục, Viện Đại học Cần Thơ xuất bản 1968, tr. 239
2
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
4
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Gòn cũ quy định: “Không ai đươc phép tái hôn nếu giá thứ trước chưa đoạn
tiêu”.
Thực tế cho thấy, quan hệ hôn nhân là quan hệ xã hội được xác định
bởi các quan hệ sản xuất hiện đang thống trị, vì thế tính chất của hôn nhân
có thể thay đổi phụ thuộc vào cơ sở kinh tế đang thống trị. Trong mỗi giai
đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị bằng pháp luật điều chỉnh các
quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình, phục vụ
cho lợi ích giai cấp của mình. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự
liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà được pháp luật thừa
nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời. Rõ ràng hôn
5
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Từ đó có thể hiểu rằng hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông
và một người đàn bà đó là hôn nhân một vợ một chồng trong chế độ hôn
nhân xã hội chủ nghĩa và là sự liên kết bình đẳng trên nguyên tắc hoàn toàn
tự nguyện, không ai được ép buộc hoặc cản trở, cơ sở của sự tự nguyện trong
hôn nhân chính là tình yêu chân chính giữa nam và nữ, không bị những tính
toán về kinh tế chi phối. Cũng có thể nói hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu
giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng là điều kiện đảm bảo cho sự liên kết đó
hạnh phúc, bền vững. Tính chất bền vững “suốt đời” là đặc trưng của hôn
nhân xã hội chủ nghĩa. Khi yêu nhau, vợ chồng mong muốn được chung
sống gắn bó bên nhau suốt đời hạnh phúc và hòa thuận. Tuy nhiên cần phải
đáp ứng các điều kiện do pháp luật hôn nhân và gia đình quy định về điều
kiện kết hôn, những trường hợp cấm kết hôn, đăng kí kết hôn và chương X
quy định về ly hôn 7, việc kết hôn và ly hôn được tiến hành theo trình tự pháp
luật. Các nghi lễ mang tính chất tôn giáo và phong tục tập quán không bị
cấm đoán chỉ mang tính chất riêng tư. Để được công nhận là hôn nhân hợp
pháp, việc đăng kí kết hôn phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật.
Như vậy, chính xuất phát từ hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là
sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, sự liên kết bền vững trên cơ sở tình yêu
thương, quý trọng lẫn nhau. Sự liên kết đó không phụ thuộc vào tính toán vật
chất và hôn nhân không phải là một hợp đồng, mà đó là “sự liên kết đặc biệt
giữa một người đàn ông và một người đàn bà bởi mục đích xây dựng mối
quan hệ vợ chồng bền vững, bảo đảm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vật chất
được xem là bước khởi đầu của cuộc sống vợ chồng, khoảng thời gian từ
ngày đăng kí kết hôn đến ngày chấm dứt kết hôn được gọi là thời kì hôn
nhân, trong thời kì này các quan hệ về nhân thân và các quan hệ về tài sản
giữa vợ và chồng phát sinh và được pháp luật bảo vệ.
1.1.3 Khái niệm về gia đình
Gia đình là sự liên kết của nhiều người và dựa trên cơ sở quan hệ hôn
nhân, huyết thống và nuôi dưỡng có quyền và có nghĩa vụ tương trợ với
nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, về mặt vật chất và tinh thần để xây
dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước
và xã hội.
Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển xã hội, các
điều kiện trong từng giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là nhân tố
quyết định và kết cấu gia đình. Vì vậy, có thể khẳng định gia đình là hình
ảnh thu nhỏ là tế bào của xã hội.
Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái xã hội khác nhau. Gia
đình xã hội chủ nghĩa là hình thái cao nhất. Chế độ xã hội chủ nghĩa, quan
hệ bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái, quan hệ dân chủ
giữa cha mẹ và con cái đã phản ánh rõ mối quan hệ bình đẳng và dân chủ
trong xã hội, xã hội chủ nghĩa đồng thời cũng đề cao về những nghĩa vụ
trong tình nghĩa giữa vợ và chồng đối với nhau sống trong một gia đình
nhằm góp phần vào sự bền vững của gia đình. Có nhiều ngành khoa học
nghiên cứu về gia đình như luật học, triết học và xã hội học. Do phạm vi
nghiên cứu của mỗi ngành khoa học khác nhau nên các khái niệ m gia đình
cũng có sự khác nhau
Nhìn từ góc độ xã hội học thì gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã
hội.Vì vậy có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như
một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội
hóa con người. “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội
nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nh ân, quan
ngược lại. Những người chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn
hoặc không được pháp luật công nhận là vợ chồng thì không phải là thành
viên của cùng một gia đình, do không có quan hệ hôn nhân.
Xã hội coi “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng của
con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp
phần vào xây dựng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc ” 11 Gia đình là tế
bào của xã hội, đồng thời cũng là một thiết chế xã hội. Gia đình vừa tạo
dựng nên xã hội, lại vừa biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội.
9
Xem: Trung tâm Thông tin (tổng hợp), “mẹ kể con nghe”, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 21/08/2006,
Truy cập 10 tháng 5 năm 2010, Bản chính được lưu trữ ngày 21/08/2006. (Viết bằng tiếng Việt.)
10
Thực ra con dâu (rể) không thể có quan hệ hôn nhân hay quan hệ thân thuộc với cha mẹ chồng (vợ) và
trong khung cảnh của luật viết hiện hành, giưa những người này cũng không có các quyền và nghĩa vụ pháp
lý hỗ tương trực tiếp. Tuy nhiên, nếu họ sống chung dưới một mái nhà, thì việc coi họ là thành viên của cùng
một gia đình chắc chắn phù hợp với suy nghĩ của người làm luật. Tục lệ về phần mình luôn coi những người
này thuộc về cùng một gia đình dù họ sống hay không sống chung dưới một mái nhà.
11
Xem: Trích trong lời nói đầu, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 , Chính trị quốc gia, 2008, tr.
7
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
8
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
những con người hiếu thảo, có đạo đức trong sáng, có suy nghĩ lành mạnh,
có thể chất mạnh khỏe và có chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp cao đáp
ứng được mọi yêu cầu của gia đình và xã hội. Nói cách khác, giáo dục gia
đình đó là nhằm tạo ra những con người chân chính, có đời sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, có năng lực trí tuệ cao, có lối sống lành mạnh, đạo đức trong
sáng, hết mình vì mọi người, vì quê hương, đất nước.
Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi vô cùng to lớn của đời sống xã hội
thời kỳ đổi mới, gia đình Việt Nam cũng diễn ra sự biến đổi một cá ch toàn
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
9
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
diện tạo nên một thách thức không nhỏ đối với chức năng giáo dục của gia
đình. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến
mọi mặt đời sống gia đình. Bên cạnh những tác động tích cực, những cơ hội
phát triển mới, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và
thách thức mới. Đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; ngoại tình;
sống chung không kết hôn; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; tình trạng trẻ
em nghiện hút; trẻ em hư, phạm tội, lang thang có xu hướng tă ng; bạo lực
gia đình; buôn bán phụ nữ; bất bình đẳng giới; mua bán hôn nhân có yếu tố
nước ngoài; xu hướng tôn sùng tiền bạc trong quan hệ giữa người với người;
tình trạng buôn lậu, tham nhũng, hối lộ, mua quan bán chức diễn ra phổ biến
trong xã hội... đang tác động đến từng cộng đồng, tập thể, cá nhân, từng gia
đình ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, mọi phương diện.
Những tác động này đang tạo ra một môi trường xã hội ô nhiễm nặng
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
hiện nay. Nó rất có thể sẽ để lại nhiều dấu ấn khuyết tật trong nhân cách gốc
của thế hệ tương lai. Hậu quả của nguy cơ này dường như được báo trước.
Giải pháp cho vấn đề trên là nâng cao hiệu quả giáo dục gia đình.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cùng với sự chuyển đổi
toàn diện về kinh tế - xã hội cũng đang diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh
mẽ về hệ thống giá trị, trong đó, có cả những giá trị gia đình. Tuy nhiên, các
nghiên cứu gần đây đều thống nhất khẳng định trong điều kiện kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế hiện nay mặc dù đang có rất nhiều tác động xấu
đến đời sống gia đình, nhưng về cơ bản, gia đình Việt Nam vẫn bảo tồn và
phát huy được những giá trị truyền thống quý báu của mình như: tình yêu
trong sáng, hôn nhân lành mạnh; lòng thủy chung, tình nghĩa vợ chồng; trách
nhiệm và sự hy sinh vô hạn của cha, mẹ cho con cái; con, cháu hiếu thảo với
cha, mẹ, kính yêu ông, bà, biết ơn tiên tổ; anh em, họ hàng đùm bọc, giúp đỡ
lẫn nhau; các thành viên đề cao lợi ích chung của gia đình; lòng tự hào về
truyền thống gia đình, dòng họ và quê hương... Đồng thời, gia đình Việt
Nam cũng đã tiếp thu nhiều tinh hoa của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự
do cá nhân; tôn trọng sự lựa chọn cá nhân; dân chủ, bình đẳng trong quan hệ;
bình đẳng về nghĩa vụ, trách nhiệm và thụ hưởng; không phân biệt đối x ử
nam, nữ, trai, gái, dâu, rể
Với những yếu tố trên, rõ ràng gia đình Việt Nam vẫn đang và sẽ là
một giá trị xã hội bền vững. Đây chính là cơ sở hiện thực để gia đình Việt
Nam tiếp tục tồn tại và phát triển vững chắc và cũng là cơ sở để gia đình
ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng giáo dục của mình.
“Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân,
quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa
vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này”. 12 Các mối liên hệ
đó là các thành viên của gia đình có thể xếp thành hai nhóm, tùy theo tính
chất của mối quan hệ giữa thành viên với nhân vật trung tâm của gia đình mà
thống do xuất phát từ một tổ tiên chung như anh chị em ruột có cha mẹ
chung; anh chị em cùng cha khác mẹ có cha chung; anh chị em cùng mẹ
khác cha có mẹ chung; chú và cháu có tổ tên chung là ông nội của cháu đồng
thời là cha của chú.
Ở quan hệ nuôi dưỡng như do việc nhận con nuôi, người nuôi được
gọi là cha (mẹ) nuôi và người được nuôi được gọi là con nuôi. Người con
nuôi là thành viên của gia đình người nuôi, bình đẳng với người con nuôi và
người con ruột của người nuôi trong quan hệ với người sau này. Tuy nhiên
trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, tư cách thành viên gia đình
mà người con nuôi được trao cho chỉ được duy trì với hai điều kiện:
- Quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi được duy trì;
- Cha mẹ nuôi còn sống. Thiếu một trong hai điều kiện đó, người
con nuôi hoàn toàn là người ngoài đối với gia đình của người nuôi.
Mối liên hệ hôn nhân như vợ chồng do việc kêt hôn, quan hệ vợ chồng
được hình thành. Gia đình hộ luôn được thành lập với hai thành viên đầu
tiên là vợ và chồng. Dần dần các con được sinh ra. Cũng do hiệu lực của hôn
nhân mà vợ chồng trở thành người có quan hệ với người thân thuộc của
chồng (vợ) mình theo tục lệ: chẳng hạn như là cha mẹ chồng (vợ), dâu, rể.
Tính chất đặc biệt của sự liên kết này là mọi người cũng quan tâm giúp đỡ
lẫn nhau. Sinh đẻ và nuôi dạy con cái và họ có những quyền và nghĩa vụ
nhân thân và nghĩa vụ về tài sản đối với nhau.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
12
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
nghĩa vụ được quy định bằng pháp luật. Thông thường, nghĩa vụ thường đi
đôi với quyền, chẳng hạn công dân có quyền và nghĩa vụ cơ bản được quy
định trong hiến pháp và pháp luật.
14
Lê Minh - chủ biên, Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển xã hội , Hà Nội, Nhà xuất bản
lao độn, 1994, tr. 88
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
13
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Theo tự điển tiếng Việt thì nghĩa vụ được hiểu là: “Một việc mà pháp
luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác ”.
Dưới góc độ pháp lý: nghĩa vụ là những hành vi mà một người phải
thực hiện vì một lợi ích của người khác. Có ba loại nghĩa vụ:
Nghĩa vụ theo phong tục, tập quán của địa phương quy định
Nghĩa vụ về đạo đức, nhân văn: nghĩa vụ đạo đức là ý thức trách
14
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
- Theo quan niệm truyền thống
, chung thuỷ có nghĩ a là chỉ có một bạn
tình duy nhất trên mọi phương diện tình cảm
, tình dục và tâm lý
- Trong tiếng việt chung thủy là: vẫn một lòng trước sau như một, vẫn
có tình cảm gắn bó không thay đổi. Như vậy, khái niệm chung thuỷ là khái
niệm rộng. Trong quan hệ vợ chồng thì chung thuỷ được hiểu là vợ chồng
phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương chỉ với nhau mà
thôi. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, những quan niệm về sự chung thuỷ của vợ
chồng cũng có sự khác nhau cơ bản.
Từ những khái niệm chung về nghĩa vụ được đề cập người có thể hiểu
về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng như sau: nghĩa vụ chung thủy của vợ
chồng là loại nghĩa vụ về đạo đức và nhân văn mang giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam và được nâng lên thành quy định của pháp luật.
(tuy nhiên pháp luật không quy định như thế nào là nghĩa vụ chung thủy của
vợ chồng). Tóm lại nghĩa vụ chung thủy được hiểu là: “Trong quan hệ giữa
vợ chồng thì nghĩa vụ chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung
tình, gắn bó tình cảm yêu thương về mặt tinh thần và thể xác chỉ với nhau
Từ hôn nhân đối ngẫu đến gia đình một vợ một chồng cổ điển, khái
niệm chung thuỷ đã bắt đầu được hình thành nhưng chỉ về phía người phụ
nữ: “Họ mong muốn ngày càng nồng nhiệt đạt được quyền giữ trinh tiết, kết
hôn nhất thời hay lâu dài chỉ với một người đàn ông và coi đó là sự giải
phóng. Bước tiến đó không thể nào lại do đàn ông mà có cả, chỉ vì đến tận
ngày nay không bao giờ đàn ông có ý muốn từ bỏ cái thú vui của chế độ
quần hôn thực sự cả… Trong giai đoạn này, một người đàn ông sống chung
với một người đàn bà, song việc có nhiều vợ và việc không chung tình khi có
dịp vẫn là quyền của người đàn ông… nhưng thông thường thì phụ nữ lại
phải triệt để chung tình trong thời gian chung sống với chồng, và tội ngoại
tình của họ sẽ bị trừng trị một cách tàn ác… Hôn nhân cặp đôi đã đưa vào
gia đình một yếu tố mới, bên cạnh người mẹ đẻ, chế độ đó đã đặt người bố,
người bố thật có lẽ còn thật hơn nhiều so với những người “bố” thời nay” . 17
Sang gia đình một vợ một chồng cổ điển “để đảm bảo sự trung thành
của người vợ, do đó, bảo đảm việc con cái đích thật là do người cha đẻ ra
người vợ phải phục tùng quyền lực tuyệt đối của người chồng, nếu người
chồng có giết vợ đi chăng nữa thì cũng chỉ là thực hành quyền của mình mà
thôi” 18
Như vậy, trong giai đoạn này, sự chung thuỷ chỉ được đặt ra đối với
người vợ và quan niệm này được duy trì khá lâu trong lịch sử phát triển của
thời đại.
1.3.1 Trong bộ luật nhà Lê
Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quan hệ hôn nhân và gia đình
ảnh hưởng nặng nề tư tưởng Nho giáo. Nho giáo trở thành tư tưởng thống trị
trong xã hội. Một trong những mối quan hệ cơ bản, quan trọng nhất trong xã
hội là quan hệ phu phụ (vợ chồng). Pháp luật nhà Lê đã quy định những
quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng như: Nghĩa vụ đồng cư, nghĩa vụ
phù trợ, nghĩa vụ trung thành và nghĩa vụ tòng phu.
Nghĩa vụ chung thuỷ đặt ra đối với người vợ và người chồng thì mang
Bộ Dân luật ngày 20/12/1972.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, quan niệm chỉ người phụ nữ mới phải thực
hiện nghĩa vụ chung thuỷ vẫn tồn tại và thể hiện rất rõ trong phong tục tập
quán cũng như pháp luật. Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa nam và
nữ, giữa vợ và chồng trong gia đình.
Ở miền Nam, trong thời kỳ dưới chế độ Việt Nam Cộng hoà thì quan
niệm này đã được thay đổi. Theo Luật gia đình ngày 02/01/1959, Sắc luật
ngày 13/7/1964, Bộ Dân luật ngyaf 20/12/1972, nghĩa vụ chung thuỷ có tính
chất bắt buộc đối với cả hai vợ chồng: “Vợ chồng phải lấy tình nghĩa thủy
chung mà đối đãi với nhau”; “Vợ chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau”.
Theo Luật Gia đình số 1/59 ngày 02/01/1959, chế tài đặt ra đối với
hành vi vi phạm nghĩa vụ này là rất chặt chẽ nhằm ngăn ngừa và trừng phạt
các hành vi ngoại tình, trong đó có hành vi “giao du thân mật” cũng bị coi là
tội phạm. Tại điều 73 của Luật Gia đình số 1/59 có quy định:“Chồng hay vợ
có quyền cấm người hôn phối không được giao du một cách quá thân mật
với người nào khác mà họ xét có hại cho sự chung thuỷ vợ chồng. Nếu mặc
dù có sự cấm đoán đó, người chồng hay người vợ cùng người tòng phạm tiếp
tục gặp gỡ nhau một mình một cách bất chính tại nơi công cộng hay không
công cộng và nếu sự vi phạm đó bị thừa phát lại hay viên chức hình cảnh
theo yêu cầu của người hôn phối kia lập vi bằng kiểm chứng hai lần trong
thời hạn một năm, người vi phạm và người tòng phạm có thể bị phạt tiền từ
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
17
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa tại các điều 38, 47, 63, 64 của hiến pháp.
Việc áp dụng luật hôn nhân và gia đình năm 1959, có một số điều
không phù hợp chẳng hạn như chưa thể hiện được đầy đủ ph ong tục tập quán
của miền Nam. Quá trình thi hành ở cả hai miền đã cho thấy một số quan hệ
mới cần phải được điều chỉnh, các nguyên tắc cơ bản cần được cụ thể hơn.
19
Xem: Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược giảng, Sài Gòn 1973, tr. 97.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
18
SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên
Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Việc ban hành Luật hôn nhân và gia đình mới là một tất yếu khách quan để
thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước. Ngày
25/12/1986, Hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) đã quyết định thành lập
ban dự thảo Luật hôn nhân gia đình mới: Dự luật đã được Quốc hội khóa
VII, kì họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986 và được Hội đ ồng nhà nước
công bố ngày 01/01/1987.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là sự kế thừa và phát triển của
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Nhiệm vụ của Luật được đặt ra là
nhằm tiếp tục xây dựng và cũng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và
phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ những tục lệ
lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, chống
lại sự ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản trong đó nhiệm vụ