ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ LAN ANH
HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
NĂM 2000 - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
điều chỉnh pháp luật 8
1.1.1 Khái niệm kết hôn, điều kiện kết hôn 8
1.1.2. Khái niệm kết hôn trái pháp luật 14
1.1.3. Khái niệm hủy việc kết hôn trái pháp luật 16
1.2. Điều chỉnh pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử 18
1.2.1. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong cổ luật
Việt Nam 18
1.2.2. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật thời kỳ
Pháp thuộc 20
1.2.3. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn
từ năm 1945 đến năm 1975 22
1.2.4. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn
từ năm 1975 đến nay 28
Chƣơng 2. NỘI DUNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 32
2.1. Nguyên tắc xử lý đối với hủy việc kết hôn trái pháp luật 32
2.2. Ngƣời có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật 34
2.2.1. Bên bị cƣỡng ép, bị lừa dối kết hôn 36
2.2.2. Viện kiểm sát 37
2.2.3. Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ 37
2.2.4. Vợ, chồng, cha, mẹ, con cái của các bên kết hôn 39
2.3. Thẩm quyền của Tòa án và thủ tục huỷ việc kết hôn trái pháp luật 41 2.4. Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật và đƣờng lối giải quyết đối với các
trƣờng hợp kết hôn trái pháp luật 44
2.4.1. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn 44
2.4.2. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện 51
2.4.3. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm các trƣờng hợp cấm kết hôn 55
hoá truyền thống dân tộc. Mục tiêu này đã đƣợc luật hoá trong các văn bản
pháp luật nói chung, đặc biệt là trong pháp luật Hôn nhân và gia đình. Luật
Hôn nhân và gia đình đã tạo hành lang pháp lý để điều chỉnh các quan hệ hôn
nhân và gia đình phát triển theo đúng hƣớng mà Nhà nƣớc đã đề ra. Kết hôn
là bƣớc khởi đầu để hình thành nên gia đình, vì vậy việc quy định các điều
kiện kết hôn là yêu cầu tất yếu của xã hội. Tuy nhiên, do tác động của nhiều
yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, việc không tuân thủ các điều kiện kết hôn vẫn
đang diễn ra hàng ngày trong đời sống gây nên hiện tƣợng kết hôn trái pháp
luật. Các trƣờng hợp kết hôn trái pháp luật đã có những tác động tiêu cực đến
các mặt của xã hội, ảnh hƣởng tới đạo đức, nhân cách, lối sống của con
ngƣời, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, ảnh hƣởng tới quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, ảnh hƣởng tới sức khoẻ và việc duy trì nòi giống của
dân tộc. Vì vậy, Nhà nƣớc ta đã điều chỉnh hiện tƣợng này bằng chế tài Huỷ
việc kết hôn trái pháp luật. Là chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình nên hậu
quả của huỷ việc kết hôn trái pháp luật là rất nặng nề, ảnh hƣởng tới cuộc
sống của chủ thể kết hôn, tới quyền lợi cuả con cái họ, quyền lợi của mọi
ngƣời và ảnh hƣởng tới trật tự xã hội. Do đó, nghiên cứu về vấn đề huỷ việc
kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình là vô cùng cần thiết.
Không chỉ nhằm giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật đƣợc hiệu quả, mà
quan trọng hơn đó là hoàn thiện hơn nữa chế tài này. Có nhƣ vậy ý nghĩa của
2
chế tài mới đƣợc phát huy, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đảm
bảo trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, dù là chế tài đã đƣợc quy định rất có hệ
thống, nhƣng thực tiễn xét xử cho thấy có rất ít trƣờng hợp hủy việc kết hôn
trái pháp luật. Thực trạng này phản ánh tính đặc thù của thi hành và áp dụng
pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung, áp dụng các quy định về hủy
việc kết hôn trái pháp luật nói riêng. Nhằm làm rõ hơn một số vấn đề lý luận
và thực tiễn của hủy việc việc kết hôn trái pháp luật, qua đó đề xuất những
luận cứ cho việc hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình mà cụ thể là
Thiện Hoàng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 14, tháng 7/2011; "Nên cấm kết
hôn giữa những người có họ trong phạm vi mấy đời?" của tác giả Ngô Cƣờng
trên Tạp chí Toà án nhân dân số 7, tháng 4/2013; "Thẩm quyền giải quyết yêu
cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật thuộc Toà án nào?" của tác giả Nguyễn
Thị Hƣơng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 20 tháng 10/2009; "Giải quyết
việc kết hôn trái pháp luật như thế nào trong vụ án thừa kế" của tác giả
Nguyễn Thị Hạnh trên Tạp chí Toà án nhân dân số 23 tháng 12/2011; "Kết
hôn - hậu quả pháp lý theo Luật Hôn nhân và gia đình" của tác giả Nguyễn
Quang Hiền trên Tạp chí Toà án nhân dân số 10, tháng 5/2013; "Hoàn thiện
quy định về các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000" cuả tác giả TS. Nguyễn Văn Cừ trên Tạp chí Toà án nhân dân số
24, tháng 12/2013…
Nhƣ vậy, có thể nhận thấy mỗi công trình nghiên cứu là sự khai thác
khác nhau, nhìn nhận vấn đề dƣới các góc độ khác nhau. Với công trình của
mình, tác giả tiếp cận vấn đề một cách tổng quan và đi sâu phân tích về lý
luận cũng nhƣ thực tiễn của huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Do đó, công trình
sẽ không phải là sự lặp lại của bất kỳ công trình nào trƣớc đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ khái niệm huỷ
việc kết hôn trái pháp luật, căn cứ và đƣờng lối giải quyết huỷ việc kết hôn
4
trái pháp luật. Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cũng nhƣ
các quy định pháp lý về vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Đồng thời,
phân tích, đánh giá, nhìn nhận thực trạng và xu hƣớng phát triển các quy
định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trên cơ sở đó đƣa ra các giải
pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật của Nhà nƣớc
về vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần phải giải quyết
đƣợc những nhiệm vụ cụ thể sau:
nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, tác giả còn sử dụng các phƣơng pháp bổ trợ
nhƣ phƣơng pháp so sánh, tổng hợp, đối chiếu, lịch sử để nhằm đánh giá vấn
đề một cách khách quan, toàn diện nhất. Trên cơ sở phƣơng pháp phân tích,
tổng hợp, đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh vấn
đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật, đặc biệt đánh giá, phân tích về thực trạng
pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề này, để rút ra những ƣu điểm, tồn tại
trong việc thi hành pháp luật, từ đó đề ra các giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi,
bổ sung và hoàn thiện pháp luật.
6. Những điểm mới của luận văn
So với những công trình nghiên cứu về hủy việc kết hôn trái pháp luật
trƣớc đây, luận văn có những điểm mới nhƣ sau:
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp
luật của quy định hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000.
- Luận văn nêu ra những hạn chế, vƣớng mắc trong quá trình thực
hiện áp dụng pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000.
- Luận văn đƣa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hủy việc
kết hôn trái pháp luật.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6
Với tƣ cách là một công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề hủy việc
kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000,
kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ mang lại những đóng góp về mặt khoa học
và thực tiễn.
* Ý nghĩa khoa học
- Luận văn phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp
luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000.
PHÁP LUẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN, KẾT HÔN TRÁI PHÁP
LUẬT VÀ VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT.
1.1.1 Khái niệm kết hôn, điều kiện kết hôn.
Sự kết hợp giữa ngƣời đàn ông và đàn bà là quy luật của tự nhiên.
Trong lịch sử phát triển của loài ngƣời, từ thời kỳ sơ khai, khái niệm kết hôn
chƣa hình thành, quan hệ giữa đàn ông và đàn bà là quan hệ tính giao bừa bãi,
nhằm thỏa mãn nhu cầu bản năng và duy trì nòi giống. Khi con ngƣời thoát
khỏi thời kỳ đồ đá, con ngƣời đã biết tổ chức cuộc sống dƣới hình thức thị
tộc, bộ lạc. Mỗi thị tộc, bộ lạc tự đặt ra các quy tắc nhằm điều chỉnh các mối
quan hệ trong tổ chức của mình và phù hợp với tổ chức chung của cộng đồng.
Khi đó, quan hệ giữa ngƣời đàn ông và đàn bà không chỉ mang tính bản năng
mà còn mang tính xã hội. Quan hệ đó chịu sự điều chỉnh bởi các tục lệ của thị
tộc, bộ lạc và hình thành trên cơ sở huyết thống. Khái niệm kết hôn đơn giản
chỉ là sự kết hợp rất tự nhiên của hai chủ thể nam - nữ, đƣợc xác lập trên cơ
sở chung sống thực tế. Việc kết hôn đƣợc coi là hợp pháp khi nó tuân thủ các
quy tắc đã đặt ra và đƣợc cả cộng đồng thừa nhận, cho phép.
Cùng với sự phát triển của kinh tế và sự xuất hiện chế độ tƣ hữu dẫn
đến sự ra đời của Nhà nƣớc, pháp luật đƣợc ban hành và trở thành công cụ
của giai cấp thống trị để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mỗi một giai đoạn
lịch sử, giai cấp thống trị điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật kết
hợp với phong tục tập quán, các quy định tôn giáo cho phù hợp với ý chí của
giai cấp mình nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp và nhằm ổn định trật tự
xã hội nói chung. Các quan hệ xã hội đƣợc pháp luật điều chỉnh phát triển
thành các quan hệ pháp luật. Các quy tắc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và
9
gia đình do nhà nƣớc ban hành hoặc thể chế hóa trở thành pháp luật hôn nhân
và gia đình. Thông qua Nhà nƣớc và pháp luật giai cấp thống trị tác động vào
quy định. Đó là việc cả hai bên cùng nhau thực hiện nghi thức đăng ký kết
hôn tại cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền.
Thứ hai: Việc kết hôn phải đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận. Việc kết hôn hay
không là phụ thuộc vào ý muốn của mỗi ngƣời, không pháp luật hay Nhà
nƣớc nào bắt buộc họ phải kết hôn. Nhƣng chủ thể khi kết hôn họ phải chịu
sự điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình. Ngoài việc phải tuân thủ
đầy đủ điều kiện kết hôn họ còn phải thực hiện theo hình thức do pháp luật
quy định, đó là việc đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn chính là hình thức
thể hiện sự thừa nhận và bảo hộ của Nhà nƣớc.
Có hai nghi thức kết hôn thƣờng đƣợc các nƣớc quy định là nghi thức
dân sự và nghi thức tôn giáo. Có những nƣớc chỉ thừa nhận nghi thức dân sự
nhƣ Pháp, Bỉ, Hà Lan Có những nƣớc chỉ thừa nhận nghi thức tôn giáo nhƣ
các quốc gia Hồi giáo. Có những nƣớc chấp nhận cả hai nghi thức và ngƣời
kết hôn có quyền lựa chọn một trong hai nghi thức khi kết hôn nhƣ Mỹ, Ý,
Thuỵ Điển Có những nƣớc buộc phải thực hiện lần lƣợt cả hai nghi thức
tôn giáo và dân sự nhƣ Vƣơng quốc Anh.
Ở Việt Nam thời hiện đại, pháp luật chỉ thừa nhận nghi thức dân sự, đó
là việc kết hôn phải đƣợc đăng ký tại cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền. Chỉ
khi nào nam nữ đăng ký kết hôn và đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền
đăng ký kết hôn công nhận bằng hình thức cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết
hôn thì họ mới đƣợc coi là vợ chồng và khi đó quan hệ của họ mới đƣợc Nhà
nƣớc thừa nhận và bảo hộ. Việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn
có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là biện pháp để Nhà nƣớc kiểm soát việc tuân
theo pháp luật của công dân trong việc kết hôn, đồng thời ngăn chặn những
hiện tƣợng kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp
luật. Đăng ký kết hôn còn là biện pháp bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho hai
11
bên nam nữ. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn có giá trị pháp lý quan trọng,
là chứng cứ viết xác nhận giữa hai bên nam nữ đã phát sinh và tồn tại quan hệ
thời cũng theo xu hƣớng chung, tính xã hội, tính nhân loại ngày càng thể hiện
rõ nét hơn, pháp luật là sự kết tinh của các giá trị truyền thống, văn hóa, đạo
đức dân tộc và tinh hoa nhân loại. Vì vậy, các điều kiện kết hôn cũng đƣợc
quy định phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán
và tự nhiên của mỗi quốc gia. Nội dung các điều kiện kết hôn cũng bị chi phối
bởi bản chất Nhà nƣớc và truyền thống dân tộc.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trên cơ sở kế thừa và phát triển
các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và
gia đình năm 1986 đã có những điều chỉnh và bổ sung đáng kể về điều kiện
kết hôn tại Điều 9 và Điều 10 nhƣ sau: Về tuổi kết hôn, nam từ 20 tuổi trở lên,
nữ từ 18 tuổi trở lên; Việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định không
bên nào đƣợc ép buộc, lừa dối bên nào, không ai đƣợc cƣỡng ép hoặc cản trở;
cấm ngƣời đang có vợ hoặc có chồng kết hôn hoặc chung sống nhƣ vợ chồng
với ngƣời khác; cấm ngƣời mất năng lực hành vi dân sự kết hôn; cấm kết hôn
giữa những ngƣời có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những ngƣời có họ
trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa những ngƣời đã
từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố
dƣợng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; cấm kết hôn giữa
những ngƣời cùng giới tính.
So với các đạo luật trƣớc, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã thể
hiện những điểm mới tiến bộ. Nhƣ, đã bỏ trƣờng hợp cấm kết hôn đối với
ngƣời đang mắc bệnh hoa liễu. Bởi sự phát triển của y học đã có phƣơng pháp
chữa trị căn bệnh này, việc bỏ điều kiện cấm kết hôn của ngƣời mắc bệnh hoa
liễu nhằm bảo vệ quyền kết hôn của công dân.
Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã thay cụm từ
“đang mắc bệnh tâm thần, không có khả năng nhận thức hành vi của mình”
13
cuả Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 bằng cụm từ “mất năng lực hành vi
dân sự”. Sự thay đổi này để bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với các quan hệ
luôn đƣợc đặt ra và có sự điều chỉnh cho phù hợp với mỗi kiểu Nhà nƣớc nhất
định. Điều kiện kết hôn là những quy định của pháp luật do Nhà nƣớc ban
hành buộc các chủ thể kết hôn phải tuân theo, đó là cơ sở xác định việc kết
hôn là hợp pháp hay trái pháp luật.
1.1.2. Khái niệm kết hôn trái pháp luật.
Từ khái niệm kết hôn và điều kiện kết hôn có thể thấy khi việc kết hôn
của hai bên nam nữ tuân thủ các điều kiện theo pháp luật quy định thì việc kết
hôn đó đƣợc coi là hợp pháp. Các trƣờng hợp kết hôn không thỏa mãn điều
kiện kết hôn thì đƣợc coi là kết hôn trái pháp luật. Theo khoản 3 Điều 8 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: "Kết hôn trái pháp luật là việc xác
lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhƣng vi phạm điều kiện kết hôn do
pháp luật quy định"[19]. Nhƣ vậy, chỉ coi là kết hôn trái pháp luật khi mang
hai dấu hiệu cần và đủ, đó là, vi phạm một trong các điều kiện kết hôn đƣợc
quy định tại Điều 9 và Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và có
đăng ký kết hôn. Dấu hiệu có đăng ký kết hôn là để phân biệt với trƣờng hợp
hai bên nam nữ chung sống nhƣ vợ chồng dù có tuân thủ các điều kiện kết hôn
hay không nhƣng không đăng ký kết hôn thì cũng không coi là kết hôn trái
pháp luật. Bởi, về mặt pháp lý trong quan hệ này các chủ thể chƣa thực hiện
hành vi kết hôn thì không thể coi sự vi phạm đó là kết hôn trái pháp luật đƣợc.
Tại Bản dự luật về ly hôn, Các Mác khẳng định: "Không ai bị buộc
phải kết hôn nhƣng ai cũng buộc phải tuân theo Luật Hôn nhân một khi ngƣời
đó kết hôn. Ngƣời kết hôn không sáng tạo ra hôn nhân, cũng nhƣ ngƣời bơi
lội không sáng tạo, không phát minh ra tự nhiên và những quy luật về nƣớc và
trọng lực. Vì thế, hôn nhân không thể phục tùng sự tuỳ tiện của ngƣời kết hôn
mà trái lại sự tuỳ tiện của ngƣời kết hôn phải phục tùng bản chất của hôn
nhân." [6]. Quyền kết hôn là quyền của mỗi con ngƣời, nhƣng khi kết hôn
15
thì họ phải tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật, phải tuân thủ các điều kiện
mà Nhà nƣớc quy định. Nếu vi phạm thì việc kết hôn của họ là trái pháp
Xuất phát từ hệ quả của việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu ngăn chặn,
xử lý và hạn chế kết hôn trái pháp luật là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to
lớn. Pháp luật quy định các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật gồm: huỷ
việc kết hôn trái pháp luật hoặc xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự. Tuỳ
từng trƣờng hợp cụ thể, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm,
chủ thể thực hiện mà áp dụng các biện pháp khác nhau. Tuy nhiên trong phạm
vi luận văn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Huỷ việc kết hôn trái pháp luật hay còn gọi là biện pháp tiêu hôn đƣợc
đề cập khá sớm trong lịch sử phát luật Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
tuy nhiên chƣa có văn bản pháp luật nào giải nghĩa "huỷ việc kết hôn trái
pháp luật".
Theo Từ điển Tiếng Việt, huỷ có nghĩa là làm cho không còn tồn tại
hoặc không có giá trị nữa [30]. Có thể hiểu huỷ việc kết hôn trái pháp luật là
biện pháp làm cho việc kết hôn trái pháp luật không còn tồn tại hoặc làm cho
việc kết hôn trái pháp luật không có giá trị nữa. Theo Từ điển giải thích thuật
ngữ Luật học của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội đã có sự giải thích khá đầy đủ:
"Huỷ việc kết hôn trái pháp luật đƣợc hiểu là biện pháp chế tài của Luật Hôn
nhân và gia đình đối với trƣờng hợp nam nữ kết hôn nhƣng không tuân thủ
đầy đủ các điều kiện đƣợc Luật Hôn nhân và gia đình quy định" [26]. Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 không có quy định nào giải thích cụm từ
“hủy việc kết hôn trái pháp luật” nhƣng tại Điều 16 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 quy định: "Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy
định tại Điều 15 của Luật này, Toà án xem xét và quyết định việc huỷ kết hôn
trái pháp luật và gửi bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc đăng
ký kết hôn. Căn cứ vào quyết định của Toà án, cơ quan đăng ký kết hôn xoá
17
đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn"[19]. Có thể thấy, hủy việc kết
hôn trái pháp luật là việc Tòa án theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức
đối với việc thực hiện không đúng các quy định pháp luật. Chế tài này thể
hiện sự không thừa nhận tính chất pháp lý của quan hệ mới phát sinh. Nhƣ
vậy, các chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi đối với hành vi vi
phạm của mình.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật mang tính chất linh hoạt và mềm dẻo.
Sự linh hoạt, mềm dẻo thể hiện trong nguyên tắc xử lý của Tòa án. Không
phải tất cả các trƣờng hợp kết hôn trái pháp luật Tòa án đều hủy, mà khi giải
quyết Tòa án phải căn cứ vào hoàn cảnh, mức độ vi phạm, hậu quả để quyết
định hủy hay không quan hệ đó.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng. Với tƣ cách
là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội đặc biệt quan trọng, do Nhà nƣớc
ban hành, xuất phát từ thực tiễn xã hội, pháp luật nƣớc ta tất yếu phải đƣợc
bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp chế tài. Biện pháp chế tài đƣợc áp
dụng đối với những ngƣời vi phạm pháp luật trên cơ sở kết hợp giáo dục,
thuyết phục, thu hút sự tham gia của xã hội vào cuộc đấu tranh phòng, chống
các vi phạm. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài với mục đích
xử lý những ngƣời có hành vi vi phạm thể hiện tính nghiêm minh của pháp
luật, tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần vào việc xây dựng chế độ hôn
nhân gia đình tự nguyện, tiến bộ, xây dựng gia đình mới xã hội chủ nghĩa, bảo
đảm thuần phong mỹ tục Việt Nam, đem lại hiệu quả điều chỉnh của pháp luật
trong đời sống xã hội. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp để loại bỏ
những mặt trái của pháp luật hôn nhân gia đình đồng thời có tác dụng ngăn
chặn hành vi vi phạm các quy định điều kiện kết hôn.
1.2. ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI
PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ.
1.2.1. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong cổ
19
luật Việt Nam.
Nhà nƣớc Việt Nam thời kỳ phong kiến với chế độ quân chủ, mọi
công nhận tính hợp pháp của việc kết hôn đó và cần phải tiêu hủy [32]. Điều
317 và Điều 323 quy định: các bên sẽ phải chia lìa hoặc phải ly dị khi vi
phạm vào các điều kiện quan trọng của việc xác lập hôn nhân [32]. Theo quy
định của hai bộ luật này, việc tiêu hủy chỉ có hiệu lực trong tƣơng lai mà
không có giá trị trở về trƣớc, tức là kể từ thời điểm kết hôn đến khi bị tiêu hủy
thì hôn nhân vẫn đƣợc coi là có giá trị pháp lý. Đây là điểm khác với pháp
luật hiện hành, pháp luật hiện hành không công nhận quan hệ vợ chồng kể từ
thời điểm kết hôn. Hậu quả pháp lý của việc tiêu hôn là các bên phải chia lìa
hoặc ly dị, tức là hậu quả pháp lý của việc tiêu hôn đƣợc giải quyết nhƣ
trƣờng hợp ly hôn trong pháp luật hiện hành.
Nhƣ vậy, có thể thấy trong cổ luật kết hôn bị coi là vô hiệu khi vi phạm
một trong các điều kiện cấm kết hôn. Tuy nhiên, không phải tất cả các trƣờng
hợp kết hôn vô hiệu đều bị tiêu hủy, chỉ những trƣờng hợp vi phạm nghiêm
trọng các điều kiện kết hôn mới bị tiêu hủy, còn những trƣờng hợp vi phạm
những điều kiện thƣờng thì không bị tiêu hủy mà đƣơng sự có thể phải chịu
những hình phạt nhất định. Hậu quả của việc tiêu hủy hôn nhân là buộc các
bên phải chấm dứt quan hệ chung sống. Hai bộ luật này thể hiện sự tiến bộ
trong việc bảo vệ quyền lợi của gia đình và sự ổn định của xã hội, thể hiện
những nét đặc thù mang đậm phong tục, tập quán của ngƣời Việt Nam. Pháp
luật hiện hành cũng là sự kế thừa có chặt lọc những tinh hoa đó.
1.2.2. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật thời kỳ Pháp
thuộc.
Thời kỳ Pháp thuộc là thời kỳ Việt Nam chịu sự cai trị của thực dân
Pháp, thực hiện chính sách "chia để trị" nên thực dân Pháp bắt tay với triều
đình nhà Nguyễn ký kết bản "Hiệp ƣớc hoà bình" ngày 25/8/1883, theo đó
nƣớc ta đƣợc chia làm ba miền: Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và
21
Trung Kỳ là xứ bảo hộ của Pháp. Dựa theo Bộ luật Dân sự của Cộng hòa
Pháp (1804), thực dân Pháp đã ban hành ba Bộ luật dân sự. Trong đó, tại Bắc