TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(Niên khóa: 2006-2010)
Đề tài:
NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG CỦA CHA MẸ ĐỐI VỚI
CON KHI LY HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN HÀNH
&
?
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
HUỲNH THỊ TRÚC GIANG
NGUYỄN THỊ THÚY
MSSV: 5062363
LỚP: LUẬT TƯ PHÁP 2 K32
Cần Thơ, tháng 04/2010
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU........................................................................................................1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG CỦA CHA MẸ
ĐỐI VỚI CON KHI LY HÔN ..............................................................................4
1.1 Tìm hiểu chung về quan hệ cấp dưỡng ........................................................... 4
2.2.3.3 Hình thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng........................................... 36
2.2.4 Chế tài trong việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng ..................................... 36
2.3 Những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của cha
mẹ đối với con khi ly hôn .................................................................................. 40
2.3.1 Thay đổi chế độ cấp dưỡng ...................................................................... 40
2.3.2 Cấp dưỡng bổ sung .................................................................................. 41
2.3.3 Tạm ngừng cấp dưỡng ............................................................................. 41
2.4 Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn ................ 42
CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐIỂM CÒN VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC ÁP DỤNG
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG CỦA CHA MẸ
ĐỐI VỚI CON KHI LY HÔN ............................................................................ 44
3.1 Một số vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về cấp dưỡng
cho con khi cha mẹ ly hôn ................................................................................. 44
3.1.1 Vấn đề thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly
hôn ................................................................................................................... 45
3.1.2 Vướng mắc về thời điểm kết thúc việc cấp dưỡng nuôi con ..................... 47
3.1.3 Vướng mắc trong vấn đề tạm ngừng cấp dưỡng nuôi con ........................ 48
3.1.4 Vấn đề liên quan đến thỏa thuận mức cấp dưỡng và ấn định mức cấp
dưỡng nuôi con ................................................................................................ 51
3.2 Những kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng
cho con khi cha, mẹ ly hôn ................................................................................ 55
3.2.1 Cách tính số tiền bồi thường cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn mà một
người bị tai nạn ................................................................................................ 57
3.2.2 Vấn đề cấp dưỡng giữa bố dượng hoặc mẹ kế cho con riêng của vợ hoặc
chồng ............................................................................................................... 59
3.2.3 Vấn đề về tổ chức, thực hiện và áp dụng pháp luật .................................. 59
KẾT LUẬN ..........................................................................................................61
cứu sâu và rộng hơn. Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn, mục đích của đề tài là
làm sáng tỏ các vấn đề về cấp dưỡng cho con trong trường hợp cha, mẹ ly hôn. Qua
đó, chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về
nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn để từ đó đưa ra một số kiến
nghị cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này. Tạo
cơ sở pháp lý cho các Tòa án cũng như những người có nhiệm vụ thực thi pháp luật
giải quyết vấn đề thực tiễn một cách có hiệu quả, giúp người dân có liên quan về việc
cấp dưỡng mạnh dạn nộp đơn yêu cầu cấp dưỡng để tự bảo vệ quyền và lợi ích của
mình một cách thích đáng và đặc biệt giúp người viết có kiến thức pháp luật vững
chắc hơn về vấn đề này.
Xuất phát từ mục đích trên mà đề tài có nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu những vấn đề chung về cấp dưỡng làm rõ các vấn đề về cấp dưỡng
cho con khi cha, mẹ ly hôn, tập trung vào những quy định tiến bộ của luật hiện hành
so với những văn bản pháp luật trước đó. Qua đó, khẳng định vai trò và ý nghĩa của
quan hệ này trong lý luận và thực tiễn.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn, đề tài còn phân tích một
số hạn chế, vướng mắc còn tồn tại trong quá trình vận hành và áp dụng pháp luật về
cấp dưỡng cho con trong trường hợp cha mẹ ly hôn, từ đó trình bày hướng hoàn thiện
thông qua việc đưa ra các kiến nghị cụ thể.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Do thời gian quá ngắn, vấn đề cấp dưỡng được nhiều người nghiên cứu ở
nhiều góc độ khác nhau, trong khuôn khổ khóa luận với khả năng còn hạn chế, người
viết không đề cập tất cả các vấn đề liên quan đến quan hệ cấp dưỡng mà đề tài chủ
yếu xoay quanh các vấn đề về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn,
tập trung vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của con chung và
những vấn đề đảm bảo thực hiện nghĩa vụ này trên thực tế.
Qua đó đưa ra các phân tích, đánh giá nhằm góp phần xây dựng đề tài khoa
học và hoàn thiện pháp luật về cấp dưỡng.
người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến xây dựng từ giáo viên hướng dẫn,
quý thầy cô, bạn bè để người viết hoàn thành tốt luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
3
SVTH: Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG CỦA CHA MẸ
ĐỐI VỚI CON KHI LY HÔN
1.1 Tìm hiểu chung về quan hệ cấp dưỡng
1.1.1 Khái niệm cấp dưỡng
Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, lần đầu tiên các quan hệ cấp
dưỡng giữa các thành viên trong gia đình được điều chỉnh tương đối toàn diện và các
quy phạm điều chỉnh quan hệ cấp dưỡng được quy định thành một chương độc lập
của đạo luật.
Trước đây, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và năm 1986 chỉ điều chỉnh
quan hệ cấp dưỡng giữa các bên đã từng là vợ chồng sau khi ly hôn có bên lâm vào
tình trạng túng thiếu. Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Khi ly
hôn, nếu bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng
của mình…”. Việc cấp dưỡng của cha mẹ đối với con được quy định dưới hình thức
“đóng góp phí tổn nuôi dưỡng” (chia sẻ phí tổn nuôi dưỡng) chứ không gọi đích danh
là cấp dưỡng. Việc cấp dưỡng giữa anh, chị, em trong gia đình, giữa ông bà và cháu
+ Quan hệ huyết thống: cha, mẹ (đẻ) với con (đẻ); ông, bà (nội, ngoại) với cháu;
anh chị em ruột (bất kể trong giá thú hay ngoài giá thú).
+ Quan hệ nuôi dưỡng: cha mẹ nuôi với con nuôi.
Tuy nhiên, nghĩa vụ cấp dưỡng bao giờ cũng là loại quan hệ có điều kiện, tức là
không phải cứ các bên có một trong ba mối quan hệ kể trên là đương nhiên giữa các
bên tồn tại nghĩa vụ cấp dưỡng mà chỉ trong những trường hợp cụ thể thì mới phát
sinh nghĩa vụ cấp dưỡng. Cụ thể là:
- Người chưa thành niên;
- Người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự
nuôi mình hoặc là người gặp khó khăn túng thiếu.
1.1.2 Các mối quan hệ cấp dưỡng cụ thể
Trong gia đình nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa
anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại với cháu, giữa vợ và chồng
1.1.2.1 Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và năm 1986 đều chưa quy định rõ nghĩa
vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy
định một cách cụ thể về nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ.
Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ chỉ đặt ra khi có đủ hai điều kiện
sau đây:
Thứ nhất, con đã thành niên và không sống chung với cha mẹ.
Việc cấp dưỡng của con đối với cha mẹ không đặt ra đối với mọi người con,
mà chỉ những người đã thành niên. Nếu người con chưa thành niên, dù có tài sản
riêng, có thu nhập cao (chẳng hạn, đứa con này là một lập trình viên hoặc một diễn
viên nổi tiếng…), thì người con này cũng không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
theo quy định của pháp luật.
Hơn nữa, nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ đặt ra đối với người con không sống chung
với cha mẹ. Nếu như người con đã thành niên hiện đang sống chung với cha mẹ thì
vấn đề thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đương nhiên là không đặt ra. Vì trong quan hệ
giữa người con này với cha mẹ là nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc, chỉ khi người con
Thứ hai, điều kiện đối với cha mẹ người được cấp dưỡng (em).
+ Cha mẹ không còn, hoặc:
+ Cha mẹ còn nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản
để cấp dưỡng cho con.
Như vậy, pháp luật đã khẳng định nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng người chưa
thành niên hoặc người đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản
để tự nuôi sống mình trước hết thuộc về cha mẹ. Chỉ trong trường hợp cha mẹ không
còn hoặc cha mẹ còn, nhưng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình, thì
nghĩa vụ đó mới thuộc về các anh chị trong gia đình.
Thứ ba, điều kiện đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng (anh, chị): là người đã
thành niên và không sống chung với em. Trong trường hợp người đang nuôi dưỡng
đứa em có khả năng nuôi dưỡng thì đây vẫn không phải là điều kiện miễn trừ nghĩa
vụ cấp dưỡng đối với những người anh, chị khác.
1
Bình luận khoa học Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000. Bộ Tư Pháp, Viện Khoa Học Pháp Lý. Đinh Thị Mai
Phương (chủ biên) – NXB Chính trị Hà Nội – 2004.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
6
SVTH: Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam
Người em có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh, chị của mình khi đầy đủ các
điều kiện sau đây:
Bình luận khoa học Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000. Bộ Tư Pháp, Viện Khoa Học Pháp Lý. Đinh Thị Mai
Phương (chủ biên) – NXB Chính trị Hà Nội – 2004.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
7
SVTH: Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam
Tương tự nghĩa vụ cấp dưỡng của cháu đối với ông, bà cũng được đặt ra khi
đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, điều kiện đối với người cấp dưỡng (cháu): đã thành niên và không
sống chung với ông, bà nội, ông bà ngoại.
Thứ hai, ông, bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi
mình và không có người khác cấp dưỡng (không còn con hoặc có con nhưng con
không có khả năng lao động, không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng). Quy
định này thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta.
1.1.2.4 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn
Vấn đề cấp dưỡng giữa vợ và chồng đã được quy định trong Luật hôn nhân và
gia đình năm 1959 (Điều 30) và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 (Điều 43). Hai
điều luật này quy định giống nhau là:
“Khi ly hôn, nếu một bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp
dưỡng tùy theo khả năng của mình.
Khoản cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng do hai bên thỏa thuận; trường hợp
hai bên không thỏa thuận với nhau được thì Tòa án nhân dân sẽ quyết định. Khi
người được cấp dưỡng lấy vợ, chồng khác, thì sẽ không được cấp dưỡng nữa”.
không phát sinh.
Có thể thấy, khác với những trường hợp cấp dưỡng khác, việc cấp dưỡng giữa
vợ chồng đã ly hôn mang tính mềm dẻo và ít cưỡng chế hơn. Điều này thể hiện ở
việc: Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không quy định về việc xác định phương
thức và mức cấp dưỡng mà do người cấp dưỡng tự quyết định theo khả năng của
mình.
1.2 Khái niệm và đặc điểm về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với
con khi ly hôn
1.2.1 Khái niệm
Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình hình thành từ quan hệ hôn nhân,
huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Xuất phát từ những quan hệ đó, mà giữa các thành viên
trong gia đình có sự gắn bó chặt chẽ, sâu sắc về tình cảm trách nhiệm đối với nhau.
Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình, đòi hỏi giữa các thành viên trong gia
đình phải có sự chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Sự chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau giữa các
thành viên trong gia đình tồn tại một cách tự nhiên như là một nhu cầu tất yếu về mặt
tình cảm và đạo đức.
Khi nhà nước và pháp luật xuất hiện, quan hệ giữa các thành viên trong gia
đình được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật, trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung của
nhà nước, của giai cấp cầm quyền. Sự chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên
trong gia đình không chỉ là yêu cầu về đạo đức mà còn là nghĩa vụ về pháp lý được
pháp luật quy định.
Theo Điều 64 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “cha mẹ có trách nhiệm nuôi
dạy con thành những công dân tốt. Cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông,
bà, cha mẹ”.
Việc chăm sóc nuôi dưỡng lẫn nhau vừa là quyền vừa là trách nhiệm của các
thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, không phải lúc nào nghĩa vụ nuôi dưỡng cũng
thực hiện được. Trong những hoàn cảnh nhất định, người có nghĩa vụ nuôi dưỡng có
thể không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng như họ phải đi công tác xa, bị
bệnh nặng kéo dài, phải chấp hành hình phạt tù hay trong trường hợp ly hôn. Để đảm
thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có
khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Cũng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 17 khoản 2: “Trong
trường hợp việc kết hôn giữa cha mẹ bị hủy, thì quyền lợi của con được giải quyết
như trong trường hợp cha mẹ ly hôn”. Bởi vậy, việc kết hôn bị hủy, người không trực
tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động,
không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra, khi cha
mẹ ly hôn thì con đã thành thai trong thời kỳ hôn nhân và sinh ra sau khi hôn nhân
chấm dứt mà còn sống cũng được cấp dưỡng.
1.2.2 Đặc điểm của nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn
Qua sự phân tích khái niệm của nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con
khi ly hôn ta có thể thấy nghĩa vụ cấp dưỡng này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn phát sinh
trên cơ sở quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Quan hệ huyết thống đó là quan hệ
giữa cha, mẹ (đẻ) với con (đẻ), còn quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa cha mẹ nuôi
với con nuôi.
4
Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Ts Luật học Nguyễn Ngọc Điện, NXB Trẻ TPHCM.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
10
SVTH: Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam
Tính nhân thân thể hiện ở chỗ “không thể chuyển giao” của nghĩa vụ này, nếu
như một người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác thì không thể chuyển giao
nghĩa vụ này cho người thứ ba cấp dưỡng thay cho mình, ngay cả người được cấp
5
Giáo trình Luật HN&GĐ Việt Nam – Trường ĐH Luật Hà Nội. NXB CAND Hà Nội – 2006.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
11
SVTH: Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam
dưỡng cũng không được chuyển giao quyền của mình cho người khác. Ví dụ: cha
hoặc mẹ cấp dưỡng cho con khi ly hôn thì người con này không được chuyển giao
quyền nhận cấp dưỡng cho bạn của mình.
Tính nhân thân của nghĩa vụ cấp dưỡng còn thể hiện ở đặc điểm “không thể
thay thế” của nghĩa vụ này. Điều này có nghĩa bên có nghĩa vụ cấp dưỡng không thể
cam kết sẽ dùng nghĩa vụ khác để thay thế, bù trừ nghĩa vụ cấp dưỡng.
Tính không thể chuyển giao và không thể thay thế của nghĩa vụ cấp dưỡng
được ghi nhận tại Điều 385 và 387 Bộ luật dân sự 1995 về việc không thể chấm dứt
nghĩa vụ cấp dưỡng bằng việc thay thế nghĩa vụ khác và không thể bù trừ nghĩa vụ
trong trường hợp nghĩa vụ định bù trừ là nghĩa vụ cấp dưỡng. Còn ở Bộ luật dân sự
2005 thì nghĩa vụ cấp dưỡng không thể được thay thế và không thể được bù trừ bằng
nghĩa vụ khác được ghi nhận tại Điều 379 và Điều 381. Điều 379 quy định chấm dứt
nghĩa vụ dân sự được thay thế bằng nghĩa vụ khác tại khoản 3: “Trong trường hợp
nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng,
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam
chỉ phát sinh khi người cần được cấp dưỡng rơi vào trường hợp là người chưa thành
niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự
nuôi mình như trường hợp nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn.
Trong gia đình, cha mẹ có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con của
mình. Quyền và nghĩa vụ này không chỉ xuất phát từ phương diện đạo đức mà còn
được pháp luật quy định. Nếu như cha, mẹ cố tình không thực hiện nghĩa vụ nuôi
dưỡng thì quyền và lợi ích của con sẽ bị ảnh hưởng, cuộc sống của người con đó sẽ bị
đe dọa do không nhận được sự chu cấp đầy đủ. Do vậy, nhất thiết cần phải đặt ra
nghĩa vụ cấp dưỡng. Trong thực tế, không chỉ do người có nghĩa vụ nuôi dưỡng
nhưng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng thì nghĩa vụ cấp dưỡng mới phát sinh.
Mà chỉ khi người đó có sự thiếu hụt vật chất, làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống
của họ thì nghĩa vụ cấp dưỡng mới được đặt ra. Điều này biểu hiện ở chỗ người đó
gặp khó khăn túng thiếu hay không có khả năng lao động và không có tài sản để tự
nuôi mình. Trong quan hệ cấp dưỡng này, chủ thể không chỉ là thành viên trong gia
đình mà còn phải thỏa những điều kiện nhất định về tuổi, tình trạng nhân thân, tài
sản,… Chẳng hạn trường hợp con được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn. Về nguyên tắc,
con chưa thành niên luôn được hưởng trợ cấp. Trong trường hợp con đã thành niên
mà bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì
nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được đặt ra.
1.3 Phân biệt nghĩa vụ cấp dưỡng và nghĩa vụ nuôi dưỡng
Pháp luật Việt Nam đã có những quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng và nghĩa vụ
nuôi dưỡng. Xét dưới góc độ luật học thì hai nghĩa vụ này có mối quan hệ với nhau.
Xuất phát từ mối quan hệ với nhau đó mà trong những điều kiện nhất định hai nghĩa
vụ này có thể thay thế cho nhau và cũng chính điều đó khiến cho nhiều người nhầm
lẫn cấp dưỡng là nuôi dưỡng và nuôi dưỡng là cấp dưỡng 7.
Chúng ta cũng biết nghĩa vụ cấp dưỡng và nghĩa vụ nuôi dưỡng có cùng chủ
điều luật. Trong từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ học, nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh thì nuôi là cho ăn uống chăm sóc để duy trì và phát triển sự
sống, chăm sóc để cho tồn tại và cho phát triển. Còn dưỡng là tạo điều kiện, thường
bằng cách cung cấp những thứ cần thiết giúp cho (cơ thể yếu ớt) có thể duy trì và phát
triển tốt hơn.
Xét về nội dung, nghĩa vụ nuôi dưỡng có phạm vi rộng hơn cấp dưỡng. Nuôi
dưỡng là quan hệ mang nhiều tính chất tự nhiên, đạo đức nên cha, mẹ, con… phải
nuôi dưỡng lẫn nhau bằng tất cả những khả năng của mình có thể. Trong quan hệ
nuôi dưỡng thì người được nuôi dưỡng và người có nghĩa vụ nuôi dưỡng sống trong
cảnh “đói cùng chịu, no cùng hưởng” không lệ thuộc vào các điều kiện khác. Ví dụ:
cha, mẹ dù có khó khăn, túng thiếu cũng nuôi dưỡng con cái của mình. Còn nghĩa vụ
cấp dưỡng phải xét đến nhu cầu thiết yếu của người được nuôi dưỡng, khả năng kinh
tế của người cấp dưỡng,… Chẳng hạn, nghĩa vụ nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con ở
phạm vi rộng, cha mẹ nuôi con tức là phải chu cấp cho con, đáp ứng các nhu cầu thiết
yếu của con trong việc ăn, mặc, học, khám chữa bệnh,…Trong khi nghĩa vụ cấp
dưỡng chỉ được đặt ra trong trường hợp khi cha mẹ ly hôn thì người cha hoặc người
mẹ không sống chung với con hay nói cách khác là người không trực tiếp nuôi con
chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, phải thực hiện cấp dưỡng
cho con; con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho
cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Để phân biệt hai nghĩa vụ này còn phải dựa vào yếu tố quan trọng là không
gian giữa chủ thể của quan hệ cấp dưỡng và quan hệ nuôi dưỡng. Luật hôn nhân và
gia đình quy định khi người có quan hệ nuôi dưỡng không cùng chung sống với nhau
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
14
SVTH: Nguyễn Thị Thúy
thì quan hệ giữa họ là quan hệ cấp dưỡng. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp dù
sống chung một nhà, dù có quỹ tiêu dùng chung nhưng người có nghĩa vụ nuôi dưỡng
lại không quan tâm đến người được nuôi dưỡng. Ví dụ: Vợ hoặc chồng ở xa không
đóng góp thu nhập vào khối tài sản chung để đảm bảo nuôi con. Lúc này nghĩa vụ
nuôi dưỡng được chuyển thành nghĩa vụ cấp dưỡng. Điều 50 khoản 2 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 quy định: “Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng
8
Ths. Ngô Thị Hường bài “Mối quan hệ giữa nghĩa vụ cấp dưỡng và nghĩa vụ nuôi dưỡng trong Luật hôn nhân
và gia đình “Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 4/2005
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
15
SVTH: Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam
mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định
của Luật này”.
Từ sự phân tích trên, có thể thấy rằng ranh giới để xác định đâu là nghĩa vụ
cấp dưỡng đâu là nghĩa vụ nuôi dưỡng thật khó. Tuy vậy, không phải vì khó mà
chúng ta có thể đánh đồng cấp dưỡng và nuôi dưỡng. Cần phải xác định khi nào thì
nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh, khi nào thì nghĩa vụ nuôi dưỡng phát sinh để đảm bảo
quyền lợi cho các chủ thể trong quan hệ đó. Đặc biệt, là những chủ thể chưa thành
niên, hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi, không có khả năng lao động
và không có tài sản để tự nuôi mình.
16
SVTH: Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam
hiền con hiếu làm đầu. Làm cha mẹ người ta, phải cấp dưỡng cho cơm áo, không nên
vì đứa con một buổi sớm dỗi không ăn, mà cha mẹ giận đổ bỏ đi.”.10 Nhìn lại pháp
luật dưới thời Lê cũng như pháp luật thời phong kiến cho thấy chỉ duy nhất điều răn
trên là nói về nghĩa vụ của cha mẹ nuôi nấng con cái.
Trong Quốc triều hình luật có sự ảnh hưởng rất lớn của thuyết Nhân trị nên đã
có đan xen giữa đạo đức và pháp luật. Quy định của pháp luật cũng là quy tắc đạo
đức. Cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng con; con phụng dưỡng cha mẹ là một nghĩa vụ về
đạo đức.
Dưới triều Nguyễn, nhà Nguyễn rất coi trọng pháp luật. Bộ Hoàng Việt luật lệ
được ban bố vào năm 1815 và được soạn thảo với tinh thần đề cao quyền uy của vua
và triều đình, nội dung chủ yếu là hình luật và hình phạt được quy định hết sức hà
khắc. Ngay trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng được luật quy định
dưới các điều khoản về hình luật. Tại quyển 16 về hình luật, trong mục 15 quy định
về tội con cháu vi phạm lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ: con cháu vi phạm lời dạy
bảo của ông bà, cha mẹ hoặc phụng dưỡng mà cố ý làm thiếu xót thì phạt 100 trượng.
Có thể nói rằng đây là thời kỳ suy thoái của nền pháp lý nước ta và những quy định
của bộ Hoàng Việt luật lệ. Vì lẽ đó mà quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa vợ chồng,
giữa cha mẹ và con và giữa các thành viên trong đại gia đình vẫn được ứng xử như
thuần phong mỹ tục.
Như vậy, pháp luật thời phong kiến đã đặc biệt quan tâm đến nghĩa vụ phụng
dưỡng của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Pháp luật thời kỳ này quy định nghĩa vụ
nuôi dưỡng mà không quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con. Bởi vì,
về gia đình nói chung và quan hệ về cấp dưỡng nói riêng chủ yếu là dựa vào các quy
định của Bộ dân luật Bắc kỳ năm 1931 và Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936.
Pháp luật thời kỳ này quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ và con, giữa vợ
và chồng và giữa các thành viên trong gia đình một cách rõ nét hơn so với pháp luật ở
thời phong kiến. Trong quan hệ giữa cha mẹ và con, pháp luật quy định cha mẹ có
nghĩa vụ nuôi nấng, cưu mang con. Điều đó được thể hiện trong quy định về nghĩa vụ
của vợ chồng tại Điều 91 Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộ dân luật Trung kỳ: “vợ chồng
phải cùng nhau làm cho gia đình hưng thịnh và lo toan việc nuôi nấng dạy dỗ con
cái”. Xuất phát từ nghĩa vụ nuôi nấng con mà trong đó đã chứa đựng nghĩa vụ cấp
dưỡng cho con.
Tóm lại, pháp luật trước Cách mạng tháng Tám đã quy định các thành viên
trong gia đình có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau. Mặc dù, chưa có sự phân biệt rõ ràng
giữa nghĩa vụ cấp dưỡng và nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng trong từng hoàn cảnh khác
nhau đã cho ta thấy rõ nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định và tồn tài song song với
nghĩa vụ nuôi dưỡng. Do vậy, ở thời kỳ này án lệ được áp dụng khá rộng rãi trong
quá trình giải quyết các quan hệ về hôn nhân và gia đình. Vấn đề cấp dưỡng giữa cha
mẹ và con bên cạnh việc áp dụng các quy định của pháp luật còn có sự vận dụng hợp
lý các phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam.
1.4.2 Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con trong hệ thống pháp luật
Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
Cách mạng tháng Tám thành công đã giải phóng dân tộc Việt Nam nói chung
và phụ nữ nói riêng ra khỏi ách thống trị hết sức hà khắc và đối xử thậm tệ của chế độ
thực dân phong kiến, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhà nước và gia đình
Việt Nam. Tuy nhiên, sau cách mạng tháng Tám nhà nước ta chưa ban hành đạo luật
cụ thể nào về hôn nhân và gia đình. Đến ngày 10 tháng 10 năm 1945 Sắc lệnh 90-SL
của Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được ban hành, theo tinh thần của
Sắc lệnh 90-SL thì những quy định về nghĩa vụ phụng dưỡng của con cái đối với ông
bà, cha mẹ và nghĩa vụ nuôi dưỡng của ông bà, cha mẹ đối với con cháu trong pháp
luật phong kiến vẫn được kế thừa.
đồng nhất với nghĩa vụ nuôi dưỡng của ông bà, cha mẹ đối với con và nghĩa vụ
phụng dưỡng của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Điều 17 quy định: “Cha mẹ có
nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái. Con cái có nghĩa vụ kính yêu, săn
sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 còn nhắc đến vấn đề
đóng góp phí tổn nuôi con khi vợ chồng ly hôn tại Điều 32 và 33. Tại Điều 32 quy
định: “Khi ly hôn, việc giao cho ai trông nom, nuôi nấng và giáo dục con chưa thành
niên, phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặc của con cái. Về nguyên tắc, con còn bú
phải do mẹ phụ trách. Người không giữ con vẫn có quyền thăm nom, săn sóc con.
Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và giáo dục con,
mỗi người tùy theo khả năng của mình. Vì lợi ích của con cái, khi cần thiết có thể
thay đổi việc nuôi giữ và việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng, giáo dục con cái”. Và
theo Điều 33 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì: “Việc trông nom nuôi
nấng và giáo dục con cái, việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng và giáo dục con cái sẽ
do hai bên thỏa thuận biểu quyết.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
19
SVTH: Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam
Trường hợp hai bên không thỏa thuận với nhau được hoặc trong sự thỏa thuận
xét thấy có chỗ không hợp lý, thì Tòa án nhân dân sẽ quyết định”.
Sau năm 1975 đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa
xã hội. Đến năm 1980 Hiến pháp chính thức được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng
12 năm 1980 đã quy định chế độ chính trị, kinh tế văn hóa - xã hội; quyền nghĩa vụ
cơ bản của công dân đồng thời các Điều 38, 47, 63, 64 đã quy định các nguyên tắc
20
SVTH: Nguyễn Thị Thúy