1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Chiến tranh, cho đến nay, vẫn là một đề tài lớn, mang tầm vóc nhân
loại. Trong nền văn học thế giới cũng nh văn học Việt Nam xuất hiện nhiều
tác phẩm đồ sộ viết về đề tài chiến tranh nh Iliade, Odissée của Homere; bộ
tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình của Tolstoi; Và gần hơn, trong
Chuông nguyện hồn ai của Hemingway, Cái trống thiếc của Gunter Grass
(tác phẩm văn học Đức đạt giải Nobel năm 1999) và một số tác phẩm khác,
ở Việt Nam, vẫn là đề tài có tính thời sự vì nó gắn liền với số phận đau thơng
của dân tộc, Chiến tranh là nỗi ám ảnh, một vết thơng rỉ máu, khó lành,
Đặc biệt, đề tài hậu chiến đã có sức hút, sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với những
nhà văn mặc áo lính. Cùng với những tên tuổi khác nh Chu Lai, Dơng
Hớng, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phơng, Bảo Ninh đã
góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi
mới. Trong rất nhiều tên tuổi ấy, Bảo Ninh đợc đánh giá là "cây bút quan
trọng góp phần làm nên cuộc cách mạng nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam" [5,
tr. 238]. Ông đợc xem là một tài năng lớn của nền Văn học Việt Nam hiện
đại. Nhà văn cho ra đời hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng nh Thời của xe
máy; Bi kịch con khỉ hay trớc nữa; Không đâu vào đâu; hay đó là tập
truyện Chuyện xa kết đi, đợc cha? Nổi bật hơn cả là sự ra đời của tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh (ban đầu có tên gọi là Thân phận tình yêu).
Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một tác phẩm có số phận
đặc biệt. Xuất bản lần đầu tiên năm 1990 với tiêu đề do các biên tập viên Nhà
xuất bản Hội nhà văn lựa chọn trao giải- Thân phận tình yêu. Một năm sau
đó, cuốn sách đã đợc tái bản lại với tiêu đề của chính tác giả-Nỗi buồn chiến
tranh và đợc trao giải thởng của Hội nhà văn. Nhng sau đó 10 năm, tác
hơn lại cho rằng Nỗi buồn chiến tranh "vợt lên trên tất cả những tác phẩm
văn xuôi của Mĩ đã viết về cuộc chiến Việt Nam"[38].
3
Tờ Independent, một trong những nhật báo có uy tín của nớc Anh đã
nhận xét về cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh: "Vợt ra ngoài sức tởng tợng
của ngời Mĩ, Nỗi buồn chiến tranh đi ra từ chiến tranh Việt Nam đã đứng
ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại của thế kỉ, Mặt trận phía
Tây vẫn yên tĩnh của Êrích Maria Rơmáccơ [ ] Một cuốn sách viết về sự
mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn một thành quả
lao động tuyệt đẹp"[38].
Nhận xét của Dennis Mansker, thành viên của Hội cựu chiến binh Việt
Nam chống chiến tranh: "Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến
kinh ngạc về bi kịch của một ngời lính Bắc Việt bị tê liệt hết nhân tính của
mình sau mời năm tham chiến. Đã đến lúc thế giới phải thức tỉnh trớc nỗi
đau mang tính phổ quát của những ngời lính ở mọi bên xung đột"[38].
Hay đó là nhận xét của nhà báo Anh The Guardian: "Một cuốn tiểu
thuyết không thể đặt xuống. Bất kỳ nhà chính trị nào hoặc nhà hoạch định
cuộc sống nào của Mĩ cũng cần nên đọc cuốn sách này. Nó lẽ ra phải đợc
giải Pulitzer, nhng đã không đợc. Nó quá hấp dẫn để xứng đáng đợc thế
"[38].
Đặc biệt hơn nữa, đó là ý kiến của Leif A. Torkelsen (Columbus, OH
United States) khi ông cho đây là cuốn tiểu thuyết chiến tranh hay nhất thế kỷ
XX. Torkelsen viết: "Đây là một tác phẩm ngoại hạng so với tất cả các tác
phẩm khác cùng lĩnh vực. Liên quan đến văn học chiến tranh thì chỉ có Phía
tây không có gì là lạ may ra có thể so sánh đợc. Bảo Ninh đã viết nên bản
tụng ca đẹp đẽ đầy ám ảnh về sự trong trắng bị mất đi trong dòng xoáy chiến
tranh. Tuổi trẻ, tình yêu và nghệ thuật đều đợc mô tả kỹ lỡng dới ánh sáng
chơng" [56]. Nhà văn Nguyên Ngọc thì nhận xét: "Đây là một cuốn sách
nghiền ngẫm về hiện thực tác giả với t cách là ngời trong cuộc, không
đứng ngoài, đứng trên, nhìn ngắm, mà đứng trong, thậm chí ở tận đáy cuộc
chiến tranh" [56]. Nguyễn Phan Hách thì lại không tiếc lời khen ngợi: "Nỗi
5
buồn chiến tranh là một tác phẩm văn chơng đích thực, văn đẹp lắm, cực
đẹp lắm, chi tiết tuyệt vời gây ấn tợng không thể nào quên. Những chi tiết gợi
bóng dáng một tác phẩm lớn" [56].
Tác giả Lê Quang Trang lại khẳng định: "Tác giả cố gắng là ngời
không chịu đi trên lối mòn. Có sử dụng kết hợp giữa tính huyền thoại và chân
thực. Thi pháp đồng hiện sử dụng có hiệu quả nối liền hiện thực và quá khứ;
kí ức xa và gần; ý thức và vô thức. Tất cả thông qua dòng ý thức của Kiên làm
nên số phận các nhân vật" [56].
Bên cạnh những ý kiến đánh giá cao thành tựu của tác phẩm, trong
phạm vi cuộc tranh luận này cũng còn rất nhiều ý kiến cha tán đồng hoặc
phủ nhận giá trị của tác phẩm. Từ Sơn cho rằng: "Âm hởng của tác phẩm còn
đậm chất bi, âm hởng hùng còn bị chìm lấp đâu đó, cha tạo nên đầy đủ nét
bi hùng của một thời đại đã qua"[56]. Còn Vũ Quần Phơng lại viết: "Anh
đánh mất hào khí rất đẹp của những năm tháng ấy" và "có cảm giác tác giả
có điều gì đó không hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có chỗ cực đoan. Đọc
những chi tiết khủng khiếp, đay nghiến, ta thấy tác giả ác"[56]. Nhà văn Hồ
Phơng vừa khẳng định "đây là một cuốn sách viết về chiến tranh", nhng
cũng lại cho rằng: "càng đọc về cuối càng có cảm giác cộm lên: tác giả đã
dần đánh mất khá nhiều sự chân thật, trong suốt, hết sức tự nhiên của mình.
Bàn tay tác giả mỗi lúc một lộ ra trong mọi việc, mọi ngời. Sự cờng điệu
cũng lộ ra càng đậm nét", còn cái nhìn của nhà văn về chiến tranh "Sao khá
tối tăm thê thảm. Dờng nh chỉ thấy có chết chóc và khổ cực. Dờng nh chỉ
Ninh", PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp khẳng định: "Bảo Ninh không chỉ chú ý
đến chuyện mà ông rất quan tâm đến kĩ thuật dựng truyện ở Việt Nam cũng
từng có một số nhà văn miêu tả dòng ý thức của các nhân vật một cách khá
tinh tế nh Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nhng với những cây bút
này, kĩ thuật dòng ý thức chỉ tồn tại nh một thủ pháp nghệ thuật có tính cục
bộ. Phải đến Nỗi buồn chiến tranh thì kĩ thuật dòng ý thức đợc vận dụng
7
triệt để trở thành nguyên tắc nghệ thuật chi phối cách tổ chức kết cấu của tác
phẩm" [48, tr.401].
Đặc biệt phải kể đến nhận xét của Nguyễn Quang Thiều về tác phẩm:
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh chinh phục đợc bạn đọc nhiều nớc
trên thế giới trớc hết vì Nỗi buồn chiến tranh đã chạm vào mẫu số chung
của nhân loại- đó là câu chuyện của thân phận, của mất mát, của tình yêu và
chiến tranh, chỉ có những tác phẩm nh vậy mới thực sự đợc đón nhận và
chia sẻ(TT và VH số ra ngày 28-10-2006). Về mặt nghệ thuật, Nguyên Ngọc
nhận xét: "đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới" [5, tr.177]. Hay đó
là bài viết của T.S Nguyễn Thị Mai Liên về Hình tợng con ngời- nạn nhân
chiến tranh trong hai tiểu thuyết: Một nỗi đau riêng và Nỗi buồn chiến
tranh", trong cuốn Văn học Việt Nam sau năm 1975- Những vấn đề nghiên
cứu và giảng dạy. Trong bài viết này, cùng với nhân vật Điểu trong tác phẩm
Một nỗi đau riêng của Y.Kaoabata thì Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh dị
dạng nhân tình, tha hóa nhân tính và nhân tình, đặc biệt đó còn là những khắc
khoải về một xứ sở bình yên nhng không trốn chạy thực tại.
Bên cạnh đó, ý kiến của Th.S Phạm Xuân Thạch trong bài viết Nỗi
buồn chiến tranh- viết về chiến tranh thời hậu chiến- Từ chủ nghĩa anh hùng
đến nhu cầu đổi mới bút pháp, nhấn mạnh: "Riêng Bảo Ninh, anh đã đẩy
khuynh hớng nghệ thuật của nhân vật đi trớc đến một chiều kích mới. Anh
truyện thông thờng của nhà văn nh nhiều ngời lầm tởng mà đó là sự sáng
tạo nghệ thuật với kĩ thuật độc đáo của tác giả.
2. Mục đích nghiên cứu:
2.1. Nghiên cứu một số đặc điểm t duy tiểu thuyết của Bảo Ninh.
2.2. Khẳng định tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh không
phải là một cuốn tự truyện mà là một sáng tạo nghệ thuật của tác giả. 9
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trong công trình này, chúng tôi cố gắng vận dụng lý thuyết về tự sự và
đặc biệt là thể loại tiểu thuyết trên cơ sở các tài liệu đã xuất bản để chỉ rõ
những cách tân đổi mới cũng nh khẳng định tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh không phải là một cuốn tự truyện mà là một sáng tạo nghệ thuật
của tác giả.
Trên cơ sở đó, Luận văn của chúng tôi tiến hành phân tích, khái quát,
đánh giá cả những thành công và hạn chế trong tác phẩm của Bảo Ninh. Qua
đó thấy rõ hơn những đóng góp của ông đối với nền Văn học Việt Nam hiện
đại viết về đề tài chiến tranh giai đoạn sau năm 1975.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tợng nghiên cứu:
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu chủ yếu tác phẩm Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh (In lần đầu tiên năm 1987 lấy tên là Thân phận tình yêu,
năm 1991 đổi tên là Nỗi buồn chiến tranh, và đến năm 2006 đợc tái bản với
nhan đề trở thành nổi tiếng Nỗi buồn chiến tranh).
Trong quá trình nghiên cứu, khi cần thiết chúng tôi có liên hệ với các
sáng tác khác của nhà văn Bảo Ninh và một số tác phẩm của các nhà văn khác
không yếu tố tự truyện trong cuốn tiểu thuyết.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng kết hợp liên hệ với nhà văn
để có thêm nguồn t liệu, làm sáng tỏ một số đặc điểm t duy tiểu thuyết của
Bảo Ninh qua tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh và khẳng định lại một lần nữa
tác phẩm không phải là một cuốn tự truyện nh nhiều ngời lầm tởng mà là
một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của tác giả.
6. Đóng góp của đề tài:
6.1. Luận văn nghiên cứu về Một số đặc điểm t duy tiểu thuyết của một
tác giả lớn trong nền Văn học Việt Nam hiện đại viết về đề tài chiến tranh giai
đoạn sau năm 1975. Luận văn chỉ ra một số đặc điểm t duy tiểu thuyết của
Bảo Ninh qua tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh nhằm xem xét lại các quan
điểm trớc đó cho rằng tác phẩm là một cuốn tự truyện của nhà văn và khẳng
11
định Nỗi buồn chiến tranh không phải là một cuốn tự truyện. Từ đó chỉ ra
những đóng góp mới mẻ của Bảo Ninh trong đề tài hậu chiến.
6.2. Nghiên cứu Một số đặc điểm t duy tiểu thuyết của Bảo Ninh,
chúng tôi sẽ góp thêm một cách nhìn mới về chân dung những ngời lính thời
hậu chiến và qua đó thấy đợc tài năng của Bảo Ninh.
6.3. Đề tài của chúng tôi cũng là gợi ý cho những hớng nghiên cứu
tiếp theo về một tác phẩm có số phận chìm nổi này.
những thành tựu và giới hạn của nền văn học hiện đại trớc hiện thực vĩ đại
của dân tộc. Trong giai đoạn này, xuất hiện nhiều tác phẩm nổi tiếng nh Phố,
Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Thời xa vắng của Lê Lựu, nổi bật trong số đó
là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Tác phẩm đem đến cho
bạn đọc cái nhìn mới về ngời lính thời hậu chiến. Đằng sau tấm huân chơng
còn là những dằn vặt, đau khổ ngời lính phải chịu đựng khi chiến tranh qua
đi. Trong Nỗi buồn chiến tranh, ngời lính không đợc nhìn nhận nh những
vĩ nhân mà văn học giai đoạn trớc năm 1975 đã thể hiện, ở đây, ngời lính
mang đặc điểm của con ngời thực. Đây là điểm khác biệt và tiến bộ của tiểu
thuyết trớc và sau năm 1975.
Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm tiểu thuyết viết về chiến tranh trớc và sau
năm 1975 giúp chúng ta thấy đợc sự chuyển mình của nền văn học Việt Nam
nói chung và thể loại tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh nói riêng.
13
1.1. Tiểu thuyết viết về chiến tranh trớc năm 1975
Dân tộc ta luôn phải đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành lại nền
hoà bình, độc lập, chính vì thế, chiến tranh và ngời lính là đề tài muôn thủa
trong văn học Việt Nam. Đặc biệt, từ đầu thế kỷ XX đến trớc năm 1975, cả
dân tộc phải đơng đầu với hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc là chống
Pháp và chống Mĩ. Văn học phải gánh vác một trọng trách nặng nề mà cả dân
tộc giao phó: tuyên truyền, cổ vũ cho chiến đấu. Nhà văn nguyện làm ngời
th ký trung thành của thời đại, bao quát và tái hiện một bức tranh hiện thực
rộng lớn. Nếu nh văn học giai đoạn 1930- 1945 là mảng hiện thực gắn liền
với những mảnh đời bé nhỏ, những số phận bất hạnh, những mộng tởng cá
nhân thì văn học giai đoạn sau là hiện thực chiến trờng kéo dài từ Bắc tới
Còn Thiêm trong Mẫn và tôi của Phan Tứ lại hiểu rằng loài ngời đang đánh
lấn đế quốc từng bụi tre, những lời đẹp nhất dành cho ngời anh hùng có
những chiến công oanh liệt. Họ là "thứ thép đợc luyện lửa nhiều rồi, đem đúc
súng hay rèn lỡi cày đều ăn chịu cả" [81, tr. 647]. Đông, Quỳnh- những
chiến sĩ lái máy bay đẹp đẽ, trẻ trung đã xông lên bầu trời đối mặt với kẻ thù
và chiến đấu với sức mạnh của toàn dân tộc trong Vùng trời của Hữu Mai. Họ
ra trận chiến đấu với tinh thần anh dũng, quyết chiến quyết thắng. Dù bị kẻ
thù treo lơ lửng trên cây dừa, chị Sứ vẫn tự nhủ: "Bữa nay, có lẽ mình chết.
Những chỉ thấy tiếc chớ không ân hận mắc mớ gì cả Tới phút này đối với
Đảng, mình vẫn y nguyên, nh chị Minh Khai, nh Võ Thị Sáu nên từ phút
này trở đi, mình cũng phải giữ đợc nh vậy" [63, tr. 166]. Cuộc chiến đã
đánh thức tất cả mọi ngời ý thức đợc khẳng định mình trong hành động xả
thân vì nớc, mỗi ngời dân đều là những anh hùng trong chiến đấu và trong
lao động sản xuất. Vì vậy, các nhân vật thờng đợc lý tởng hoá một chiều.
Ngời đọc ít gặp những trăn trở đời thờng trong tâm hồn họ, họ rất ít khi
buồn, không biết đến cô đơn, vì mọi cảm xúc đều gắn với vận mệnh của dân
tộc. Những chiều kích mới của con ngời luôn luôn đợc phát hiện trong
những hoàn cảnh nghiệt ngã của chiến tranh. Con ngời tợng trng cho đất
nớc, mang vóc dáng đất nớc đã trở thành hình tợng nghệ thuật phổ biến
trong các sáng tác văn học. Con ngời trong tiểu thuyết thời kỳ này là con
15
ngời của ý chí, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhiều tác phẩm đã đặt
con ngời trớc sự lựa chọn nghiệt ngã của sự sống và cái chết để khẳng định
ý nghĩa cao cả của sự hy sinh. Có những tiểu thuyết mà ngay cả tiêu đề cũng
mang ý nghĩa biểu tợng nh: Hòn đất, Đất Quảng, Rừng U Minh, Dấu chân
ngời lính, Những con ngời đại diện cho một vùng đất, vùng trời, mang
chất thơ và chất lãng mạn. Anh Phi trong Vùng trời của Hữu Mai ngồi trong
máy bay mà vẫn nhận thấy thiên nhiên thật huyền diệu, bởi trên đầu anh có
một trời sao và dới chân anh cũng là một trời sao của đất nớc. Còn nhân vật
Thiêm trong Mẫn và tôi của Phan Tứ thì lại thổ lộ: "Bỗng dng tôi bắt gặp
một bông hoa vui đang nở ngập ngừng trong tôi, toả hơng quen xông đầu tôi
lịm dần. Tôi nhận ra rồi. Nó là niềm vui đợc đánh giặc" [81, tr. 93]. Con
ngời gắn liền cái riêng với cái chung, hoà mình vào cái chung của dân tộc.
Khi cuộc chiến tranh chống Mĩ kết thúc bằng thắng lợi rực rỡ. D âm
còn vang mãi cho tới nhiều năm sau và cho đến hôm nay. Tiểu thuyết viết về
chiến tranh giai đoạn trớc năm 1975, đã phản ánh kịp thời, nhanh nhạy, động
viên cuộc chiến đấu của dân tộc. Các tiểu thuyết gia đã tái hiện bức tranh hiện
thực một cách sâu sắc, từ đó ngời đọc hình dung cuộc kháng chiến vừa gay
go, vừa quyết liệt của dân tộc. Con ngời đợc khám phá không phải từ khía
cạnh cá nhân mà là con ngời tập thể, con ngời anh hùng với những chuẩn
mực đạo đức xã hội chủ nghĩa. Tiểu thuyết giai đoạn này đã làm tròn nhiệm
vụ của mình, góp phần to lớn vào chiến lợc xây dựng con ngời mới và tăng
sức mạnh tinh thần động viên cổ vũ dân tộc suốt chặng đờng chống giặc
ngoại xâm. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt toàn bộ giai đoạn sáng tác này là
cảm hứng sử thi, là âm hởng hào hùng, ngợi ca. Đó là những thành tựu quan
trọng mà tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh giai đoạn này đã đạt đợc. Bên
cạnh đó, vẫn còn khá nhiều vấn đề hết sức quan trọng đang là những chỗ yếu
của tiểu thuyết. Vì một nền văn học, nhất là thể loại tiểu thuyết vốn đợc xem
là "bách khoa toàn th" của cuộc sống phát triển trong điều kiện chiến tranh
ác liệt kéo dài sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế tất yếu. Nhận định của
Đảng trong th giử Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ t (1968) đã đánh giá
chính xác tình hình sáng tác lúc đó và đúng cả với thời điểm sau của cuộc
17
18
nền văn học Việt Nam cũng có một hớng đi mới, đặc biệt ở thể loại tiểu
thuyết viết về đề tài chiến tranh. Các nhà văn có cái nhìn khách quan, sâu sắc
hơn về hiện thực cuộc chiến tranh đã qua và cách thể hiện con ngời cũng
khác. Tại Hội thảo 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám khi
trình bày "Mấy suy nghĩ về mảng văn học chiến tranh cách mạng", Xuân
Thiều đã nhận định: "Sự quan tâm của phần lớn các nhà văn viết về chiến
tranh là âm vang chiến tranh, nghĩa là viết về số phận con ngời thời kỳ hậu
chiến mà chiến tranh dù đã qua đi vẫn để lại những dấu ấn khó quên, chiến
tranh đã đa đẩy họ tới những nẻo đờng bất ngờ, ở đấy có niềm vui, nỗi
buồn, có tình yêu thơng và lòng căm thù, có lòng dũng cảm và tính đớn hèn,
có lòng trung thành và những phút giây dao động" [16, tr. 140]. Cũng trong
Hội thảo này, Xuân Thiều đã đa ra nhận xét: "đã có nét mới trong cách nhìn
nhận đánh giá hiện thực trong chiến tranh trung thực hơn, mạnh dạn hơn"
[16, tr. 145]. Cùng quan điểm đó, Hồ Phơng cũng nhận định rằng nhiều tác
giả hôm nay: "không né tránh tất cả sự tàn khốc của chiến tranh. Viết về
những nội dung tàn khốc ấy, các tác giả có ớc muốn qua đó có thể làm rõ
hơn, sống động hơn sức chịu đựng, lòng hy sinh của con ngời, cũng nh làm
cho cái giá và ý nghĩa của chiến thắng đợc thấy rõ hơn (). Viết về sự tàn
khốc của chiến tranh là điều cần phải làm, nhng viết nh thế nào để không
làm mờ mất tính chất của cuộc kháng chiến ấy, để cuối cùng ngời đọc có thể
chỉ thấy toàn chuyện chết chóc, ghê sợ và muốn chối bỏ" [16, tr. 153]. Nếu
nh tiểu thuyết giai đoạn trớc chỉ tập trung miêu tả những gì liên quan đến
vận mệnh của dân tộc, mang đậm cảm hứng sử thi thì ở giai đoạn sau đã có sự
thay đổi rõ ràng. Tiểu thuyết đi từ chủ nghĩa thực dân đậm đà chất lãng mạn
cách mạng và cảm hứng sử thi sang chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo, ngời lính
đợc phản ánh từ nhiều bình diện, trong nhiều mối quan hệ của đời sống. Khía
nắm bắt những diễn biến tâm lý sâu xa trong con ngời một cách toàn diện,
thấu đáo và triệt để hơn. Đến tiểu thuyết Sao đổi ngôi, Chu Văn đã đặt ra
hàng loạt các vấn đề sau chiến tranh, đó là những tệ nạn xã hội mới nảy sinh:
tham ô, ngoắc ngoặc, chè chén, thoái hoá biến chất, quan liêu, những hủ tục
20
lạc hậu, thật giả lẫn lộn, những hợp tác xã "chia quyền chức nh chia thịt",
và cuộc chiến tranh của ngời lính thời hậu chiến mới là cuộc chiến tranh âm
thầm, dai dẳng, khắc nghiệt nhất. Hơn nữa, nhà văn còn quan tâm đến số phận
của nữ chiến sĩ- Liễu là nữ công binh xinh đẹp và anh hùng. Chiến tranh qua
đi, tuổi xuân và nhan sắc đã giử lại nơi chiến trờng, trở về bơ vơ, lạc lõng và
kiệt quệ giữa đời thờng. Nếu nh trong chiến tranh Liễu đã hy sinh hạnh
phúc cá nhân của mình một cách nhẹ nhàng, thanh thản bao nhiêu thì trong
thời bình, cô trở nên hoài nghi, chán nản, bất lực bấy nhiêu. Phải chăng, chiến
tranh đã khiến cho con ngời mất khả năng hoà nhập với cuộc sống đời
thờng? Hay cuộc sống thời hậu chiến qua nhiều phức tạp và nan giải khiến
con ngời không thích nghi kịp? Và Liễu là nhân vật mở đầu cho kiểu nhân
vật lạc thời trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Đây là điểm mới so với các
tác phẩm tiểu thuyết thời kỳ trớc năm 1975. Khía cạnh cá nhân con ngời
đợc đề cập mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Sự đổi mới thực sự diễn ra mạnh mẽ và
sâu sắc kể từ năm 1986, với Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đa các văn
nghệ sĩ nhìn nhận lại, đánh giá một cách khách quan cuộc chiến tranh đã đi
qua. Khi chiến tranh đã lùi về quá khứ, cuộc sống trở lại với những quy luật
bình thờng, con ngời trở về với muôn mặt đời thờng, biết bao vấn đề mới
nảy sinh và ý thức cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ. Văn học nói chung và thể loại
tiểu thuyết nói riêng sẽ có nhiều đề tài, chủ đề mới. Cảm hứng thế sự sẽ thay
dần cảm hứng sử thi. Đối với văn học thời kỳ đổi mới, một mặt con ngời vẫn
đấu gian khổ, Đông luôn là niềm tự hào của mọi ngời. Còn trong thời bình,
Đông trở thành một ông cán bộ về hu lời nhác, tự thoả mãn về mình. T
tởng hởng thụ của Đông cũng là t tởng hởng thụ của một bộ phận không
nhỏ những ngời lính vừa mới rút mình ra khỏi chốn bom đạn sinh tử khó
lờng. Có thể thấy điều này trong phát ngôn của Ba Thành: "Đạo là tạm, đời
mới là muôn. Cái Tạm đó tao đã sống hết mình, tao không nuối tiếc, bây giờ
còn mời năm ở đời, tao phải lo sống cho cái Muôn" [72, tr. 125]. Đông đã tự
đặt mình ra khỏi những biến động của cuộc sống đời thờng, tách biệt, xa vời
với cuộc sống hôm nay. Đó là bi kịch của con ngời thời hậu chiến.
22
Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, khảo sát văn học các
nớc tham chiến, các nhà nghiên cứu nhận xét rằng, con ngời trong văn học
Nga đi ra từ chiến tranh mà phơi phới niềm vui chiến thắng, con ngời trong
văn học Đức thì tràn ngập tội lỗi, còn con ngời trong văn học Phơng Tây thì
mang những chấn thơng nặng nề về mặt tinh thần, trở thành một thế hệ bị
huỷ hoại, một thế hệ "vứt đi" Tất cả đợc xây dựng trên quan điểm khẳng
định chiến tranh chính nghĩa, phê phán chiến tranh phi nghĩa và văn học Việt
Nam cũng vậy. Những tiểu thuyết viết về chiến tranh trong suốt hơn nửa thế
kỷ qua đã góp phần to lớn cổ vũ cho cuộc chiến tranh của dân tộc. Sự hiện
diện của chiến tranh ở bề mặt khốc liệt nhất đã lùi xa, nhng lại trở nên âm
thầm, giằng xé hơn ở nơi thẳm sâu nhất của lòng ngời. Chiến tranh không
bao giờ mất đi trong kí ức dân tộc mặc dù chúng ta đang sống trong những
ngày tháng rực rỡ ánh sáng hoà bình. Sự thật về chiến tranh đã đợc nhìn nhận
lại là một sự thật trải qua những năm tháng day dứt, trăn trở trong tâm hồn nhà
văn, hơn thế, nó thực sự là những nếm trải của ngời trong cuộc. Tiểu thuyết
chiến tranh dần đi tới một quan niệm toàn vẹn, sâu sắc hơn về con ngời và
thực khiến chị trởng thành dần và đứng vững trớc mọi khó khăn, thách thức.
Sau chiến tranh, Quy đợc phong anh hùng, đợc bầu làm đại biểu Quốc hội,
phụ trách công tác phụ nữ ở huyện nhà. Quy thành đạt nhng không cảm thấy
hạnh phúc vì cuộc chiến đã tớc đi tuổi trẻ, cơ hội đợc làm vợ, làm mẹ. Ban
ngày, chị cố lao vào công việc để quên đi nỗi cô đơn nhng đêm đến nỗi cô
đơn lại hành hạ chị, trở thành nỗi trăn trở thờng trực trong con ngời chị: "Có
thể nói không quá rằng, chiến tranh đã cớp đi tất cả những gì cần thiết nhất
cho một đời sống bình thờng của chị. Lẽ ra chị có thể hoàn toàn thanh thản
trớc quá khứ. Nhng không hiểu sao chị lại trăn trở, bức xúc muốn tìm lại
những thằng ác ôn bị chị giết hơn mời năm trớc? Mặc dù ngay lúc này
đây, nếu phải sống lại những năm tháng cũ, chắc chắn chị vẫn sống nh thế.
Chị không thể làm khác vì đó là sinh mệnh, là sự mất còn của quê hơng chị"
[66, tr. 28]. "Chị đã giết những tên ác ôn khét tiếng nhất bởi cách mạng đòi
hỏi chị làm nh vậy. Vậy mà, bây giờ không hiểu sao, chị cứ thấy lòng mình
24
không yên Có một cái gì đó ngoài lý trí cứ bắt chị phải suy nghĩ, trăn trở.
Cái gì? " [66, tr. 128]. Từ cuộc sống của chính bản thân mình, chị thờng
xuyên nghĩ đến những đứa trẻ mồi côi khác, trong đó có cả những đứa trẻ mà
cha chúng do chính tay chị giết Chị luôn luôn phải trăn trở, suy nghĩ, dằn
vặt bởi quá khứ hiện ra thờng ngày trong tâm trí của chị. Tác giả đã thể hiện
đợc "bản chất Ngời": Sự đấu tranh giữa lý trí và bản năng, những mâu thuẫn
giữa hành động và suy nghĩ, khẳng định vẻ đẹp nhân tính của ngời chiến sĩ,
Thông qua nhân vật Quy, tác giả giúp ngời đọc nhớ đến chị với cái vẻ thanh
thản vừa nhai trầu, vừa chèo thuyền giết giặc. Chị trở về sau trận đánh trong
tiếng ríu rít của đàn con, một niềm vui kỳ lạ, không thấy sự trăn trở của con
ngời vừa đi qua trận chiến. ở Quy có đủ những trạng thái tình cảm của con
vọng" [43, tr. 68- 72]. Tác phẩm xoay quanh nhân vật trung tâm Kiên- một
nhà văn "của phờng" vốn là lính đã từng chiến đấu trong những giai đoạn ác
liệt của cuộc chiến tranh, Kiên cố gắng trình bày những cảm nhận của mình
bằng một cuốn tiểu thuyết. Kiên luôn trong trạng thái tinh thần rối bời, bấn
loạn, kí ức luôn hiện lên trong tâm hồn Kiên. Đó là kí ức về Phơng, về gia
đình và những đồng đội của anh. Lần theo dòng kí ức đó, ngời đọc hình dung
ra tính chất khốc liệt của cuộc chiến tranh: "các đại đội đã tan tác đang cố co
cụm lại đánh tan tác. Tất cả bị napan tróc khỏi công sự, hoá cuồng, không
lính không quan gì nữa rùng rùng lao chạy trong lới lửa dày đặc, chết dúi
ngã dụi vào biển lửa. Trên đầu trực thăng rà rạp các ngọn cây và gần nh
thúc họng đại liên vào gáy từng ngời một mà bắn. Máu tung xối, chảy toé,
ồng ộc, nhoe nhoét (), thân thể dập vỡ tanh bành, phùn phụt phì hơi nóng"
[80, tr.6- 7]. Hay đó là "mái nhà lợp bằng thây ngời" [80, tr.103]. Chiến
tranh hiện lên với bộ mặt gớm ghiếc, bạo tàn, bi thảm và quan trọng hơn, tác
giả đã cho ngời đọc thấy cuộc chiến tranh trong mỗi con ngời sau khi chiến
tranh kết thúc còn đáng sợ hơn. Đáng lý, hoà bình những ngời nh Kiên phải
đợc sống cuộc sống sung sớng, hạnh phúc nhng ngợc lại, họ đã để lại
tuổi xuân, niềm vui, hạnh phúc nơi chiến trờng. Họ sống cuộc sống hiện tại
với những day dứt, dằn vặt khôn nguôi. Quá khứ đau thơng cứ ám ảnh họ