Tư tưởng nhập thế của phật giáo thời Lý - Trần và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN

HOÀNG THỊ QUYÊN TƢ TƢỞNG NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO THỜI
LÝ - TRẦN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI
VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tôn giáo học

HÀ NỘI- 2015

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MỞ ĐẦU 2
CHƢƠNG 1 11
TƢ TƢỞNG NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO LÝ - TRẦN 11
1.1. Điều kiện, tiền đề hình thành tƣ tƣởng nhập thế của Phật giáo thời
Lý - Trần 11
1.1.1. Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thời Lý - Trần 11
1.1.2. Tiền đề tư tưởng 19
1.1.3. Khái quát diện mạo Phật giáo thời Lý - Trần 24
1.2. Nội dung tƣ tƣởng nhập thế của Phật giáo thời Lý - Trần 30
1.2.1. Tư tưởng bình đẳng 30
1.2.2 Tư tưởng yêu nước 38
1.2.3. Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” 46
CHƢƠNG 2 57
VAI TRÒ TƢ TƢỞNG NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO LÝ - TRẦN VÀ
Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY 57
2.1. Vai trò tƣ tƣởng nhập thế của Phật giáo Lý - Trần 57
2.1.1. Tư tưởng nhập thế của Phật giáo Lý - Trần đối với chính trị 57
2.1.2.Tư tưởng nhập thế của Phật giáo Lý - Trần đối với đạo đức 69
2.1.3. Tư tưởng nhập thế của Phật giáo Lý - Trần đối với giáo dục, văn
hóa, nghệ thuật 76
2.2. Ý nghĩa tƣ tƣởng nhập thế của Phật giáo Lý - Trần đối với xã hội
Việt Nam hiện nay 87
2.2.1. Phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết nhằm giữ gìn độc lập
dân tộc 87
2.2.2. Phát huy truyền thống gắn đạo với đời, tham gia công tác từ
thiện xã hội 91
2.2.3. Phát huy các giá trị đạo đức Phật giáo Lý - Trần trong việc chấn
hưng đạo đức xã hội 95
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

này của Phật giáo đã mang lại sự hiện diện của Phật giáo trong suốt quá trình
thăng trầm của lịch sử dân tộc, luôn đồng hành gắn kết với dân tộc.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công
nghệ hiện đại, bên cạnh những thành tựu vĩ đại mà nhân loại đạt được trong
nền văn minh công nghệ thì những giá trị văn hoá tinh thần, tôn giáo không

3
hề bị xem nhẹ, mà ngược lại càng được coi trọng. Trong điều kiện lịch sử
mới, các tôn giáo không ngừng thay đổi bản thân mình để phù hợp với sự thay
đổi của xã hội. Chính sự phát triển và giao lưu giữa các tôn giáo đã góp thêm
phần thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá trong các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa, giữa các quốc gia. Nhân loại hiện nay đang bước vào giai đoạn hậu công
nghiệp, hay nền văn minh trí tuệ, nền kinh tế tri thức. Bên cạnh đời sống kinh
tế rất phát triển với một khối lượng của cải vật chất đồ sộ do tiến bộ khoa học
kỹ thuật mang lại, thì đời sống tinh thần của con người trong xã hội hiện đại
đang phải đối mặt với những khổ nạn mới như: sự phân hóa giàu nghèo, cạnh
tranh và xung đột, ô nhiễm môi trường, và sự tha hóa về mặt đạo đức lối
sống… Đối mặt với những khổ nạn ấy, Phật giáo với giá trị nhân bản trong
việc giải thoát cho con người dường như đã đáp ứng được nhu cầu tâm linh,
khoảng trống và nỗi thất vọng trong lòng con người. Bằng khả năng điều
chỉnh sự cân bằng trong nội tâm, Phật giáo có thể giúp con người sống hài
hòa trong thế giới này. Phật giáo là một tôn giáo lớn, và ngày nay chúng ta
không khỏi ngạc nhiên khi thấy nhân loại, đặc biệt là các nước phương Tây
đang có trào lưu hướng về châu Á, hướng về đạo Phật. Điều này có thể lý giải
một phần từ những giá trị nhân văn của đạo đức Phật giáo. Hơn nữa, Phật
giáo đã thực sự nhập thế trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, ngay cả các hoạt
động kinh tế kinh doanh. Phật giáo không dạy con người ta xa rời cuộc sống
để làm thần, làm thánh hoặc xuất gia làm hòa thượng trong chùa chiền, nơi
rừng sâu, mà Phật giáo hướng tới cải tạo xã hội, cải tạo thế giới bằng đạo đức,
làm cho loài người tiến bộ và nhân văn hơn.

2.1. Các công trình nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam
Nguyễn Hùng Hậu với Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, Nxb
Khoa học Xã hội. Bằng phương pháp luận triết học tác giả đã trình bày tư
tưởng Phật giáo Việt Nam qua từng giai đoạn từ du nhập đến việc ra đời các
dòng thiền như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm
Yên Tử,… cũng như ảnh hưởng của Phật giáo với dân tộc Việt Nam với sự
trình bày theo lát cắt thế giới quan và nhân sinh quan.
Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang gồm 3 tập, Nxb Văn học
Hà Nội, năm 2010. Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu khá chi tiết về
lịch sử Phật giáo Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc, cũng khái
quát được một số đóng góp của Phật giáo từng thời kỳ lịch sử dân tộc với văn
học nghệ thuật, giáo dục, chính trị, quân sự, văn hóa trong đó, đã ít nhiều
cũng có đề cập đến vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa tinh thần của
người Việt Nam trong lịch sử dân tộc.

5
Nguyễn Tài Thư trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Nxb Khoa học Xã
hội, năm 1998. Tác giả đã bàn về lịch sử du nhập và quá trình phát triển của
Phật giáo từ thời kỳ đầu mới du nhập đến thế kỷ XX, bàn về các tông phái
Phật giáo và đã phân tích vai trò của Phật giáo đối với lĩnh vực tư tưởng chính
trị trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam và tác giả cũng đã khẳng định: “Nếu
như nhập thế là một khuynh hướng tư tưởng của một học thuyết, một tôn giáo
chủ trương tham gia các hoạt động chính trị và giải quyết các vấn đề chính trị
xã hội thì Phật giáo không phải là một Tôn giáo nhập thế - trái lại nó là tôn
giáo xuất thế hay còn gọi là yếm thế.”
Trần Văn Giàu với một loạt các công trình như: “Giá trị tinh thần
truyền thống của dân tộc Việt Nam” (Nxb KHXH, Hà Nội 1975),“Đạo đức
Phật giáo trong thời hiện đại” (Nxb Tp Hồ Chí Minh 1993) và “Sự phát triển
của tư tưởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám” (3 tập)
(Nxb CTQG, Hà Nội 1997, 1998) đã đề cập đến những giá trị đạo đức Phật

giáo Trần Nhân Tông, cụ thể qua các tác phẩm thiền học của ông. Tác giả kết
luận, ở Trần Nhân Tông yếu tố nhập thế thể hiện rõ ở sự thống nhất hai mặt
trong con người ông: con người triều thần và con người Phật tử, vì vậy tôn
sùng Phật giáo và nhập thế hoạt động luôn là một trong con người Trần
Nhân Tông.
Lịch sử tư tưởng Việt Nam của PGS. Nguyễn Tài Thư (chủ biên), tập I,
(tư tưởng Việt Nam từ thời kỳ Nguyên thủy đến thế kỷ XVIII), Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội, năm 1993. Quyển sách này chủ yếu trình bày tư tưởng triết
học của các vị vua, quan và các vị thiền sư.
Thơ văn Lý - Trần, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 1977;
Thơ văn Lý - Trần, tập 2, Quyển thượng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm
1989; Thơ văn Lý - Trần, tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 1978;
Khóa hư lục (Đào Duy Anh dịch) của Trần Thái Tông, Nxb Khoa học Xã hội,
Hà Nội, năm 1974; Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 2, Nxb Khoa học Xã hội,
Hà Nội, năm 2000; Thiền học Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Thuận
Hóa, năm 1997…
Trần Thánh Tông với “Khoá hư lục” đã phản ánh khá rõ ảnh hưởng
của Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần Đại Việt. Trần Nhân Tông qua
một loạt tác phẩm của mình cũng khẳng định vai trò của Phật giáo trong đời
sống xã hội, ông muốn phát huy hơn nữa vai trò của tôn giáo này, đồng thời
xây dựng một tổ chức giáo hội chặt chẽ, thống nhất để trở thành trung tâm
liên kết toàn xã hội trên lĩnh vực tư tưởng. Các tác phẩm văn học nêu trên khá
phổ biến trong giới nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, các tác phẩm phần lớn
chú trọng tư tưởng Thiền học và văn thơ. Thông qua đó, người nghiên cứu lý

7
giải vai trò của tư tưởng nhập thế Phật giáo thời Lý - Trần tác động đến
đường lối xây dựng chính trị, ngoại giao cũng như văn hóa, giáo dục để tiến
đến xây dựng nền độc lập chủ quyền quốc gia.
2.3. Các công trình nghiên cứu về tinh thần nhập thế của Phật giáo

8
nhiệm vụ của tăng ni, phật tử và đi đến kết luận, Phật giáo nhập thế là Phật
giáo từ bi và đắc dụng. Sau đó tác giả phân tích, làm rõ tinh thần nhập thế của
Phật giáo dân gian Việt Nam. Tác giả Đặng Thị Lan với “Tìm hiểu về tinh
thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam” (tạp chí Khoa học xã hội nhân văn số
1/2003) đã chỉ ra tinh thần nhập thế của Phật giáo thể hiện rất rõ ràng ở hai
khía cạnh: “dùng đạo để hướng dẫn đời và dùng đời để thực hành đạo”. Tác
giả nhấn mạnh “tại thế gian giác” việc giác ngộ thế gian, hiểu rõ thế gian của
người tu sĩ Phật giáo. Tác giả Trần Hồng Liên với “Chức năng của Phật giáo
đối với vấn đề Kinh tế” (tạp chí Khoa học xã hội số 9+10/2007, tr. 81-89) và
“Chức năng của Phật giáo đối với vấn đề xã hội” (tạp chí Khoa học xã hội số
5/2008, tr. 55-65) đã phân tích và làm rõ vai trò, chức năng của Phật giáo
ngày càng gia tăng trong các vấn đề kinh tế, xã hội. Tác giả đi đến khẳng định
Phật giáo trong xã hội hiện đại là Phật giáo nhập thế, thể hiện ở hai khía cạnh
quan trọng là Phật giáo từ bi và trí tuệ.
Như vậy, khi nghiên cứu khái niệm “nhập thế”, một số học giả đã đặt
trong tương quan với khái niệm “thế tục hóa”, một phần do có sự tương đồng
của hai khái niệm này. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ tiếp
thu kết quả nghiên cứu khái niệm “nhập thế”, nên khái niệm “thế tục hóa” chỉ
được nhắc tới khi có nội dụng liên quan trong xu hướng chung của sự phát
triển các tôn giáo hiện đại. Vấn đề nhập thế của Phật giáo không còn phải là
một vấn đề mới mẻ, mà đã được các học giả bàn nhiều và bóc tách dưới nhiều
khía cạnh khác nhau của nhập thế. Song, nhìn chung, các bài nghiên cứu về
vấn đề này còn nói rất chung chung và chủ yếu nhấn mạnh vai trò, tính đắc
dụng của Phật giáo trong xã hội hiện đại mà chưa chỉ ra cụ thể Phật giáo nhập
thế như thế nào và cũng chưa thấy được tinh thần nhập thế của Phật giáo vốn
có ngay từ trong Phật giáo nguyên thủy khi Đức Phật sáng lập tôn giáo này.
Tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, người nghiên cứu tiếp tục
nghiên cứu và sáng tỏ vấn đề, nhưng không chỉ dừng lại ở làm rõ khái niệm,
luận văn còn chỉ ra lôgic phát triển của vấn đề - đó là mạch nguồn xuyên suốt

logic - lịch sử, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp phân tích tài
liệu… để thực hiện mục đích của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ tư tưởng nhập thế của Phật giáo thời
Lý - Trần và ý nghĩa của nó đối với xã hội Việt Nam hiện nay.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành
Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học…, đặc biệt việc nghiên cứu về Phật
giáo Việt Nam thời Lý - Trần. 10
7. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ hơn tư tưởng nhập thế của Phật giáo
thời Lý - Trần và vai trò của nó đối với xã hội Việt Nam đương thời trên các
lĩnh vực cơ bản như chính trị, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, trong đó nổi bật
lên là vai trò đóng góp của các thiền sư đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng
đất nước.
Kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn của luận văn chỉ ra vai trò và ý
nghĩa của tư tưởng nhập thế của Phật giáo Lý - Trần đối với xã hội Việt Nam
hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn chia thành 2 chương và 4 tiết. 11
CHƢƠNG 1
TƢ TƢỞNG NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO LÝ - TRẦN
1.1. Điều kiện, tiền đề hình thành tƣ tƣởng nhập thế của Phật giáo
thời Lý - Trần

12
tựu hết sức to lớn về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và đặc biệt có những
chiến công hiển hách trong những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm để bảo vệ
nền độc lập của Tổ quốc.
* Điều kiện kinh tế
Về nông nghiệp: Thời Lý - Trần đặc biệt quan tâm đến sản xuất nông
nghiệp. Sức lao động của nông dân trên đồng ruộng, sức kéo trong nông
nghiệp là trâu bò được nhà nước bảo vệ. Khi Lý Công Uẩn mới lên ngôi năm
1010, đã xuống chiếu bắt tất cả những người đào vong phải trở về bản quán,
như vậy cốt là để số lượng lao động được đảm bảo. Năm 1065, Lý Thánh
Tông hạ chiếu khuyến nông. Các vua nhà Lý còn thực hiện công việc cày
ruộng tịch điền và nhà vua còn tự đi xem gặt ở hành cung Ứng Phong (Nghĩa
Hưng, Nam Định). Nhà Lý cũng có lệnh bảo vệ trâu bò. Trộm trâu hay giết
trâu bị tội rất nặng. Năm 1117, thái hậu Linh Nhân nói rằng: “Gần đây ở kinh
thành, hương ấp có nhiều người trốn, lấy việc trộm trâu làm nghề nghiệp, trăm
họ cùng quẫn, mấy nhà cày chung một trâu. Trước đây ta đã từng nói đến việc
ấy, nhà nước đã có lệnh cấm. Nay giết trâu càng nhiều hơn trước” [29, 143].
Vì thế, vua ra lệnh kẻ nào ăn trộm trâu, giết trâu, phạt 80 trượng người biết mà
không tố giác cũng bị phạt 80 trượng. Bên cạnh việc bảo vệ người lao động và
sức sản xuất nhà nước cũng chú ý tới việc khẩn hoang, xây dựng và quản lý
các công trình thuỷ lợi để ngăn chặn lũ lụt của nhà nước đã được các tầng lớp
nhân dân hưởng ứng. Nhiều đoạn đê quan trọng ở lưu vực sông Hồng và
những sông lớn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã được đắp và thường xuyên tu
bổ, triều đình đặt ra những Hà đê chánh sứ, phó sứ để coi sóc đê điều và thuỷ
lợi. Việc khai khẩn đất hoang đề ra từ thời Lý và đặc biệt được đẩy mạnh vào
thời Trần. Hàng năm, nhà vua thường cử hành lễ cày ruộng vào đầu tháng
riêng để cổ vũ ý thức trọng nông trong nhân dân. Chính sách “Ngụ binh ư
nông” được thi hành từ thời Lý đã kết hợp với việc xây dựng quân đội với việc
bảo vệ sức sản xuất trong nông nghiệp. Nhìn chung, nền nông nghiệp thời Lý -
Trần qua các chính sách khuyến nông, làm đường, trị thủy và xây dựng thủy

Đất nung: Gạch, ngói làm vật liệu xây dựng có số lượng lớn. Dùng để
xây dựng các chùa chiền, bảo tháp, cung điện và bề mặt các loại gạch thường
có hoa văn phong phú như rồng uốn khúc, dây cúc, hoa sen, tượng Phật…
Nghề gốm đã tồn tại khá lâu trong lịch sử dân tộc, đến thời Lý - Trần
đã đạt trình độ cao về kỹ thuật lẫn nghệ thuật. Đồ gốm được sử dụng phổ biến
trong xây dựng tiêu biểu là hai công trình chùa Diên Hựu và tháp Sùng Thiện
Diên Linh. Thời này cũng có trung tâm sản xuất gốm tiêu biểu như Bát Tràng
(Gia Lâm, Hà Nội). Gốm này đẹp, tinh vi được làm đồ cống phẩm bang giao
và buôn bán với nước ngoài.

14
Nghề đúc đồng cũng có những thành tựu. Đồng được sử dụng để đúc
chuông, tượng, tiền, vũ khí và các đồ dùng sinh hoạt. Số đồng chi phí vào công
việc này khá lớn. Năm 1035, Lý Thái Tông cho phát 6000 cân đồng đúc
chuông treo ở chùa Trùng Quang ở núi Tiên Du (Bắc Ninh). Sau đó lại phát
7560 cân đúc tượng Di Lặc và 2 vị Bồ tát… Trung tâm đúc đồng cổ truyền
thời Lý - Trần ở làng Bưởi (làng Đại Bái, Gia Lương, Bắc Ninh).
Nghề rèn sắt. Được phát triển mạnh hình thành nhiều làng chuyên
nghiệp. Ở các phủ Diễn Châu, Nghệ An có hai làng Tùng Lâm và Hoa Chàng.
Người thợ rèn ở đây vừa làm ruộng vừa rèn sắt. Lò rèn được đặt ở nơi cư trú
và quặng sắt lấy ở núi thuộc khu vực Trường Sắt cách Nho Lâm về phía nam
hơn 10 km. Mặc dù, kỹ thuật bấy giờ là thủ công nhưng dân ta đã biết cách
nung chảy kim loại để chế tạo vũ khí, làm đồ dùng sinh hoạt.
Nghề làm giấy và in bản gỗ cũng được phát triển. Do sự phát triển kinh
tế, văn hóa, giáo dục và yêu cầu của văn thư hành chính đòi hỏi nghề làm giấy
và khắc bản in phải ngày càng mở rộng. Vua Anh Tông khi làm thái thượng
hoàng đã tặng chùa Siêu Loại 500 hòm kinh Đại Tạng. Nhiều địa phương làm
giấy xuất hiện và nổi tiếng ở kinh thành như làng Bưởi, Yên Thái, Yên Hòa,
Làng Hồ, Làng Nghề (Nghĩa Đô) còn lưu giữ cho đến ngày nay.
Thủ công nghiệp thời Lý - Trần phát triển khá phong phú với nhiều

giao thông thủy bộ đều có phố cả như phố Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh)
bên bờ sông Dâu là nơi buôn bán cố định.
Một địa điểm ngoại thương quan trọng thời này là cảng biển Vân Đồn.
Đây là quân cảng và thương cảng có dáng vẻ quốc tế của nước Đại Việt thời
Lý - Trần. Biển cả vốn là con đường giao thông quốc tế quan trọng nhất của
nước ta, là mạch nối giữa Đại Việt và các nước xung quanh. Các cửa biển Hội
Thống, Cần Hải (đều thuộc Nghệ - Tĩnh), Hội Triều (Thanh Hóa) và đặc biệt
Vân Đồn, đây là những trung tâm buôn bán lớn với người nước ngoài, những
điểm quy tụ đường biển thời Lý - Trần. Tại các cảng này, hàng hóa khá nhiều,
thương nhân tấp nập. Sứ giả Trần Phu có viết: “Phủ Tinh Hoa (Thanh Hóa)
cách thành Giao Châu (chỉ Thăng Long) 200 dặm. Thuyền bè nước ngoài đến
tụ hội ở đây (chỉ cửa Hội Triều) mở chợ ngay trên thuyền. Cảnh buôn bán thật
là thịnh vượng” [33, 211]. Điều này cho thấy vào thời kỳ này các đồ thủ công
mỹ nghệ và nông sản đã đạt được độ tinh sảo và có giá trị nên việc buôn bán
với nước ngoài mới tấp nập nhộn nhịp.
Tương ứng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi, các đường giao
thông thuỷ bộ, các hệ thống trạm dịch trong thời Lý - Trần cũng được mở
mang thêm. Từ Thăng Long toả đi các nơi có cả một hệ thống đường thuỷ bộ
nhất là trên các đường sông và ven biển đã có nhiều thuyền lớn đi lại tấp nập.

16
Có thể nói nền kinh tế của nước Đại Việt đã phát triển với một sinh lực
dồi dào và đạt tới trình độ khá cao trong khuôn khổ một chế độ sở hữu phong
kiến đặc thù lúc bấy giờ.
* Điều kiện chính trị, xã hội:
Ở nước ta, từ thời Đinh cho đến giữa thời Trần, chế độ sở hữu nhà
nước về ruộng đất chiếm ưu thế trong xã hội. Đại bộ phận ruộng đất trong
nước lúc ấy là công điền, công thổ của làng xã. Nhưng ruộng đất này lại thuộc
quyền sở hữu tối cao của nhà vua. Bên cạnh ruộng công của làng xã còn có
ruộng quốc khố của triều đình, điền trang thái ấp của quý tộc và ruộng của nhà

trong điều kiện của một quốc gia phong kiến độc lập tự chủ, nền văn hóa tinh
thần của nước Đại Việt cũng phát triển mạnh. Nhất là khi vương triều Lý
được xác lập, sự phát triển ấy đã đạt được những thành tựu rực rỡ. Mấy thế kỷ
sau sự phát triển ấy vẫn tiếp tục, đặc biệt vào thời Trần sau khi nhân dân ta đã
ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông.
Thời đầu Lý, nền giáo dục Đại Việt chủ yếu Phật học. Lý Công Uẩn đã
học ở chùa Lục Tổ. Các sư tăng đồng thời cũng là những trí thức. Dần dần,
cũng như Nho giáo, giáo dục khoa cử Nho học ngày càng phát triển.
Thời Lý - Trần, Nho học phát triển từ trên xuống dưới. Năm 1070, Văn
Miếu được thành lập, cũng là nơi dành riêng để dạy học cho Hoàng Thái tử.
Lúc đầu, khi mới mở trường Quốc Tử Giám (năm 1076), chỉ có các quý tộc
quan liêu và con em được theo học. Nhìn chung, việc giáo dục Nho học ở thời
Lý còn khá hạn chế.
Giáo dục Nho học đã có nhiều tiến bộ dưới thời Trần. Quốc Tử Giám,
với những tên gọi mới (Quốc tử viện, Quốc học viện) đã được củng cố và mở
rộng đối tượng học tập. Năm 1236, đặt chức Thượng thư tri Quốc tử viện, đưa
con em văn thần và tụng thần vào học. Năm 1253, Nhà nước sai sửa sang
Quốc học viện, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Mạnh Tử, vẽ tranh Thất
thập nhị hiền để thờ, lại xuống chiếu vời Nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện
giảng Tứ thư lục kinh. Năm 1272, xuống chiếu tìm người tài giỏi, đạo đức,
thông hiểu kinh sách làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, có thể giảng bàn ý nghĩa
của Tứ thư, Ngũ kinh sung vào hầu nơi vua đọc sách.
Ngoài Quốc tử viện một loại trường Nho học cấp cao, thời Trần còn
một số trường Nho học khác. Ta có thể kể đến: trường phủ Thiên Trường,
trường Lạn Kha thư viện (ở chùa Phật Tích), trường của Chiêu quốc vương
Trần Ích Tắc và trường Cung Hoàng của Nho sĩ Chu Văn An, trước đó đã
từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm 1397, triều đình lại đã chính
thức sai đặt nhà học và chức học quan (được nhà nước trợ cấp phần ruộng
công thu hoa lợi) ở các lộ phủ địa phương như Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải


ngoại sinh, tạo nên một phong cách riêng cho mình. Văn hóa Đại Việt thời Lý
- Trần, vì thế, đã mang tính dân tộc sâu sắc.
Cũng dựa trên sự cân bằng văn hoá, văn hóa Lý - Trần là sự hỗn dung
của dòng văn hóa dân gian với dòng văn hóa cung đình, giữa những yếu tố

19
bình dân với những yếu tố bác học, giữa Phật - Đạo và Nho. Gam màu nổi bật
của văn hóa thời kỳ này là sự ưu trội của dòng văn hóa dân gian, đan xen vào
sinh hoạt văn hóa cung đình, tuy xu thế phát triển của nó là ngả dần sang văn
hóa Đông Á Nho giáo. Văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần đã mang đậm tính
dân gian.
Đậm đà màu sắc Phật - Đạo và dân gian, ảnh hưởng của Nho giáo còn
ở mức khiêm tốn, văn hóa Lý - Trần không bị ràng buộc nhiều bởi những giáo
điều, tín điều. Khái niệm “lễ” trong Nho giáo ở thời Lý - Trần còn rất nhạt,
thay vào đấy là tính cởi mở, nhân bản, gần gũi con người với một “mép lề
phóng khoáng”. Văn hóa Đại Việt thời kỳ này do vậy, hàm chứa nhiều tinh
thần khai phóng.
Văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần chính là một sức mạnh tinh thần, vừa
là một xung lực vừa là một kháng thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước. Đồng thời nó cũng là một tố chất cố kết cộng đồng người Việt, trên cơ
sở tìm về một cội nguồn lịch sử và văn hóa chung, làm chín muồi ý thức quốc
gia và tinh thần dân tộc Việt.
Như vậy, trong những thế kỷ đầu độc lập, với tinh thần dân tộc và ý
thức tự cường, nhân dân Đại Việt đã xây dựng nên một nền kinh tế, chính trị,
xã hội và văn hóa - giáo dục vững chắc bước đầu đã đạt được những thành
tựu. Họ đã phát huy mọi khả năng để tạo nên một nền văn hóa dân tộc đa
dạng, phong phú, đặc sắc vừa có những nét tiếp nối nền văn hóa cổ truyền
vừa có những nét sáng tạo, mới mẻ xuất phát từ sự tiếp nhận ảnh hưởng của
các nền văn hóa các nước xung quanh. Nền văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần
đã trở thành cơ sở vững bền cho những thành tựu văn hóa của các giai đoạn

sống xã hội. Hầu hết các vua Lý (Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân
Tông, Thần Tông, Anh Tông) và nhiều vua Trần (Thái Tông, Thánh Tông,
Nhân Tông) đều sùng Phật, sai dựng chùa tháp, tô tượng đúc chuông, dịch
kinh Phật, soạn sách Phật Như năm 1031, vua Lý xuống chiếu phát tiền,
thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 chỗ. Nhiều quý tộc tôn thất
đã quy Phật như Hoàng Thái hậu Ỷ Lan, Tuệ Trung thượng sĩ (Trần Tung).
Khắp nơi, nhiều chùa chiền đã được xây dựng như các chùa Diên Hựu (Một
Cột), Phật Tích, Long Đội, Báo Thiên, Bối Khê, Thái Lạc, Phổ Minh, cụm
quần thể chùa tháp ở Yên Tử… Phần lớn các công trình này đã được nhà
nước tài trợ. Đông đảo quần chúng bình dân trong làng xã nô nức theo đạo
Phật. Lê Quát sống vào cuối đời Trần, nhận xét: "Từ trong kinh thành cho đến
ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta
cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin, hễ nơi nào có nhà ở là ắt có chùa
chiền, Dân chúng quá nửa nước là sư " [29, 96].

21
Thời Lý - Trần, có rất nhiều vị sư tăng nổi tiếng trong cả nước, có uy
tín và địa vị chính trị - xã hội. Có thể, kể đến các nhà sư Vạn Hạnh, Mãn
Giác, Viên Thông, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Giác Hải, Pháp Loa,
Huyền Quang. Do du nhập vào Đại Việt từ nhiều con đường khác nhau cũng
như do sự tiếp thu của người dân Việt đương thời, Phật giáo không chỉ có một
dòng duy nhất. Có 3 tông phái chủ yếu: Tịnh Độ tông thờ đúc Phật Adiđà, chú
trọng đến lễ thức lên chùa lễ Phật, phổ biến trong quần chúng bình dân làng
xã; Mật tông sử dụng nhiều phép lạ và chữa bệnh, phần nào có ảnh hưởng của
Đạo giáo (như các nhà sư Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không); Thiền tông
vốn có truyền thống từ lâu, có thế lực lớn nhất, chú trọng đến thiền định về tư
tưởng, chủ trương Phật tại Tâm, được các giới quý tộc, trí thức hâm mộ.
Trong trào lưu chung đó, giai cấp thống trị mong muốn tìm ra một tôn giáo
làm nền cho sinh hoạt tinh thần và tâm linh của người Việt, thoát khỏi những
ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo phương Bắc. Dòng Thiền của Phật giáo

Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc dưới một
phương thức giao lưu văn hóa cưỡng chế, vì vậy, trong hơn 10 thế kỷ, tuy chữ
Hán đã trở thành chữ viết chính thức nhưng người biết chữ, biết Nho học còn
ít ỏi nó vẫn chưa có vai trò gì đáng kể, ảnh hưởng xã hội rất nhỏ bé. Các nhà
sư vẫn là lớp trí thức quan trọng bên cạnh các viên chi hậu, viên ngoại lang.
Việc xây dựng nhà nước theo mô hình phương Bắc trở thành tất yếu, Nho học
cũng ngày càng có vai trò quan trọng. Đến thời Lý - Trần, nó đã trở thành một
nhu cầu tư tưởng thiết yếu cho việc xây dựng một thiết chế quân chủ tập
quyền theo mô hình Đông Á Trung Hoa, những nguyên lý cơ bản của phép trị
nước, trong đó một biện pháp chiến lược là chế độ khoa cử. Do vậy, các nhà
vua sùng Phật thời Lý - Trần vẫn cần đến một sự bổ trợ của Nho giáo như một
lợi khí sắc bén trên lĩnh vực chính trị văn hóa và tư tưởng. Trần Thái Tông
nói: “Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau. Như thế đủ biết
đạo giáo của Đức Phật phải nhờ đến tiên thánh [chỉ Khổng Mạnh] mà truyền
lại cho đời…” [29, 97].
Thời Lý, Nho giáo được nhà nước chấp nhận, nhưng vẫn giữ một vị trí
khá khiêm tốn. Năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu, thờ Chu
Công, Khổng Tử và các vị tiên hiền, làm nơi dạy học Hoàng Thái tử. Giáo
dục Nho học chính thức được thiết lập. Năm 1075, nhà Lý tổ chức khoa thi
Thái học sinh đầu tiên, người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh; năm 1076, mở trường
Quốc Tử Giám. Đến năm 1086, Triều đình lập Hàn lâm viện, nho sĩ Mạc Hiển
Tích được tuyển bổ làm Hàn lâm học sĩ. Qua thời Trần, Nho giáo và Nho học
khởi sắc hơn. Nhiều trường Nho học được mở, khoa cử đều kỳ hơn. Các vua
Trần đã cố gắng dung hòa Phật - Nho trong đường lối trị nước. Tầng lớp nho

23
sĩ ngày một phát triển, trong đó có những gương mặt nổi bật như Lê Văn
Hưu, Đoàn Nhữ Hài, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi,
Chu Văn An… Họ đã dần dần tham chính, nắm giữ các chức vụ trọng trách
trước đây chỉ dành cho tầng lớp quý tộc tông thất. Trường hợp của Đoàn Nhữ

Trích đoạn Khái quát diện mạo Phật giáo thời Lý Trần Tư tưởng nhập thế của Phật giáo Lý Trần đối với chính trị Tư tưởng nhập thế của Phật giáo Lý Trần đối với giáo dục, văn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status