Văn hóa làng - xã và sự biến đổi của nó trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (Qua khảo sát ở tỉnh Hưng Yên) - Pdf 28


ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN NGUYễN VÂN ANH VĂN HóA LàNG - Xã Và Sự BIếN ĐổI CủA Nó
TRONG ĐIềU KIệN KINH Tế THị TRƯờNG
ở VIệT NAM HIệN NAY

(Qua khảo sát ở tỉnh H-ng Yên)

Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành Triết học

Hà Nội - 2014



MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: VĂN HÓA LÀNG - XÃ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM 6
1.1. Khái lƣợc về văn hóa 6
1.1.1. Định nghĩa văn hóa 6
1.1.2. Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 7
1.2. Văn hóa làng- xã 10
1.2.1. Khái lược lịch sử làng - xã 10
1.2.2. Đặc trưng cơ bản của văn hóa làng - xã 14
1.3. Khái niệm, đặc trƣng của kinh tế thị trƣờng 25
1.3.1. Khái niệm kinh tế thị trường 25
1.3.2. Đặc trưng của kinh tế thị trường 29
1.4. Biến đổi của văn hóa làng - xã hiện nay trong điều kiện kinh tế
thị trƣờng 36
1.4.1. Chủ nghĩa tập thể và biến đổi của nó trong điều kiện kinh tế
thị trường 36
1.4.2. Tính bảo thủ và biến đổi của nó trong điều kiện kinh tế thị trường 40
1.4.3. Tính tự quản và sự biến đổi của nó trong điều kiện kinh tế
thị trường 44
1.4.4. Chủ nghĩa cục bộ địa phương và sự biến đổi của nó trong điều kiện
kinh tế thị trường 46

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA
LÀNG- XÃ PHÙ HỢP VỚI SỰ BIẾN ĐỔI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH
TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (QUA KHẢO SÁT Ở
TỈNH HƢNG YÊN) 54

cơ bản, tiêu biểu cho xã hội nông thôn, là một khu vực tập trung cư dân nông thôn.
Trong biến thiên lịch sử, làng xã và văn hóa làng - xã có một vị trí đặc biệt. Do đó,
nói đến nông thôn trước hết là phải nói đến văn hóa làng – xã và sự biến đổi của nó
trong sự phát triển của đất nước.
Làng - xã có thể hình dung như một quốc gia thu nhỏ, có đời sống vật chất
và tinh thần bền vững. Vì vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay, phát huy những giá trị văn hóa làng - xã, kết hợp với những yếu tố hiện đại của
cuộc vận động xây dựng làng văn hóa thực chất là quá trình “tiếp biến văn hóa”, là
quy luật vận động tất yếu của văn hóa đương đại trong việc kế thừa và phát triển
truyền thống văn hóa dân tộc.
Mặt trái của kinh tế thị trường đang làm biến đổi cũng như có nguy cơ phá
vỡ những giá trị văn hóa truyền thống. Bản sắc văn hóa dân tộc có những lúc, những
nơi bị xâm hại bởi các sức mạnh ghê gớm của nó như: chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực
dụng Kinh tế thị trường phát triển, lũy tre làng không còn là vành đai cát cứ. Nhưng
tính cục bộ, địa phương chủ nghĩa, “phép vua thua lệ làng”, tệ cường hào ở nông thôn

2
lại trỗi dậy. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự xáo trộn các mối quan hệ trong làng
và giữa các làng, làm nảy sinh hàng loạt vấn đề về ý thức đoàn kết cộng đồng, diện mạo
văn hóa, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Bên cạnh đó, cơ chế thị trường đang len lỏi vào những miền quê xa xôi nhất
và có nguy cơ phá vỡ nét thanh bình của làng - xã xa xưa. “Cây đa, bến nước, sân đình”
- hình ảnh tiêu biểu của làng quê đang có dấu hiệu bị biến dạng. Các tệ nạn xã hội
đang có cơ hội và điều kiện chuyển dịch về nông thôn. Ma chay, cưới xin vẫn có xu
hướng quay lại với tập tục rườm rà, tốn kém, xen lẫn cả mê tín dị đoan.
Chính vì lẽ đó, việc xây dựng văn hóa làng - xã là nhằm bảo vệ và phát huy các
giá trị của dân tộc Việt Nam và phát huy tính tích cực của nó. Văn hóa làng - xã vừa là
kết quả hoạt động của những con người ở làng, đồng thời là môi trường, động lực làm
cho từng thành viên trong cộng đồng làng giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống
và tiếp tục tạo ra những giá trị văn hóa tiên tiến. Và chỉ khi đó văn hóa làng - xã mới

Nguồn tư liệu về các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
nông thôn, nông nghiệp, nông dân, về phong trào hợp tác hóa nông nghiệp… được
lưu trữ tại các kho lưu trữ Trung ương và các địa phương là cơ sở tư liệu quan trọng
để nghiên cứu làng xã Việt Nam hiện đại.
Nghiên cứu làng - xã Việt Nam càng ngược về thời kỳ xa xưa thì nguồn tư
liệu thư tịch đương đại càng nghèo nàn và đơn điệu. Thời kỳ cận đại và hiện đại
càng ngày càng có nhiều sổ sách, công văn, giấy tờ, biên bản, văn bằng, chỉ thị,
nghị quyết, hóa đơn, chứng từ, số liệu thống kê đưược tập hợp được tập hợp và
lưu trữ, nhưng ngay đến cả nguồn tư liệu này cũng không thể phản ánh hết được
cuộc sống thiên hình vạn trạng diễn ra ở làng quê. Vì thế, bên cạnh việc tập trung
khai thác triệt để các nguồn tư liệu thư tịch đương đại làm cái nhân, cái lõi cho công
trình nghiên cứu về làng xã của mình, nhà nghiên cứu không thể không tổ chức các
cuộc điều tra khảo sát thực địa để có thể bổ sung cho sự khuyết thiếu của nguồn tư
liệu thư tịch đương đại.
Nhiều công trình đã được công bố với các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa
làng xã như: “Văn hóa làng và làng văn hóa” của Nguyễn Duy Quý, Thành Duy và
Vũ Ngọc Khánh; “Văn hóa làng và sự phát triển” của Nguyễn Duy Quý; “Làng xã
Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - xã hội” của Phan Đại Doãn; “Sự biến đổi của
làng xã Việt Nam ngày nay” của Tô Duy Hợp; “Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện

4
nay” của tập thể tác giả Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; “Mô hình làng
văn hóa ở nông thôn hiện nay” của Thu Linh; “Sự biến đổi của làng xã Việt Nam
ngày nay ở đồng bằng sông Hồng” của Tô Duy Hợp; “Tín ngưỡng làng xã” của Vũ
Ngọc Khánh; “Nếp cò - Làng xóm Việt Nam” của Toan Ánh; “Hương ước hồn quê”
của Toan Ánh; “Bản sắc văn hóa làng trong xây dựng nông thôn đồng bằng Bắc
Bộ” của TS. Lê Quý Đức
Trong các công trình trên, các tác giả đã bàn về văn hóa tinh thần và văn hóa
vật chất ở làng xã. Nhiều tác giả đã đề cập đến hội làng, nếp sống, phong tục, tôn
giáo, sân khấu dân gian, văn hóa nghệ thuật dân gian Một số chuyên luận không

pháp điều tra, phân tích khảo cứu, phương pháp diễn dịch và quy nạp, phương pháp
so sánh, đối chiếu, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp logic và lịch sử
trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự biến đổi của văn hóa làng - xã trong
điều kiện kinh tế thị trường qua khảo sát ở tỉnh Hưng Yên.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu văn hóa làng- xã
- Biến đổi của văn hóa làng – xã
- Khảo sát ở Hưng Yên
6. Đóng góp mới của luận văn
- Thuyết minh có căn cứ khoa học về sự tiếp nối biện chứng từ di sản văn hóa
làng - xã đến việc xây dựng văn hóa làng- xã trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.
- Khái quát vai trò cơ bản của văn hóa làng -xã.
- Đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp có tính khả thi, góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển văn hóa làng xã trong điều kiện kinh tế
thị trường hiện nay ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề về lí luận văn hóa làng - xã
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có nội
dung gồm 2 chương, 6 tiết.

6
CHƢƠNG 1
VĂN HÓA LÀNG - XÃ TRONG ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở VIỆT NAM


trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn.
Theo quan điểm của triết học Mác: Xuất phát từ quan niệm về bản chất của
con người và về phương thức xác định bản chất của sự “tồn tại người” của triết học
Mác,có thể kết luận rằng nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành và phát
triển con người thì văn hóa là cái nôi thứ hai. Nếu tự nhiên là cái quy định sự tồn tại
của con người với tư cách là một thực thể sinh vật, thì văn hóa là phương thức bộc
lộ, phát huy những năng lực bản chất người gắn liền với các hoạt động sống của con
người. Nói cách khác, văn hóa là sự kết tinh năng lực bản chất người trong thế giới
các sản phẩm do chính hoạt động con người tạo ra, là cái quy định bản chất con
người với tư cách là một “sinh vật có tính loài” - là “một thực thể xã hội” [70]. Như
vậy, văn hóa là khái niệm phản ánh tổng thể sự thể hiện ra và sự phát huy những
năng lực bản chất người trong tất cả các dạng thứ tồn tại hoạt động của con người
và là sự phản ánh tổng thể các hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra trong quá
trình thực tiễn - lịch sử - xã hội của mình.
1.1.2. Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Với ý nghĩa văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, văn hóa phải
được xem vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Văn
hóa là động lực cho sự phát triển con người, là nhân tố bên trong, nhân tố nội sinh.
Văn hóa khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của con người, phát huy năng
lực bản chất người. Mối quan hệ con người với văn hóa là gắn liền nhau, văn hóa
vừa thể hiện trong con người, đồng thời văn hóa là môi trường, là điều kiện cho sự
hình thành, phát triển nhân cách con người. Tức là, văn hóa góp phần vào điều tiết
quá trình phát triển kinh tế- xã hội.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, văn hóa luôn được xác định
là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng và điều đó thể hiện một cách nhất quán trong
đường lối văn hóa của Đảng ta từ ngày mới thành lập đến nay. Trong mỗi chính
sách kinh tế- xã hội luôn đòi hỏi phải bao hàm nội dung và mục tiêu văn hóa. Xây

8
dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công

9
một đất nước giàu hay nghèo không phải có nhiều hay ít lao động và tài nguyên
thiên nhiên mà chủ yếu là do có khả năng phát huy tiềm năng sáng tạo của nguồn
lực con người hay không. Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành
văn hóa, nghĩa là nằm trong sự hiểu biết, tâm hồn, đạo lí, lối sống, thị hiếu, trình độ
thẩm mĩ của mỗi cá nhân và cộng đồng. Hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa
trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao thì khả năng phát triển kinh tế-
xã hội càng lớn và hiện thực.
Nói văn hoá là động lực của sự phát triển phải nói đến vai trò của văn hoá
trong sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội: Phát triển phải mang tính đồng bộ, hệ
thống biểu hiện bằng chất lượng sống. Chìa khoá của sự phát triển tập trung ở một
nhân tố sau: Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; Nguồn vốn; Nguồn khoa học công
nghệ; Nguồn lực con người. Trong đó, nguồn lực con người có vai trò quyết định,
đây là chìa khoá của mọi chìa khoá. Con người tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất
tạo ra sản phẩm xã hội. Vì vậy cùng với quá trình phát triển phải hiện đại hoá dân
tộc, trước hết cần phải hiện đại hoá nguồn lực con người. Đầu tư vào giáo dục đào
tạo phải được coi là đầu tư cơ bản để đi tắt đón đầu trong quá trình phát riển. Con
người phải được phát triển toàn diện về trí lực và thể lực, tư tưởng, lý tưởng, đạo
đức, lối sống, đủ điều kiện để bước vào điều kiện kinh tế thị trường. Văn hoá phải
làm bà đỡ để cho sự ra đời của nền kinh tế tiên tiến văn minh thông qua việc hoàn
thành hệ thống pháp lý và đạo lý xã hội, chống lại những tiêu cực phản giá trị, phản
văn hoá do nền kinh tế thị trường dã man tạo ra.
Hiện nay, đất nước ta đang trong điều kiện kinh tế thị trường, đòi hỏi con
người phải có trình độ ngày càng cao: trình độ nhận thức, trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn, kỹ thuật. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải nắm chắc khoa học kỹ
thuật tiên tiến nhất, vấn đề ngoại ngữ, vi tính, tin họ…thì mới có thể hòa nhập với
thế giới phát triển được. Bên cạnh trình độ nhận thức, trình độ khoa học kỹ thuật để
phát triển kinh tế, con người xã hội hiện đại cũng phải có văn hoá: những hiểu biết
về văn hoá nghệ thuật (để sáng tạo và hưởng thụ – nếu không được đào tạo cơ bản
khó mà hưởng thụ được các tác phẩm văn học nghệ thuật), có mối quan hệ xã hội

Những tiếp cận của GS. Trần Từ đã chỉ ra cơ cấu tổ chức của làng - xã cổ
truyền ở Bắc Bộ với rất nhiều hình thức tập hợp khác nhau: tập hợp người theo địa
vực (ngõ, xóm), tập hợp người theo huyết thống (họ, chi, ngành), tập hợp người

11
theo líp tuổi (giáp), tập hợp người trong bộ máy chính quyền cấp xã (dân làng - xã,
hội đồng kỳ mục, lý dịch ) Các hình thức tổ chức, tập hợp này tuy tồn tại như các
“ốc đảo” theo những cơ chế vận hành riêng, nhưng lại đan cài chồng chéo vào nhau
tạo ra trong làng- xã những mối quan hệ - liên hệ rất chặt chẽ, gắn bó song vô cùng
phức tạp. Và trùm lên tất cả là làng - xã như tế bào sống của xã hội Việt, mà theo
tác giả có thể nói nó là một biển tiểu nông tư hữu.
Làng - xã chính là trung tâm sinh hoạt tự lập tự chủ của người dân, và cũng
là sức mạnh của dân tộc. Trước mọi cuộc xâm lăng thuộc mọi lĩnh vực, trước mọi
mưu đồ làm tổn hại cuộc sống hạnh phúc của người dân, hệ thống làng - xã đã luôn
luôn là cơ cấu chính yếu giúp dân tộc ta bảo toàn lực lượng, phục hồi sức mạnh, và
vùng lên phá tan giặc.
Làng - xã là một thiết chế xã hội, một đơn vị tổ chức chặt chẽ của nông
thôn Việt Nam trên cơ sở địa vực, địa bàn cư trú; là sản phẩm tự nhiên phát sinh
từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt; trồng trọt là điểm tập hợp cuộc
sống cộng đồng tự quản đa dạng và phong phú của người nông dân, ở đó họ sống,
làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hoá với thiên nhiên, xã hội
và bản thân họ.
Sự tái lập làng - xã ở thế kỷ thứ XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX là nguyên do
làng- xã cổ truyền vẫn còn có vai trò trong sự phát triển của sức sản xuất - sức sản
xuất nhỏ của tiểu nông cá thể. Làng - trong thời kỳ này chưa hết vai trò góp phần tổ
chức sản xuất. Mác đã nhận định: Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước
khi tất cả các lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó đã tạo địa bàn đầy đủ cho
phát triển vẫn chưa phát triển. Nhận định đó đã giúp chúng ta hiểu rõ làng- xã là tổ
chức của sản xuất nhỏ, khi sản xuất nhỏ còn giữ vai trò chủ đạo, chi phối trong xã
hội thì làng xã vẫn còn tồn tại và còn có vai trò lịch sử.

quyền sở hữu của làng xã. Đến giai đoạn này, văn hóa làng phát triển rực rỡ, tính
cộng đồng huyết thống, địa vực đan xen hòa trộn với tính cộng đồng văn hóa – tín
ngưỡng. Bởi thế, trải qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc chính quyền đô hộ vẫn
không đồng hóa được người Việt trong các làng, văn hóa Hán không lấn át được
văn hóa Việt. Văn hóa Việt được được bảo lưu, phát triển trong các làng - xã. Làng-
xã Việt không những là “cái nôi” nuôi nấng văn hóa Việt, mà còn là thành trì vững
chắc chống lại các cuộc xâm lăng và đồng hóa văn hóa.

13
Các di chỉ khảo cổ thuộc thời văn minh Đông Sơn cho biết, kiểu làng- xã
trên những gò đồi giữa miền đồng bằng là kiểu làng xuất hiện sớm và phổ biến
nhất. Khi tiến xuống miền đồng bằng, hệ thống đê điều trị thủy – thủy lợi chưa hình
thành khiến người Việt cổ phải chọn chỗ cao ráo trên các triền đồi, gò nhỏ làm nơi
trú ngụ. Hơn nữa, kiểu làng đó có thể phòng thủ, tiện lợi cho việc chống lại các
cuộc tiến công từ bên ngoài vào khi nền an ninh chưa được đảm bảo. Ở vùng đồng
bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phần lớn các con sông đều lên xuống thất thường,
nên chỉ sau khi hệ thống đê điều trị thủy đã khá hoàn chỉnh thì kiểu làng trải dọc
theo bờ sông, bờ kênh mới hình thành. Kiểu làng này trở nên phổ biến hơn sau khi
nền an ninh chung đã được đảm bảo bởi quốc gia – nhà nước.
Mãi đến thời cận đại, khi các nền đô thị cùng hệ thống giao thông đường bộ,
đường thủy đã khá phát triển, khi kinh tế hàng hóa đã xâm nhập và phát triển trong
nông thôn, thì kiểu làng bố trí ở các đầu mối giao thông, các ngã tư, trải dọc theo
các lộ giao thông, mới xuất hiện và phát triển. dọc theo miền duyên hải, có các làng
chài trên các cồn cát, trên những đồi đất ven cửa sông và ven biên, với lối quần cư
chật chội hơn do tính chất của chài lưới.
Một loại làng - xã không phổ biến nhưng khá độc đáo là làng thủy cơ hay
còn gọi là làng chài. Về mặt hình thế thì làng thủy cơ được thành lập trên mặt nước
gồm những chiếc thuyền- nhà của những người làm nghề chài lưới hay chở đò. Về
cơ bản, cách thức tổ chức và sinh hoạt cộng đồng của làng thủy cơ cũng tương tự
như các làng - xã ở trên cạn.

chấp nhận cái mới, dễ hòa nhập với cộng đồng. Văn hóa của ấp am Bộ về cơ bản là
văn hóa tổng hợp hài hòa của cộng đồng cư dân Nam Bộ trên cơ sở truyền thống
văn hóa Việt Nam. Tất cả những điều đó đều được phản ánh trong ý thức của người
dân ấp Nam Bộ nói chung và tâm lý cộng đồng ở đây nói riêng.
Văn hóa làng- xã là một môi trường văn hóa tiềm ẩn nhiều sắc thái, bao quát
gần như toàn bộ những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc. Ở đó, các thành tố, các
giá trị văn hóa dân tộc được sinh thành, lưu giữ và trao quyền tới mỗi cá thể và cả
cộng đồng từ thời đại này sang thời đại khác như một dòng chảy không ngừng.
1.2.2. Đặc trưng cơ bản của văn hóa làng - xã
Thứ nhất là chủ nghĩa tập thể:
Điểm mạnh của nó là mọi người trong cộng đồng thương yêu giúp đỡ lẫn
nhau, gắn bó với nhau tạo thành một tập thể. Nhưng đặc trưng đó chỉ phát huy tác

15
dụng trong làng xã khép kín, có quen biết thì có cộng đồng mà không quen biết thì
không có tập thể.
Bước vào xa
̃

̣
i công nghiê
̣
p - đô thị rộng lớn, nơi mà mọi người không thể
quen biết thân thiết hết được với nhau, mọi hậu quả xấu bắt đầu nảy sinh. Lẽ ra mỗi
người một việc, việc mình mình làm thì người Việt chúng ta cứ phải la cà trò chuyện,
rồi tự cho mình cái quyền can thiệp vào việc riêng của người khác, nhà khác ngay cả
khi người ta không làm gì ảnh hưởng đến mình, đến tập thể, cộng đồng.
Chủ nghĩa tập thể kéo theo hệ lụy khác là thói cào bằng: Người Việt Nam
không muốn ai hơn mình nên cứ thấy ai hơn mình là tìm cách phá họ, dìm họ
xuống. Thói nói xấu sau lưng cũng từ đây mà ra. Cho nên Nguyễn Du mới nói “Chữ

mối quan hệ thân tộc thì họ vẫn luôn liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành tình làng
nghĩa xóm, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau hay bán anh em xa mua láng giềng
gần. Như vậy, bà con lối xóm là mối quan hệ cộng đồng gắn kết quan trọng thứ hai
sau quan hệ huyết thống dòng tộc.
Nguyên tắc quan trọng hình thành nên làng xã là chủ nghĩa tập thể. Chủ
nghĩa tập thể có vai trò gắn kết các thành viên trong làng lại với nhau thông qua
các biểu tượng mang tính truyền thống, như cây đa, bến nước, sân đình. Hầu hết,
mọi làng xã của người Việt đều hội tụ cả ba biểu tượng này. Dù đi xa mãi đâu mỗi
khi về làng, hình ảnh mà người ta mong chờ được nhìn thấy đầu tiên chính là cây đa
đầu làng. Phải nói rằng, cây đa chính là nơi hội tụ giao tiếp của làng với thế giới bên
ngoài, là chốn nghỉ chân của lữ khách qua đường hay của những người dân sau một
ngày lao động nơi đồng ruộng. Bên cạnh cây đa, bến nước chính là nơi tập trung
cho sinh hoạt thường nhật của dân làng, đặc biệt là những người phụ nữ. Bến nước
có thể là một đoạn của con sông chảy qua làng hay một hồ lớn của làng thậm chí
đôi khi chỉ là một giếng nước. Đây chính là chỗ giao lưu, tâm sự chuyện trò của chị
em phụ nữ trong khi tắm cho con, vo gạo, rửa rau…
Nếu như, bến nước là nơi tập trung của phụ nữ trong làng thì cánh đàn ông
của làng lại thường tập trung ở sân đình. Sân đình chính là trung tâm hành chính,
văn hoá xã hội của làng- xã. Tất cả các việc quan trọng của làng đều diễn ra ở đây
như hội họp việc làng, xét xử kiện tụng, đón rước quan trên, hội hè ăn uống, văn
hoá văn nghệ giải trí. Về mặt kiến trúc, đình làng được xây dựng trên những nguyên

17
tắc của thuật phong thuỷ và thường được xây dựng tại trung tâm của làng. Một làng
có phúc hay không người ta thường ngắm đình của làng đó xem thế đất và hướng
đình có phù hợp theo phong thuỷ không.
Như vậy, có thể tóm lại rằng, trong truyền thống cộng đồng Việt Nam, ít
thấy những quan hệ trực tiếp giữa cá nhân với các cộng đồng lớn mà thường là quan
hệ trách nhiệm với xóm làng, làng có trách nhiệm với nước và ngược lại. Bởi thế,
một cá nhân bình thường chỉ có vai trò trong khuôn khổ gia đình họ mà thôi, còn ra

Xuất phát điểm của làng- xã Việt Nam truyền thống về cơ bản là làng- xã
nông nghiệp. Nền kinh tế làng- xã mang tính tự cung, tự cấp. Mọi sinh hoạt đều bị
bó hẹp bên trong lũy tre làng, ít có điều kiện giao lưu với bên ngoài, khép kín với
thói quen sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán. Phương thức sản xuất này cùng với
tính khép kín trong quan hệ dòng họ, thôn xóm dẫn đến tư duy của người tiểu nông
không có tầm nhìn xa, không có tính chiến lược, bảo thủ trong sự tiếp nhận cái mới.
Cách tư duy ấy, cách nhìn ấy, cùng với sự rụt rè thiếu tự chủ của con người cá nhân
trong cộng đồng là điều kiện để nảy sinh tâm lý bám làng; dù đói, dù no cũng bám
lấy làng mình, ở lại làng mình: “Ta về ta tắm ao ta ”. Người nông dân thích sự ổn
định, an phận, ngại đi xa để làm ăn mở mang tầm nhìn, họ chỉ muốn “an cư lạc
nghiệp” nên nảy ra tâm lý cầu an. Người tiểu nông Việt Nam vốn ưa cái thanh bình,
tĩnh lặng, nhẹ nhàng, ngại sự thay đổi. Vì vậy, không nên đánh giá quá cao những
yếu tố tương tự dân chủ của làng xã, vì cùng với thời gian, chúng đã chuyển hóa
thành mặt đối lập.
Thứ ba là tính tự quản của làng – xã:
Tính tự quản của làng – xã được thể hiện ở chỗ, các thành viên giám sát lẫn
nhau đã trở thành một yêu cầu tự nhiên và là biện pháp quan trọng để duy trì kỷ
cương. Tính tự quản được vận hành thông qua kết cấu quản trị của các làng – xã.
Tính tự quản được thực hiện trên cơ sở việc tất cả mọi người đều tự nguyện hành
động theo hương ước.
Chế độ quân điền thực hiện, ruộng đất của làng nào thì làng ấy sử dụng, nhà
nước không trực tiếp phân chia, làng tự phân chia lấy đã làm cho tính tự trị tương
đối của làng xã tiếp tục tồn tại.
Tính tự quản của làng- xã vốn có nguồn gốc lịch sử xa xưa, nhưng vịêc thực
hiện chế độ quân điền và sự xuất hiện thêm các quan hệ cộng đồng trong làng- xã

19
làm cho nó càng được củng cố. Việc chia ruộng đất đòi hỏi phải có tổ chức đại diện
các giáp, các họ cùng với hội đồng chức dịch bảo đảm sự phân chia cho hợp lý,
tương đối công bằng. Việc phân chia này lại có lệ riêng của làng, có khi không theo

người chỉ tồn tại hợp pháp với tư cách là thành viên chính thức, vì lý do nào đó mà
có người không đủ tư cách chính thức như dân ngoại tịch ngụ cư hoặc bị xoá tên
trong sổ làng thì không được lệ làng đảm bảo, bị sống ngoài lệ làng.
Sự phát triển dân số càng tăng, mật độ dân số càng đậm đặc thì mối liên kết
càng chặt. Điều này thể hiện trong các hương ước. Những làng- xã có lịch sử lâu
đời, có nhiều ngành nghề, dân số đông và nhiều tầng lớp xã hội khác nhau thì
hương ước lại càng phức tạp, đa dạng, quy định càng chi tiết, cụ thể. Chẳng hạn như
làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An) là làng lớn, đông dân, làm nhiều nghề
nghiệp, nhiều tầng lớp xã hội thì hương ước khá dày, hàng mấy trăm điều khoản,
được biên soạn trong nhiều thế hệ, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX. Hương ước làng
Quỳnh Đôi lại chia làm 3 phần: khoán hội, khoán làng, khoán phe. Hoặc như làng
Mộ Trạch (Cẩm Bình, Hải Dương) cũng là làng dân đông, lâu đời lại có nhiều quan
lại sĩ phu thì hương ước cũng ra đời rất sớm và có trên trăm điều khoản.
Ở vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Lam sở dĩ có hiện tượng
hương ước xuất hiện và xuất hiện sớm còn do tác động của dân số. Làng nào dân số
đông thì hương ước phức tạp, đa dạng và ngược lại nếu dân thưa ruộng nhiều, nghề
ít thì hương ước ít điều khoản, đơn giản. Bởi lẽ, một trong những tính chất của
hương ước là tự điều khiển xã hội trong làng, dân càng đông càng nhiều nghề mà lại
muốn tạo nên một kết cấu chặt chẽ, ổn định thì hương ước phải phong phú, phức
tạp, đề cập nhiều mặt của cuộc sống (bao gồm tư tưởng, tín ngưỡng, hội làng, kinh
tế, giáo dục, hương ẩm…)
Tuy nhiên, tính tự quản của làng- xã có hai mặt:
Một là, về mặt tích cực.Có thể thấy tác dụng tích cực nhất của tính tự quản
làng- xã là làm cho nội bộ làng xã có một sự cố kết chặt chẽ mà khó có thế lực nào
có thể phá vỡ. Nó làm nên sức sống lâu bền của làng.
Nhờ làng xã có tính tự quản tương đối góp phần làm cho đất nước có một
nền văn hoá phong phú, đa dạng. Chúng ta đã có những làng văn hoá với những nét
văn hoá đặc trưng nổi bật. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, nó không bị văn hoá
của tổ chức xã hội khác đồng nhất. Nó không bị xoá bỏ bởi văn hoá làng khác, vùng


che ngựa cưỡi đến đây cũng hèn”, hay câu “ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục ao

Trích đoạn Khái quát chung Thực trạng văn hóa làng xã ở Hưng Yên trong điều kiện Giải pháp về kinh tế-xã hội Giải pháp về chính trị xã hội Giải pháp về văn hóa xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status