ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ HÀ
THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI QUA
TÁC PHẨM “ QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”
VÀ “ QUỐC ÂM THI TẬP”
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
6 quyển – X
HÀ NỘI – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ HÀ
THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI QUA
TÁC PHẨM “ QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”
VÀ “ QUỐC ÂM THI TẬP”
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
6 quyển – XB 16
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Hạnh
HÀ NỘI – 2014
người và con người. Thế giới quan bao gồm những nguyên tắc, quan điểm,
niềm tin, khái niệm, biểu tượng về toàn bộ thế giới, sự vật, hiện tượng, những
quy luật chung, là sự chỉ dẫn phương hướng hoạt động của con người.
Trong triết học phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, vấn đề
vũ trụ quan, nhân sinh quan có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng nặng về
vấn đề nhân sinh quan, xã hội quan hơn là các vấn đề về tự nhiên và các hình
thức của tư duy. Mục đích của thế giới quan triết học phương Đông nói chung
và triết học Việt Nam nói riêng là xây dựng lý lẽ cho chính trị - xã hội và luân
lý nhằm giáo dục đạo đức cho con người.
Ở Việt Nam, tư tưởng về thế giới quan được hình thành rất sớm tuy
chưa mang tính hệ thống song các nhà tư tưởng đã đưa ra những quan niệm sơ
khai về thế giới quan như quan niệm của Lý Thường Kiệt, Lý Công Uẩn…
Và đến Nguyễn Trãi (1380 - 1442), tư tưởng về thế giới quan đã được hình
thành một cách rõ nét, và hệ thống. Bởi thông qua thế giới quan của mình,
Nguyễn Trãi đã phản ánh được tương đối hoàn chỉnh hiện trạng xã hội Đại
1
Việt cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV. Ngoài ra, thế giới quan của Nguyễn
Trãi còn mang lại những bài học giá trị về: cách xử thế của con người với tự
nhiên, về đạo thông qua mối quan hệ giữa con người với con người. Tuy
nhiên, tính đến thời điểm hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thế
giới quan của Nguyễn Trãi, do đó chúng tôi quyết định chọn hai tác phẩm
“Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập” trong di sản của Nguyễn Trãi
làm đề tài nghiên cứu, bởi trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy ẩn
đằng sau những tư tưởng thiên mệnh, con người, đạo đức …đó chính là lòng
yêu nước, thương dân, là nỗi niềm đau đáu được ra giúp dân, giúp đời của
Nguyễn Trãi từ lúc ông còn trẻ đến lúc tuổi già. Đó là nhân cách cao quý của
một con người vĩ đại.
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thế giới quan của Nguyễn
của dân tộc.
- Loại công trình thứ ba là những nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp
của Nguyễn Trãi.
+ Nhóm thứ nhất là tổng tập, tuyển tập thơ văn của Nguyễn Trãi được
sưu tầm, phiên âm và chú giải: Quốc âm thi tập (Trần Văn Giáp và Phạm
Trọng Điền phiên âm và chú giải, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1956); Nguyễn
Trãi toàn tập (Nxb Khoa hoc xã hội, Hà Nội, 1976) ; Nguyễn Trãi toàn tập,
Tân biên tập1; 2, (Nxb Văn hóa, 2000). Trong luận văn của mình, chúng tôi
sử dụng bản Nguyễn Trãi toàn tập (Nxb Khoa hoc xã hội, Hà Nội, 1976) để
nghiên cứu thế giới quan của Nguyễn Trãi.
+ Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp
của Nguyễn Trãi: Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi: nhân kỉ
niệm 520 năm ngày Nguyễn Trãi mất (của nhiều nhà nghiên cứu, Nxb Khoa
học, Hà Nội, 1963). Đây là những bài viết, những nhận định sâu sắc về
Nguyễn Trãi nhân kỷ niệm 520 năm ngày mất của ông – người anh hùng dân
3
tộc, nhà quân sự lỗi lạc thông qua thơ văn của ông; Văn chương Nguyễn Trãi
(Bùi Văn Nguyên, Nxb Đại học và trung cấp chuyên nghiệp, Hà Nội, 1984);
Kỉ niệm sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi (của Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên
Giáp..., Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982). Đây là tập kỷ yếu của hội thảo
khoa học nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, gồm các bài
viết, tham luận của các giáo sư, tiến sĩ, nhà khoa học... đọc tại hội thảo, trong
đó có rất nhiều đánh giá xác đáng về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của
Nguyễn Trãi; Sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi (của nhiều tác giả, Nxb thành
phố mới hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, 1980); Tư tưởng Nguyễn Trãi trong
tiến trình lịch sử Việt Nam (Võ Xuân Đàn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội,
1996). Công trình này đưa đến một cái nhìn khái quát về tiến trình lịch sử
Việt Nam và vị trí, vai trò của Nguyễn Trãi; Nguyễn Trãi cuộc đời và sự
Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp
văn thơ và tư tưởng của Nguyễn Trãi, rất ít công trình nghiên cứu chuyên về
tư tưởng thế giới quan của Nguyễn Trãi. Vì vậy, trên cơ sơ kế thừa và phát
triển những thành quả của các nhà nghiên cứu trước đó, nhưng do điều kiện
hạn chế, nên chúng tôi chỉ nghiên cứu thế giới quan của Nguyễn Trãi qua tác
phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập”.
3. Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích: Phân tích, làm rõ nội dung thế giới quan trong tư tưởng
Nguyễn Trãi thông qua hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm
thi tập”, từ đó đưa ra đánh giá về thế giới quan của Nguyễn Trãi.
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu điều kiện, tiền đề hình thành thế giới quan của Nguyễn
Trãi.
- Phân tích nội dung các quan niệm trong thế giới quan của Nguyễn
Trãi.
5
- Đưa ra một số giá trị về thế giới quan của Nguyễn Trãi
4. Cơ sở lí luận và phạm vi nghiên cứu
* Cơ sở lí luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận Mácxít để nghiên
cứu những quan điểm, quan niệm trong thế giới quan của Nguyễn Trãi.
* Phạm vi nghiên cứu: trong luận văn của mình, chúng tôi nghiên cứu
thế giới quan của Nguyễn Trãi thông quan hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh
tập” và “Quốc âm thi tập”.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu của khoa học xã
hội, phương pháp Logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp… để
hoàn thành nhiệm vụ mà luận văn đặt ra.
mùa, nạn đói thường xuyên xảy ra, đời sống nhân dân ngày càng cực khổ.
Theo tài liệu sử học ghi chép: nạn đói thường xuyên diễn ra, đặc biệt vào
những năm 1358; 1362; 1370; 1375, “chết đói nhiều nơi, triều đình phải kêu
gọi nhà giàu, các phủ nộp thóc để chuẩn cứu dân nghèo”. Ngô Thì Sĩ phải thốt
lên rằng “Mười năm năm đã sáu lần nhật thực, ba lần thủy tai, ba lần hạn hán,
một lần sâu cắn lúa, lại luôn năm mất mùa đói kém. Đến đây từ mùa xuân đến
mùa thu nào là núi lở, nào là động đất, không tháng nào không có tai biến”.
[15; 284].
Về chính trị - xã hội, tầng lớp quý tộc nhà Trần từ vua cho đến vương
hầu, quan lại sa vào ăn chơi sa đọa, chỉ lo bóc lột, vơ vét của nhân dân để
sống xa hoa, phóng túng. Trong khi đó, nông dân bị bóc lột tô thuế, lao dịch
7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Bộ giáo dục và đào tạo (2011), Giáo trình những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia.
2.
Bộ giáo dục và đào tạo (1988), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, NXB
Sự thật.
3.
Nguyễn Văn Bình (1998), “Nhân cách nhà Nho trong con người Nguyễn
Trãi”, Tạp chí Triết học ,số 4 (104), tr. 28 – 30.
Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
10. Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (1982), Nguyễn Trãi người anh hùng
dân tộc vĩ đại nhà văn hóa kiệt xuất, Nxb Sự thật, Hà Nội.
8
11. Chu Hy (Đoàn Trung Còn dịch) (1950), Luận ngữ, NXB Trí Đức, Sài
Gòn
12. Chu Hy (Đoàn Trung Còn dịch) (1950), Mạnh Tử, NXB Trí Đức, Sài
Gòn.
13. Hồ Sỹ Hiệp (1997), Nguyễn Trãi, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
14. HV quốc gia Hồ Chí Minh, Viện KHCT (2000); Tập bài giảng chính trị
học, NXB CT QG, Hà Nội
15. Nguyễn Hùng Hậu (2010), Đại cương triết học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
16. Nguyễn Duy Hinh (2008), Mấy đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, Tạp
chí Nghiên cứu Tôn giáo 8.
17. Trần Đình Hượu (2000), Nguyễn Trãi và Nho giáo, Nguyễn Trãi và văn
hóa Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
18. Kỉ niệm sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi (1980), Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
19. Vũ Khiêu (1995), Nho giáo và gia đình, NXb Khoa học xã hội, Hà Nội.
20. Ngô Sỹ Liên (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb Văn hóa –
Thông tin.
21. Lê Thị Lan (1998), “Thử tìm hiểu ảnh hưởng tư tưởng Lão – Trang trong thơ
chữ Hán của Nguyễn Trãi”, Tạp chí Triết học, số 4 (104), tr. 31 – 33.
22. Trần Huy Liệu (1958), Nguyễn Trãi nhà văn học và chính trị thiên tài,
Nxb Văn Sử Địa.
10
37. Nguyễn Đăng Thục (1997), Lịch sử tư tưởng triết học phương Đông, t1,
Nxb thành phố Hồ Chí Minh.
38. Nguyễn Đăng Thục (1997), Lịch sử tư tưởng triết học phương Đông, t2,
Nxb thành phố Hồ Chí Minh.
39. Trình Di, Trình Hạo, Nhị trình di thư, quyển 2
40. Khổng Tử (Nguyễn Đức Lân dịch) (1998), Tứ thư tập chú, Trung dung,
c. 24, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
41. Tuân Tử (Nguyễn Hiến Lê dịch) (1992), Tuân Tử, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội
42. Từ điển Triết học Nga (chủ biên: Rodentan) (1976), Nxb Sự thật 1976.
43. Trường Đại học Quốc gia Lômônôxốp (Trần Nguyên Việt dịch) (2004),
Triết học, hỏi và đáp, Nxb Đà Nẵng 2004
44. Trần Nguyên Việt (2002), Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong
“Quân trung từ mệnh tập”, Tạp chí Triết học, số 8.
45. Trần Nguyên Việt (2005), “Mối quan hệ tam giáo trong tư tưởng
Nguyễn Trãi”, Tạp chí Triết học, số 7 (170), tr. 23 – 29.
46. Trần Nguyên Việt (2007), “Về quyết định của Nguyễn Trãi trong quan
hệ với Thiền Phật giáo”, Tạp chí Triết học, số 9 (195), tr. 35 – 39.
47. Trần Quốc Vượng (1960), Việt Sử Lược, NXB Văn – Sử - Địa, Hà Nội
48. Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện triết học (1993), Lịch sử tư tưởng
Việt Nam , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập1.
49. Viện văn học (1977), Thơ văn Lý – Trần (t1), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
50. Viện văn học (1989), Thơ văn Lý – Trần (t2), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
51. Viện văn học (1978), Thơ văn Lý – Trần, t3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
11