ột số đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Ôtrênasếch - Pdf 25


204
Đại học quốc gia Hà Nội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THÀNH HƯNG MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP TIỂU THUYẾT
CỦA IAN ÔTRÊNASÊCH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn: GS.VS. Hoàng Trinh HÀ NỘI - 2002



Kiểu nhân vật trung tâm ……………………………………… 81

2.1. Kiểu nhân vật trí thức trong vai diễn trung tính………………. 83
2.2. Những người cô đơn đi tìm tự do bản ngã……………………. 104 206
Chương III

Thời gian và không gian nghệ thuật………………………… 129
3.1. Thời gian nghệ thuật………………………………………………. 131
3.1.1. Thời gian trong tiểu thuyết Công dân brych…………………….
132
3.1.2. Quan niệm thời gian và chủ đề thế hệ
trong Chàng Orphây khập khiễng…………………………………… 138
3.1.3. Thời gian trong thể tiểu thuyết nhật ký……………………… 145
3.2. Không gian nghệ thuật………………………………………. 150
3.2.1. Nhà máy – một cvấu trúc không gian nghệ thuật……………. 152
3.2.2. Căn phòng ở – không gian tồn tại của con người cá nhân……. 159
3.2.2.1. Căn phòng của Brych ……………………………………… 161
3.2.2.2. Căn phòng ẩn náu của cô gái Do Thái……………………… 164
3.2.2.3. Ngôi nhà mơ ước trong tiểu thuyết Thiên đường … 169

KẾT LUẬN ………………………………………………… 177 TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………. 185
giữa hai nền văn hoá tiêu biểu cho phương Đông và phương Tây, trong quá
trình xung đột vừa có tính chất loại trừ, vừa có tính chất tiếp thu, đồng hoá,

2
giữa ý chí độc lập, bảo tồn dân tộc và ý thức vươn lên, tự hiện đại hoá và
quốc tế hoá. Cùng với văn hoá và văn học Pháp, tiếng Pháp cũng trở thành
một phương tiện chuyển tải những giá trị văn học tiêu biểu của phương Tây
vào Việt Nam. Luồng ảnh hưởng thứ ba gắn liền với thực tiễn cách mạng
dân tộc dân chủ và xã hội chủ nghĩa của Việt Nam cùng vai trò của nước
Nga xô viết trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ.
Trong nhiều thập kỷ qua, bên cạnh những ảnh hưởng mạnh mẽ, tích
cực và có vai trò chủ đạo của văn học Nga xô viết, văn học Việt Nam cũng
có sự tiếp xúc, giao lưu với văn học của hàng loạt nước khác trong phe xã
hội chủ nghĩa. Chính sự tiếp xúc, giao lưu đó đã tạo ra trong văn học Việt
Nam, Trung Quốc, Liên xô cũ, CHDC Đức, Hung-ga-ry, Bun-ga-ry, Ba Lan,
Tiệp Khắc cũ những đặc điểm tương đồng. Sự thống nhất trong mục tiêu xây
dựng chủ nghĩa xã hội, sự hợp tác chặt chẽ, nhiều mặt về kinh tế, chính trị,
quân sự, văn hoá giữa các nước xã hội chủ nghĩa cũ đã tạo cơ sở cho các nền
văn học nói trên vận động, phát triển cùng định hướng. Chủ nghĩa hiện thực
xã hội chủ nghĩa trong nhiều thời kỳ đã trở thành ngọn cờ tập hợp đội ngũ
sáng tác và là nguồn cổ vũ lớn lao đối với các nhà văn, vì vậy đã thực sự tạo
ra những nền văn học xã hội chủ nghĩa khá thống nhất về tư tưởng và
phương pháp nghệ thuật. Tính lý tưởng cộng sản chủ nghĩa và nhiệt tình đấu
tranh của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa một mặt đã tạo ra trong văn
học mỗi nước nói trên khá nhiều thành tựu, mặt khác, trong thực tiễn vận
dụng cũng bộc lộ không ít những biểu hiện giáo điều, cứng nhắc xoay quanh
khái niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa, do đó cũng đã để lại những hạn chế, di
hại khá giống nhau .
Lâu nay trong nghiên cứu và dịch thuật văn học nước ngoài, chúng ta
thường chú ý tới những nền văn học lớn hoặc những nền văn học gần gũi với


4
cường, thầm lặng nhằm thoát khỏi sự thống trị của kẻ ngoại bang, nhằm bảo
vệ quyền lợi và bản sắc dân tộc. Khác với nhiều dân tộc châu Âu, lịch sử dân
tộc Séc không được viết bằng những chiến công quân sự, những cuộc chiến
tranh máu lửa một mất một còn, mà chủ yếu là bằng những khúc ca bi tráng
về những cuộc khởi nghĩa không thành. Nằm giữa những đế quốc lớn như
Đức, Áo-Hung, Nga, Ba Lan, đất nước của dân tộc Séc thường là những
miền đất phụ thuộc hoặc trở thành vùng đất mượn đường của những cuộc
hành quân chinh phạt. Khát vọng độc lập và tự do dân tộc như ngọn lửa khi
thì bùng lên dữ dội, khi thì âm thầm, bền bỉ cháy trong suốt hàng chục thế kỷ
tồn tại và phát triển của dân tộc Séc.
Năm 1918, dưới những ảnh hưởng tích cực của Cách mạng tháng
Mười Nga và nhờ những điều kiện khách quan thuận lợi được tạo ra từ giai
đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ nhất, nước cộng hoà Tiệp Khắc được
thành lập. Ngày quốc khánh 28 tháng 10 năm đó thực sự có ý nghĩa như một
ngày tái sinh dân tộc. Với sự thành lập cộng hoà Tiệp Khắc, dân tộc Séc đã
khẳng định chủ quyền dân tộc và chủ quyền quốc gia, chính thức chấm dứt
ách thống trị và bóc lột của dòng họ phong kiến Hamxbuốc đã kéo dài gần
400 năm. Chế độ cộng hoà tư sản được thiết lập trên đất nước Tiệp Khắc đã
có tác dụng giải phóng sức sản xuất và khả năng sáng tạo của hai dân tộc
Séc và Xlôvaky. Sau hai mươi năm độc lập phát triển, Tiệp Khắc đã trở
thành một trong số 10 nước có nền công nghiệp tiền tiến của thế giới. Năm
1938, do sự phản bội của một số đế quốc lớn như Pháp, Anh và Đức, hiệp
ước Muynich đã đẩy dân tộc Séc trở lại sống dưới ách áp bức của bọn Đức
quốc xã. Đất Séc bị chiếm đóng và trở thành vùng đất “bảo hộ” của phát xít
Đức. Năm 1945, trước sức tấn công vũ bão của Hồng quân Liên xô và quân
đội Đồng minh, kết hợp với phong trào khởi nghĩa tại chỗ, Tiệp Khắc được
hoàn toàn giải phóng. Năm 1948, ba năm sau khi chiến tranh thế giới lần thứ


dân tộc Séc cũng gắn liền với tên tuổi của một nhà văn-chính khách nào đó.
Mối quan hệ mật thiết giữa văn học và đời sống càng bộc lộ rõ hơn trong
thời kỳ hiện đại. Nếu như lịch sử dân tộc Séc là lịch sử của sự tìm kiếm con
đường tồn tại để phát triển thì ở bất cứ chặng đường lịch sử nào người ta
cũng dễ dàng nhận ra dấu chân xung kích của những người cầm bút viết văn.
Và cũng không phải ngẫu nhiên mà người nắm cương vị tổng thống đầu tiên
của Tiệp Khắc và Cộng hoà Séc thời kỳ sau chủ nghĩa xã hội lại là một nhà
văn, một nhà soạn kịch và phê bình nghệ thuật : Vaxlav Havel.
Nhìn qua đời sống văn học Séc nửa sau thế kỷ qua chúng ta có thể thấy
hàng loạt những biến cố nối tiếp nhau dồn dập. Đầu những năm 50 hàng loạt
nhà văn rời bỏ Tổ quốc trong làn sóng di tản, hàng loạt tờ báo văn học bị
đình chỉ. Cuối những năm 60 Hội Nhà văn Tiệp Khắc công bố bản Hiến
chương Hai nghìn từ, đầu những năm 70 Hội nhà văn toàn Tiệp bị giải tán,
hàng loạt nhà văn bị tước thẻ Đảng, nhiều nhà văn hoang mang đã di tản ra
nước ngoài. Năm 1977 bản tuyên ngôn thứ hai với tên gọi Tuyên cáo 77 lại
được công bố, khơi dậy tư tưởng cải tổ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Hội Nhà văn Séc và Hội Nhà văn toàn Tiệp cũng trải qua không ít
những thăng trầm. Năm 1946 Hiệp hội các nhà văn Séc được thành lập, đặt
nền móng cho sự thành lập Hội Nhà văn Tiệp Khắc trong năm 1949. Đến
năm 1970 Hội Nhà văn Séc bị giải tán kéo theo sự tan rã của Hội Nhà văn
toàn Tiệp, để đến bảy năm sau ( năm 1977 ) mới đủ điều kiện tái lập. Cuối
năm 1989 cả hai Hội của Séc và Xlôvaky đều tuyên bố tự giải tán, nhường
chỗ cho một hình thức tổ chức mang tính tự nguyện và thuần tuý có ý nghĩa
nghiệp đoàn là Làng Văn Séc .
Có thể nói rằng, nếu cầm bút với thiên chức của một nghệ sỹ chân
chính, khó lòng tìm thấy trong thế kỷ qua một nhà văn Séc nào đó có được
một cuộc đời hạnh phúc viên mãn. Bởi vì không có một nhà văn đích thực

7
nào có thể bàng quan trước những nỗi đau của con người dân tộc mình, nhân

năm 60 ông đã trở thành một cây bút nổi tiếng châu Âu và đã từng đảm
nhiệm cương vị Tổng thư ký Hội Nhà văn Tiệp Khắc. Năm 1966 ông được
tặng danh hiệu Nghệ sỹ Công huân, nhưng tới năm 1970 ông lại bị khai trừ
khỏi Đảng. Ông mất năm 1977, khi mới 55 tuổi , quãng tuổi chín muồi kinh
nghiệm và dồi dào nhất về năng lực sáng tạo của một cây bút tiểu thuyết. Vì
mất sớm, số lượng tác phẩm của ông để lại không nhiều : 6 tiểu thuyết, một
vài truyện vừa, truyện ngắn, một vở kịch và hơn 20 kịch bản phim truyện và
phim truyền hình. Những con số đó không phải là lớn đối với một người
sáng tác, nhưng điều quan trọng là qua mỗi tác phẩm, trước hết là qua mỗi
tiểu thuyết ông đã để lại trong lịch sử văn học Séc hiện đại những dấu ấn độc
đáo của sự tìm tòi sự thật đời sống và một nỗ lực không ngừng trong sự đổi
mới, cách tân nghệ thuật. Cũng như phần lớn các nhà tiểu thuyết lâu nay,
sáng tác của Ôtrênásêch không tránh khỏi những mặt hạn chế. Có điều là
những hạn chế đó không mang tính ngẫu nhiên và không hoàn toàn phụ
thuộc vào tài năng, trình độ nghề nghiệp của ông, mà phần lớn là phụ thuộc
vào những ràng buộc khách quan của lịch sử. Những mặt mạnh, mặt yếu
trong sáng tác của ông phản ánh khá trung thành những bước tiến, bước lùi
của văn học Séc hiện đại. Cuộc đời và sự nghiệp của ông đã thực sự chìm
nổi theo những biến động ba đào của dân tộc Séc mấy chục năm qua .
Chính xuất phát từ vị trí và ý nghĩa của Jan Ôtrênasêch trong văn học
Séc, trước hết là trong nền tiểu thuyết Séc hiện đại, chúng tôi coi tiểu thuyết
của ông như một đề tài thuận lợi cho việc tìm hiểu văn học Séc nói chung.
Thông qua việc nghiên cứu một tác gia tiêu biểu, chúng tôi hy vọng có thể
nắm bắt được những đặc điểm chung cũng như những nét đặc thù của một
giai đoạn văn học quan trọng. Đó là lý do cơ bản nhất trong việc xác định đề

9
tài luận án của chúng tôi. Bên cạnh đó, việc xác định đề tài này còn xuất
phát từ một lý do có tính thời sự cấp thiết nữa là vấn đề chỗ đứng của
Ôtrênásêch và nhiều nhà văn tên tuổi khác của Tiệp Khắc xã hội chủ nghĩa

học xã hội chủ nghĩa và thanh toán mọi nền tảng tinh thần của chủ nghĩa xã
hội. Tuy nhiên những luận điệu kiểu đó dù sao cũng đang được bảo hiểm
chu đáo nhờ thiết chế chính trị của Cộng hoà Séc hiện tại. Chí ít thì nó cũng
buộc những người quan tâm tới văn học Séc phải đặt câu hỏi: I.Ôtrênasêch
là ai ? Ông giữ vị trí nào trong văn học Séc? Liệu ông có bị oan uổng không
khi mà cả hai chế độ đều không mấy tỏ ra tin cậy, mặn mà với ông ?
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi thấy việc nghiên cứu sáng tác của
Ôtrênasêch là một việc làm cần thiết.

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. I. ÔTRÊNASÊCH TRONG NGHIÊN CỨU VÀ PHÊ BÌNH Ở TIỆP KHẮC CŨ
Trình làng không phải bằng một truyện ngắn mà bằng một cuốn tiểu
thuyết viết khá già dặn về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, Ôtrênasêch sớm
trở thành đối tượng chú ý của giới phê bình và nghiên cứu văn học ở cả hai
vùng đất: Séc và Xlôvaky. Gần như mỗi lần nhà văn có tác phẩm công bố là
một lần đời sống văn học Séc như dấy lên một luồng sinh khí mới. Các nhà
phê bình đều có chủ kiến của mình và đều muốn lên tiếng bày tỏ quan điểm
của mình về hiện tượng văn học mang tính thời sự đó. Trong tư liệu sưu tập
và thống kê có phần chưa đầy đủ của chúng tôi, tính tới năm 1989 đã có
khoảng 50 bài báo và bài giới thiệu về tác giả ở cả hai vùng Séc và Slovaky,
trong số đó có khoảng 15 bài in trên các tạp chí chuyên ngành nghiên cứu
văn học nghệ thuật.

11
Bài báo phê bình dài hơi và cũng là sớm nhất là bài Tiểu thuyết Dấn
bước của Ôtrênasêch của J. Haiếch in trên tạp chí Đời sống mới số tháng 10,
năm 1953. Trên tinh thần biểu dương những cố gắng ban đầu và khẳng định
một tài năng tiểu thuyết mới xuất hiện, nhà phê bình đồng thời cũng thẳng
thắn chỉ ra những nét công thức, sơ lược trong việc khắc hoạ các tính cách
nhân vật công nhân trong tác phẩm. Cũng vẫn trên tạp chí này, sáu năm sau,

nhà phê bình Séc và Xlôvaky tiêu biểu như M. Pôhorxky, I. Stevtrêch, F.
Burianếch, D. Bêran.
Bài báo duy nhất viết với động cơ phủ nhận, miệt thị tiểu thuyết của
Ôtrênasêch là bài của nhà phê bình nữ Irêna Ditkôva, với tiêu đề “ Công dân
Brych và đàn thỏ rừng” đăng trên tờ “Mặt trận thanh niên” số ra ngày19-12-
1968. Chúng tôi quan tâm tới ngày tháng cụ thể đó vì muốn lưu ý tới bối
cảnh chính trị xã hội của quan điểm người phê bình. I. Ditkôva thẳng thắn
chỉ ra tính chất công thức trong cách viết của Ôtrênasêch và coi ông như một
nhà văn “ đội hơi nhiều những vòng nguyệt quế chính thống”. Ý kiến của
nhà phê bình này không phải chỉ là một sự quy chụp hoàn toàn vô căn cứ
(như giáo sư V. Rơdâunêch đã khẳng định trong cuốn sách của mình) [72,
tr.69]. Tuy vậy có một điều không thể phủ nhận được, là động cơ và sức ép
của đời sống chính trị đối với đời sống học thuật. Gần như ai cũng biết rõ
rằng bài phê bình đó được viết trong những năm tháng khủng hoảng chính
trị và được hoà vào một trào lưu chung – trào lưu phủ nhận cuộc cách mạng
tháng Hai năm 1948, phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa hiện tại.
Cuốn sách duy nhất tập trung nghiên cứu một cách hệ thống về nhà
văn là cuốn Ian Ôtrênasêch, được viết dưới dạng chân dung nghệ sỹ của
Giáo sư Vichêxlap Rơdâunếch, in năm 1985. Cuốn sách bao gồm 5 chương,
gắn liền với 5 thời điểm quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của

13
ông. Kể cả phần phụ trương, cuốn sách dày 240 trang với các chương mục
cụ thể như sau :
1- Bước vào sáng tác văn học
2- Những cội nguồn cá tính sáng tạo
3- Một nhà văn hàng đầu
4- Trong niềm tin cuộc đời và niềm tin văn chương
5- Sự khủng hoảng và những lối thoát
Với năm chương trên, tác giả chuyên luận đã cố gắng xác định vị trí

phân tách hai nước cộng hoà, năm 1990 truyện vừa Rômêô, Giuyliet và bóng
tối được tái bản lần thứ mười. Năm 1992 trong Từ điển tiểu thuyết Séc 1945-
1991, Ôtrênasêch được giới thiệu ba cuốn tiểu thuyết, trong tổng số 150 tác
phẩm. Năm 1993 trong cuốn Cẩm nang văn học phổ thông về văn học Séc
và Slôvaky tính từ thời kỳ trung cổ tới nay, ông cũng chiếm giữ một vị trí
trang trọng cùng trích dẫn tác phẩm Rômêô, Giuyliet và bóng tối nổi tiếng
của mình.
Các giáo trình văn học Séc và các công trình nghiên cứu văn học sử
trong mười năm qua đều không thể bỏ qua sáng tác của ông. Nhưng trong
một cuốn giáo khoa văn học dành cho học sinh lớp 12 trung học (Văn học
Séc sau năm 1945 , NXB Fortuna-Praha ) in năm 1995 ông chỉ được đề cập
nhiều lần mà không được dựng thành chương mục độc lập như một tác giả
tiêu biểu.
Nhìn chung trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa các công trình nghiên cứu
về ông đều thiên về lối phê bình tư tưởng, đôi khi không tránh khỏi cách
nhìn xã hội học thô sơ, xem sáng tác của ông chỉ như là sự thể hiện trực tiếp
quan điểm chính trị của tác giả và phản ánh một cách máy móc thực trạng
xã hội mà tác giả đang sống. Bên cạnh đó cũng có một số bài phê bình xuất

15
phát từ thiện chí bảo vệ Ôtrênasêch đã cố ý bỏ qua hoặc làm giảm nhẹ nội
dung cảnh báo và phê phán chính trị trong tác phẩm của ông. Sau khi thay
đổi cơ chế chính trị, trong bầu không khí phục thù, chống cộng, sáng tác của
ông, cũng như của nhiều nhà văn "chính thống" khác, bị xem như những sản
phẩm tinh thần của một thời đại ảo tưởng và lầm lỗi. Suốt một thập kỷ qua,
định kiến chính trị đã hoá thành rào cản đối với nhiều nhà phê bình "dân chủ
mới", không cho họ một nhãn quan lịch sử đúng đắn để ghi nhận những
đóng góp của Ôtrênasêch cũng như nhận chân những giá trị nghệ thuật của
gần nửa thế kỷ văn học Séc đã qua.


Việt.
Năm 1964 NXB Văn học đã xuất bản truyện vừa Rômêô, Julie và
bóng tối do nhà văn Nguyễn Thành Long dịch từ bản tiếng Pháp. Sau 20
năm, bản in tiếng Việt đó đã được tái bản (năm 1984) kèm theo lời giới thiệu
mới cả dịch giả. Tuy vậy, không rõ vì lý do nào, bản in mới đã thiếu khoảng
hai trang nguyên bản tiếng Séc. Do thiếu thông tin cập nhật nên trong lời
giới thiệu về sự nghiệp thân thế của tác giả cũng có những điểm chưa thật
chính xác. Ví dụ: Ôtrênasêch chỉ sống đến tuổi 55 nhưng lời giới thiệu
khẳng định rằng ông đã tròn 60 tuổi. Tuy vậy sự thiếu hụt văn bản và sai sót
về thông tin đó không tổn hại gì nhiều tới cốt truyện và nội dung tư tưởng
của tác phẩm. Năm 1992 bản dịch đó lại được tái bản trong cuốn sách tuyển
tập các tác phẩm nổi tiếng thế giới ( NXB Tác phẩm mới , HN 1992 ). Phim
truyện Rômêô, Giuyliet và bóng tối của đạo diễn D.Vâyxơ, dựng năm 1960,
cũng đã được chiếu ở Việt Nam.
Nhìn một cách tổng thể, việc nghiên cứu sáng tác của J. Ôtrênasêch tại
Tiệp Khắc cũ cũng như tại CH Séc hiện nay, trừ cuốn sách chân dung nghệ

17
sỹ của GS. V. Rơdâunếch, chưa có một công trình nào được thực hiện một
cách có hệ thống. Điều đáng chú ý nhất là, do hoàn cảnh chính trị phức tạp
của CH Séc, cho tới nay gần như chưa có một bài báo nào, cuốn sách nào
viết về J. Ôtrênasêch từ góc độ thi pháp học. Như vậy, chúng tôi gần như
phải đứng trước một cánh đồng hoang, không được kế thừa kinh nghiệm
hoặc sử dụng tư liệu của những người đi trước.

3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN.
Đối với CH Séc, văn học xã hội chủ nghĩa đã kết thúc vai trò lịch sử của
nó và thực sự là một hiện tượng văn học của quá khứ. Cộng hoà Séc đã trải
qua hơn 10 năm cơ chế dân chủ tư sản hiện đại. Cho tới nay nền văn học Séc
vẫn chưa ổn định trở lại sau sự đảo lộn về cơ chế chính trị. Phương pháp

Mới nghe qua những luận điểm nêu trên cũng có thể nhận thấy tính
chất định kiến chính trị trong cách đánh giá văn học xã hội chủ nghĩa. Cách
đánh giá đó không nằm ngoài ý định phủ nhận sạch trơn những thành tựu
của chủ nghĩa xã hội trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá nói chung và các
thành tựu nghệ thuật của văn học xã hội chủ nghĩa nói riêng.
Gắn liền với những thăng trầm của chủ nghĩa xã hội và đời sống chính
trị đất nước nói chung, sáng tác của Jan Ôtrênásêch trở thành một "phong vũ
biểu của thời đại". Những thành công và hạn chế trong sáng tác của ông
phản ánh những thành công, hạn chế chung của một giai đoạn văn học.
Chính vì vậy chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu sáng tác của nhà văn này
sẽ có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi nghiên cứu về một tác gia tiểu thuyết.
Đánh giá một cách khách quan, chính xác những đóng góp của tiểu thuyết
gia này chính là góp phần bảo vệ những chân giá trị của văn học xã hội chủ
nghĩa Séc cũng như những thành tựu của chủ nghĩa xã hội nói chung .

19
Xuất phát từ những quan niệm trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ và
mục tiêu chung của luận án là :
- Từ góc độ thi pháp thể loại, lý giải những thành công và hạn chế
trong sáng tác tiểu thuyết của Ôtrênásêch đồng thời khẳng định lại vị trí của
ông trong lịch sử văn học Séc đương đại.
- Thông qua sự lý giải trên chúng tôi cũng hy vọng rằng luận án của
mình sẽ có ý nghĩa như một tư liệu hữu dụng cho những ai đang quan tâm
tới vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và vấn đề định hướng xã hội
chủ nghĩa của văn học Việt Nam hiện nay. 4. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tay của Ôtrênásêch xuất hiện, dư luận độc
giả và giới nghiên cứu phê bình đã quan tâm khích lệ và xem đó như một tác

hoá “ , giữa cái ngày mai với cái hôm nay, giữa cái riêng và cái chung. Bất
luận giải thích theo chiều hướng nào, sự hy sinh, thiệt thòi về phương diện
nghệ thuật vẫn là điều mang tính tất yếu thời đại đối với những người cầm
bút mang trọng trách của người chiến sỹ đã tự nguyện phấn đấu cho lý tưởng
xã hội chủ nghĩa. Những hạn chế trong tác phẩm văn học xã hội chủ nghĩa
của một nhà văn tài năng nào đó nhiều khi lại xuất phát từ ý thức hy sinh , ý
thức “tự dày xéo lên cái tôi của mình “ để hướng về những lợi ích chung, lợi
ích trước mắt của xã hội, cộng đồng. Tất nhiên phê bình văn học Séc trong
thời kỳ xã hội chủ nghĩa chưa có đủ điều kiện thuận lợi và chưa có độ giãn

21
cách về thời gian để bình tĩnh, khách quan hơn trong việc lý giải những hạn
chế nghệ thuật của Ôtrênasêch.
Tóm lại, hạn chế cơ bản của nghiên cứu, phê bình văn học Séc trước
đây là cách nhìn xã hội học đơn giản đối với một loại hình nghệ thuật đặc
thù. Hạn chế đó, theo chúng tôi là mang tính tất yếu, là "bất khả kháng".
Những khó khăn, trở ngại của nghiên cứu và phê bình văn học Séc
trước đây một khi được khắc phục, giải quyết sẽ trở thành những thuận lợi
cho luận án của chúng tôi. Bởi vì nếu thoát khỏi cách nhìn xã hội học thô
thiển, xuất phát từ chỗ đứng khách quan của người nghiên cứu văn học nước
ngoài để nhìn nhận một hiện tượng văn học đang lùi dần vào lịch sử, luận án
của chúng tôi có thể đóng góp một cách đánh giá mới về sáng tác tiểu thuyết
của nhà văn .
Đóng góp mới của luận án còn bộc lộ ở một khía cạnh khác nữa. Theo
chúng tôi, trong lĩnh vực nghiên cứu và giới thiệu văn học nước ngoài lâu
nay, văn học Séc vẫn còn là một trong số những nền văn học xa lạ đối với
độc giả và những người làm công tác văn học ở Việt Nam chúng ta. Trong
hàng chục năm liền, từ thời kỳ chiến tranh cho tới những năm "đổi mới" gần
đây, hiểu biết của chúng ta về văn học Séc chưa vượt quá xa cuốn phóng sự
“ Viết dưới giá treo cổ". Chúng tôi nói là “chưa vượt quá xa” với hàm ý là

có hệ thống ở Việt Nam và cũng hoàn toàn chưa được nhắc tới ngay cả trong
các giáo trình đại học chuyên ngành văn học . 5. CƠ SỞ PHƢƠNG PHÁP LUẬN
Trong nghiên cứu và phê bình văn học hiện nay, nhiều học giả tư sản
phương Tây và nhiều nhà phê bình ở các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa cũ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status