Luận văn ThS. Văn học Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ( Tống Thị Minh ) - Pdf 28

0

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
****************
3.Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 10
4.Phương pháp nghiên cứu 11
5.Cấu trúc luận văn 11
CHƢƠNG 1: NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 12
1.1.Vấn đề người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 12
1.1.1.Khái lược về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 12
1.1.2.Người kể chuyện hiện diện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 14
1.1.3.Người kể chuyện tiềm ẩn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 22
1.2.Vấn đề điểm nhìn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 26
1.2.1. Khái lược về điểm nhìn trong tác phẩm tự sự 26
1.2.2. Điểm nhìn bên trong trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 28
1.2.3. Điểm nhìn bên ngoài trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 31
1.2.4. Sự kết hợp và dịch chuyển điểm nhìn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu
Huệ 35
CHƢƠNG 2: QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 37
2.1.Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ 37
2.2.Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 42
2.2.1.Sự phong phú của thế giới nhân vật 44
2.2.1.1.Nhân vật bi kịch. 44
2.2.1.2.Nhân vật tha hóa 49
2.2.1.3.Nhân vật vượt lên hoàn cảnh 53
2.2.2.Nghệ thuật xây dựng nhân vật 55
2.2.2.1.Nghệ thuật miêu tả tâm lý 55
2.2.2.2.Nghệ thuật xây dựng tình huống 61
2
CHƢƠNG 3: KẾT CẤU VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN THỊ THU HUỆ 64
3.1.Nghệ thuật tổ chức kết cấu 64

kinh tế chuyển từ mô hình bao cấp sang kinh tế thị trường. Công nghiệp hóa – hiện
đại hóa được đẩy mạnh kéo theo đà tăng tốc của quá trình đô thị hóa. Tinh thần dân
chủ được coi trọng, tạo một luồng sinh khí mới ở nhiều lĩnh vực của đời sống, trong
đó có văn học. Là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội, văn học nghệ thuật hưởng
ứng hết sức mạnh mẽ đường lối cách mạng và thực thi ngay tư tưởng đổi mới trong
sáng tác, trong tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà lý luận phê
bình. Dần dần đến lượt mình, văn học cũng tự biến đổi trong công cuộc đổi mới, có
thêm những tác phẩm mới, có những đặc điểm về phong cách và nội dung khác với
thời kỳ trước, cho phép nói về một giai đoạn mới trong văn học.[41, 16]
Đến lúc này, hiện thực đối với người cầm bút không chỉ là chiến tranh với
những người anh hùng trận mạc. Hiện thực là toàn bộ dòng chảy cuộc sống đời
thường phức tạp, xô bồ, là những con người cá nhân ẩn chứa cả “rồng phượng lẫn
rắn rết”, là những mối quan hệ chằng chịt hay đứt gãy của những số phận nhỏ nhoi.
Sự phong phú, nhiều bí ẩn của đời sống đã khiến nhiều thể loại văn học, đặc biệt là
truyện ngắn phải đổi mới về các phương thức nghệ thuật cấu thành. Trong đó, nghệ
thuật trần thuật đóng vai trò quan trọng làm nên sự mới mẻ của truyện ngắn từ năm
1986 so với thời kỳ trước.
1.2.Từ sau năm 1986, trên văn đàn dân tộc, cùng với sự vững vàng chín chắn
của những nhà văn lớp trước như: Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang
Sáng, Nguyễn Xuân Thiều là sự xuất hiện của hàng loạt các cây bút mới đầy triển
vọng như: Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Lan Đặc
biệt, đây chính là thời kỳ “văn học mang gương mặt nữ” (chữ dùng của Bùi Việt
Thắng), khi sáng lên bên cạnh một Vũ Thị Thường sắc sảo cô đọng, một Nguyễn Thị
Ngọc Tú chân chất mộc mạc, một Lê Minh Khuê giàu chất chiêm nghiệm, một
Nguyễn Thị Ấm với lối viết tài hoa mang chút giễu cợt đầy thiện ý là một Nguyễn
Thị Thu Huệ chao chát dịu dàng và từng trải, một Y Ban đằm thắm và khắc khoải,
một Vàng Anh với lối viết lạnh lùng, trí tuệ và hóm hỉnh, một Lý Lan hồn hậu và sắc
sảo .[46, 35]
Dung nhan của thể loại truyện ngắn đã được tô vẽ bằng những mảng màu của
các cây bút nữ mang phong cách khác nhau. “Găm” lại được trong lòng người đọc

1.4. Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu
Huệ, chúng tôi sẽ phân tích những đặc điểm nổi bật trong bút pháp trần thuật, cho
thấy nét riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn, từ đó chỉ ra những đóng
góp của nữ tác giả đối với truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
5
2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12/8/1966, quê ở xã Thạch Phong, huyện
Thạch Phú, tỉnh Bến Tre, trú quán: Hà Nội. Chị tốt nghiệp Đại học tổng hợp Hà Nội,
khoa Ngữ Văn. Chị là một trong số những tác giả nữ gặt hái được nhiều thành công
khi tuổi đời còn khá trẻ:
-Giải thưởng truyện ngắn Hội văn học nghệ thuật Hà Nội-1986
-Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Tác phẩm tuổi xanh báo Tiền phong – 1993
-Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí văn nghệ quân đội 1992-1994
-Tặng thưởng Hội nhà văn - 1994
-Giải thưởng Hội nhà văn – 2012
Đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ đã cho ra mắt bạn đọc sáu tập truyện ngắn: Cát
đợi, Phù thủy, Hậu thiên đường, Nào, ta cùng lãng quên, 37 truyện ngắn Nguyễn
Thị Thu Huệ, Thành phố đi vắng.
Ngay từ thời kỳ đổi mới, khi xuất hiện không lâu trên văn đàn, Nguyễn Thị
Thu Huệ đã gây một tiếng vang lớn khi giành giải nhất cuộc thi truyện ngắn lần thứ
5 (1992-1994) do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức với hai truyện ngắn: Hậu
thiên đường và Mùa đông ấm áp. Không dừng lại ở các giải thưởng, chị tiếp tục
khẳng định mình bằng một loạt các sáng tác có giá trị khác.
Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đã và đang cuốn hút người đọc bởi một lối
viết riêng, một phong cách riêng. Ngay từ năm 1993, trong bài viết Khi người ta trẻ
đăng trên báo Văn nghệ số 43, nhà phê bình Bùi Việt Thắng đã nhận diện Nguyễn
Thị Thu Huệ là một trong các cây bút làm nên sự khởi sắc của truyện ngắn. Ở đó,
nhà văn nữ trẻ cùng với thế hệ của mình đã “mê say được tham dự, được hòa nhập
vào những nỗi niềm đau khổ và hy vọng của con người. Sự hòa nhập ấy là chất men
nồng ủ ấp trong họ bao yêu thương và cả sự phẫn nộ trong cái xấu cái ác đến „thét

Mặc dù chưa trở thành một “hiện tượng” của văn học nước nhà song Nguyễn Thị
Thu Huệ đã có đóng góp trên nhiều phương diện và đã cho ra đời một số tác phẩm
có giá trị, được nhiều độc giả yêu thích.
Với bài viết Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được in trên báo
Văn nghệ số 35 ra ngày 21/3/ 2002, tác giả Hồ Sỹ Vịnh đã nhìn nhận và đánh giá
Nguyễn Thị Thu Huệ là một nhà văn “độc đáo tài hoa”. Đồng thời, ông còn cho
rằng: Nếu phong cách nghệ thuật là đại lượng thẩm mỹ, thể hiện sự thống nhất
tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của phương tiện biểu hiện nghệ thuật,
các yếu tố độc đáo lặp đi lặp lại, nói lên cách nhìn, cách cảm trong sáng tạo của một
nhà văn, của một tác phẩm cụ thể thì ở Thu Huệ người đọc tìm thấy những dấu
hiệu đó.
Ngoài ra, còn nhiều bài viết khác về Nguyễn Thị Thu Huệ như bài viết của tác giả
7
Lý Hoài Thu đăng trên Tạp chí văn học với tựa đề Những truyện ngắn hay; bài của
Dương Quỳnh Trang: Một nửa nhân loại qua truyện ngắn dự thi của một cây bút
nữ đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội tháng 6/1994; Kim Dung với bài Đọc hồi
ức binh nhì và Bến trần gian đăng trên Văn nghệ trẻ ngày 25/3/1996; Xuân Cang
với bài viết Nguyễn Thị Thu Huệ nhà văn của những vận bĩ trong “Tám chữ hà
lạc và quỹ đạo đời người”, Nxb Văn hóa thông tin, (2000) Các bài viết này đều
đánh giá Nguyễn Thị Thu Huệ là một cây bút có tài năng. Tuy nhiên, các bài nghiên
cứu này phần lớn chủ yếu chỉ ra những nét độc đáo về mặt nội dung mà chưa chú
trọng đến nghệ thuật, trong đó, nổi bật là nghệ thuật trần thuật.
Cũng trong xu hướng tương tự, một loạt các luận án, luận văn cũng chú ý đến
Nguyễn Thị Thu Huệ ở góc độ là một đối tượng nghiên cứu nhỏ trong một đề tài
rộng lớn hơn. Cho đến nay, luận án mới nhất đề cập đến Nguyễn Thị Thu Huệ ở góc
độ trần thuật là luận án tiến sĩ của Hoàng Dĩ Đình năm 2012 với đề tài Ngôn ngữ
trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (trên tư liệu truyện ngắn ba nhà
văn nữ). Trong đó, truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được lấy làm dẫn chứng để
phân tích các đặc điểm chung của trần thuật như điểm nhìn, người kể chuyện, nhân
vật, ngôn ngữ. Công trình không chỉ ra đặc điểm riêng trong nghệ thuật trần thuật

dám lên tiếng đòi quyền hạnh phúc, thì người phụ nữ trong tác phẩm của Nguyễn
Thị Thu Huệ cũng không kém phần táo bạo. Nhân vật nữ của chị khao khát, mong
mỏi có được một tình yêu đích thực, sống hết mình với nó nhưng kết quả lại không
như mong đợi, mà chỉ toàn là bi kịch” [65].
Không chỉ nhạy cảm với những vấn đề về nội dung trong tác phẩn của Nguyễn
Thị Thu Huệ, nhiều người đọc còn đi sâu phân tích nghệ thuật trong truyện của chị.
Lê Na trong bài viết Ngôn ngữ độc thoại trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
đăng trên website www.vanvn.net đã chỉ ra, truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ
sử dụng ngôn ngữ độc thoại đời thường một cách phổ biến. Việc lựa chọn ngôn ngữ
này xuất phát từ tư duy hướng vào đời tư, bám sát hiện thực đời sống. Nguyễn Thị
Thu Huệ đã đưa vào tác phẩm của mình tiếng nói của đời sống thường nhật, dung
nạp nhiều khẩu ngữ tự nhiên, làm độc giả không mấy khó khăn khi tiếp cận tác
phẩm.
Nguyễn Thị Thu Huệ - Nhà văn của nồng ấm tính yêu là một bài viết đáng
chú ý của Nguyên Hương đăng trên www.vanhocviet.org. Viết về phụ nữ hiện đại
với những vấn đề đương đại nhưng Nguyễn Thị Thu Huệ sử dụng lối viết khá
truyền thống. Phần lớn truyện ngắn của chị có kết cấu chặt chẽ, lô-gích, có thể xáo
trộn về thời gian, không gian nhưng vẫn dễ dàng tìm ra trật tự tuyến tính của cốt
truyện. Tính cách nhân vật khá nhất quán, số phận nhân vật thường đặt trong mối
9
quan hệ nhân quả, có thể đoán biết trước. Sự hấp dẫn của truyện ngắn Thu Huệ nằm
ở lối viết đằm thắm, nồng nàn hơi ấm nữ tính. Mỗi truyện như một lời tâm tình, chia
sẻ hướng tới những tri âm. Sôi nổi, nồng nàn, nồng nàn ngay cả trong hoàn cảnh
cay đắng và chua chát nhất là giọng điệu chính chi phối sáng tác Nguyễn Thị Thu
Huệ. Giọng điệu ấy khiến truyện ngắn của chị dù đề cập đến nhiều đổ vỡ, mất mát
nhưng vẫn là sợi dây neo đậu niềm tin vào hạnh phúc và tình yêu.
Sau 5 tập truyện đầu đã xuất bản, Nguyễn Thị Thu Huệ đã lưu dấu ấn đậm nét,
độc đáo và nữ tính trong lòng người đọc. Thế nhưng, đến tập Thành phố đi vắng,
dư luận lại phân ra hai luồng ý kiến khen chê trái chiều.
Thực hiện cuộc phỏng vấn với nhà văn trên báo Tuổi trẻ, phóng viên Việt

tiện thông tin, có thể khẳng định: Đã có nhiều ý kiến phê bình, nghiên cứu về những
đổi mới, cách tân về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu
Huệ. Với các quan điểm khác nhau, các bài viết, công trình nghiên cứu dù “khen”,
hay “chê” đều cho thấy Nguyễn Thị Thu Huệ là một cây bút có sức thu hút mạnh
mẽ. Thêm vào đó, rõ ràng, việc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật vẫn là khía cạnh
nghiên cứu mới ở một ngòi bút đã trưởng thành và dày dạn kinh nghiệm này.
3.ĐỐI TƢỢNG, MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
-Luận văn tập trung tìm hiểu về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ để thấy rõ những nét độc đáo của ngòi bút trên các phương
diện: người kể chuyện và điểm nhìn, quan điểm nghệ thuật và thế giới nhân vật, kết
cấu và giọng điệu. Đây là những đặc điểm cho thấy nét đặc sắc riêng của cách trần
thuật được Nguyễn Thị Thu Huệ vận dụng, góp phần làm nổi bật phong cách nghệ
thuật của nhà văn, đồng thời khẳng định đóng góp truyện ngắn của chị trong dòng
chảy của văn học Việt Nam hiện đại.
- Luận văn tập trung phân tích sáu tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ:
Cát đợi (Nxb Hà Nội, 1992), Hậu thiên đường (Nxb Hội Nhà văn, 1993), Phù thủy
(Nxb Văn học, 1995), Nào ta cùng lãng quên (2003), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ (Nxb Văn học, 2004); Thành phố đi vắng (Nxb Trẻ, 2012). Do 5 tập
truyện đầu xuất bản có sự lặp lại các truyện nên chúng tôi đã tổng hợp được 45
truyện ngắn được in. Riêng tập Thành phố đi vắng gồm 16 truyện ngắn. Như vậy,
có tất cả 61 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ được nghiên cứu trong luận văn
này.
- Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ,
chúng tôi sẽ so sánh giữa bút pháp trần thuật ở 45 truyện ngắn trong 5 tập truyện
đầu với 16 truyện ngắn trong tập truyện mới đây Thành phố đi vắng để chỉ ra sự
chuyển biến trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ. Đây cũng là cách
tự làm mới mình của chị, cho thấy chị luôn luôn sáng tạo và không chịu cũ mòn.
11
4.PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phối hợp vận dụng các phương

Cuối cùng là mục Tài liệu tham khảo.
12
CHƢƠNG 1: NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ

1.1.Vấn đề ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
1.1.1. Khái lƣợc về ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Gérard Genette (sinh năm 1930 – một nhà tự sự học hàng đầu của Pháp. Trong
bộ ba “Phương thức tu từ” (FiguresI, 1966; Figures II, 1969, Figures III, 1972),
Genette đi sâu vào các yếu tố tạo thành chất văn học của tự sự. Theo tác giả này,
cấu trúc ngôn bản tự sự do ba lớp tạo thành: cốt truyện (histoire), truyện hay câu
chuyện (récit) và tự sự hay kể chuyện (narration).
Một hàm nghĩa nổi bật nhất, quan trọng nhất và cũng được chú ý nhiều nhất
của tự sự là nó đảm nhiệm bằng miệng hoặc chữ viết công việc trình bày về một hay
một chuỗi sự kiện/sự tình. Rõ ràng với nghĩa như thế, tự sự là chỉ hành động trần
thuật. Không có hành động trần thuật thì không có trần thuật, có khi thậm chí không
có nội dung trần thuật. Có hành động trần thuật thì phải có chủ thể trần thuật – đó là
người trần thuật (người kể chuyện). Genette quan niệm, không thể có những tự sự
không có người trần thuật. “Nếu không có người trần thuật, tự sự sẽ không thể thực
hiện được và đó sẽ là một hành động vô trần thuật, vì thế, nó dứt khoát là một trần
thuật không có hành động giao tiếp” [10].
Nhận định của Genette đã khẳng định vai trò quan trọng của người trần thuật –
người kể chuyện trong tác phẩm tự sự. Đây là vai đã để lại nhiều dấu vết trong quá
trình sản sinh ngôn ngữ trần thuật. Nó có thể dễ dàng nhận ra qua các yếu tố như
thời gian trần thuật, cấp bậc trần thuật và ngôi.
Genette đã phân loại người trần thuật – chủ thể của trần thuật dựa trên ngôi/
nhân xưng trong tác phẩm văn học. Theo đó, có thể chia ra hai loại người trần thuật:
(1) Người trần thuật không xuất hiện trong truyện là người trần thuật dị câu chuyện
(tức người trần thuật ngoài câu chuyện). (2) Người trần thuật xuất hiện trong truyện
với tư cách một nhân vật của truyện là người trần thuật đồng câu chuyện (tức người

thường không để lại vết tích trong văn bản. Người kể của truyện biết hết nhưng
không xuất hiện, để câu chuyện tự triển khai theo logic tự thân, nhân vật tự hoạt
động. Cũng có khi, người kể chuyện không trực tiếp xuất hiện mà như đứng kín đáo
ở một chỗ nào đấy, chứng kiến hết mọi chuyện xảy ra và kể lại. Đó cũng là lý do để
trong bài viết của mình về Sự biến mất của chủ thể phát ngôn và vấn đề người
trần thuật, trích trong cuốn Logic học về các thể loại văn học, Kate Hamburger đã
huyền thoại hóa “người kể chuyện như thượng đế”. Ông trích dẫn ý của J.Petersen
khi so sánh người trần thuật với người chủ trò đứng trên sàn diễn giữa các nhân vật
của ông ta và chỉ dẫn cho chúng về vị trí, động tác, ngữ điệu. Giống như là họa sỹ
14
sử dụng màu và bút vẽ làm công cụ để tạo nên những kiệt tác nghệ thuật bất hủ,
người kể chuyện cũng điều khiển nhân vật, sự kiện, chi tiết, để làm nên một tác
phẩm tự sự đặc sắc và sinh động.
Honore de Balzac - ngôi sao chói lọi của văn đàn Pháp tác giả đã sáng tác Tấn
trò đời bất hủ đã không bỏ sót một hoàn cảnh nào, một giới xã hội nào của thời đại
ông. Những Raphaen de Valangtanh, Đơ Raxtinhac, Poline… được kể lại một cách
đầy đủ trọn vẹn, đã hình thành cả một thế giới nghìn lẻ một đêm của phương Tây.
Và ai là người mô tả cái thế giới ấy trong tiểu thuyết của Balzac? Ai là người trần
thuật thông hiểu hết mọi việc, có mặt ở khắp mọi nơi cùng một lúc, ai là người cùng
một lúc nhìn thấy cả mặt phải lẫn mặt trái của các sự vật, ai biết đồng thời cả hiện
tại, quá khứ lẫn tương lai của các cuộc phiêu lưu trong Tấn trò đời? Theo A.Robble
- Grillet: đó chỉ có thể là Thượng đế. Không ai có thể nhìn thấy được thượng đế,
nhưng người ta vẫn tin rằng có Thượng đế ở trên đời. Cũng vậy, không thấy xuất
hiện cụ thể người trần thuật ngôi thứ ba trong tác phẩm tự sự, song người đọc vẫn
nhận thấy có một người trần thuật ẩn tàng. Vì ẩn tàng nên có khi người trần thuật ở
ngôi thứ ba phải mượn điểm nhìn của nhân vật trong truyện để kể. Người kể chuyện
đã hòa vào nhân vật đến mức ta khó phân biệt giọng kể của anh ta với giọng kể của
nhân vật, và vì thế, giọng nhân vật thường nổi trội hơn.
Nếu như người trần thuật hiện diện đem lại ý nghĩa màu sắc chủ quan thì
người trần thuật tiềm ẩn đem lại ý nghĩa khách quan tối đa. Dung lượng phản ánh

thức cá nhân mạnh mẽ trong phương thức trần thuật của chị.
Khảo sát 61 truyện ngắn trong 6 tập truyện đã xuất bản, chúng tôi nhận thấy
có 28/61 truyện ngắn được trần thuật theo lời kể của nhân vật xưng “tôi”, chiếm
46 % tổng số truyện. Trong đó, ở 5 tập truyện đầu, có 24/45 truyện có người kể
chuyện xưng “tôi”. Tỷ lệ này ở tập Thành phố đi vắng là 4/16 truyện.
Xét về sự ra đời của các tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, dựa trên
các sắc thái về vùng hiện thực, nhân vật, vấn đề đặt ra trong truyện, có thế nhận
thấy một Nguyễn Thị Thu Huệ đã thay đổi bút pháp trần thuật từ 45 truyện ngắn
đầu đến 16 truyện ngắn gần đây nhất. Người kể chuyện xưng “tôi” trong tác phẩm
của chị tuy có sự tương đồng về mật độ xuất hiện ở hai giai đoạn sáng tác nhưng
bản chất của mỗi cái tôi kể chuyện ấy lại có sự khác biệt rõ nét.
Người kể chuyện hiện diện trong 24 truyện ngắn thuộc 5 tập truyện đầu đã
định hình những chân dung khá đủ đầy về hình dạng, tính cách.
Đó là “tôi” – một người phụ nữ sau bao năm vẫn giữ cho mình một tình yêu
huyền thoại với một người đàn ông đã có vợ. Thỉnh thoảng, “tôi” lại bay vào Sài
Gòn để gặp anh, chỉ chốc lát thôi nhưng tình yêu hời hợt từ phía người đàn ông kia
đủ sức mạnh để khiến “tôi” hàng năm tìm kiếm (Huyền thoại). Trong Nước mắt
đàn ông – người xưng “tôi” là đứa cháu kể về cậu ruột của mình. Dẫu giàu có
16
nhưng ông lại luôn đau đớn vì phải sống trong một gia đình không hạnh phúc với
một người vợ ghê gớm đến quá quắt, những đứa con ăn chơi và chỉ biết tiêu tiền.
Tình yêu của riêng ông với người phụ nữ khác đã không đủ cho ông sức mạnh để
giữ người ấy ở bên mình. Nước mắt ông rơi khi con chó – kỷ niệm duy nhất của
người yêu trao lại bị vợ ông giết, ăn uống hỉ hả. Sự trống rỗng, cô đơn bủa vây lấy
con người chỉ còn biết thả hồn mình vào cánh buồm đỏ cô đơn trôi trên hồ khi
giông bão. Hậu thiên đường là cái tôi của người mẹ tự kể về cuộc đời của mình sau
những chuỗi dài được sống trong thiên đường ở tuổi hai mươi tư đã rơi xuống một
hậu thiên đường tăm tối, quạnh hiu. Mười sáu năm trước, chị cũng yêu say đắm,
trao thân cho người đó để rồi bẽ bàng nhận ra mình chỉ là cái ô giữa trời mưa, người
đàn ông tán tận kia vào trú trong chiếc ô đó, vui say thỏa thích rồi bỏ đi, chỉ còn lại

tượng ra một ngày nào đó mình sẽ ở trên thiên đường và tự hỏi: Nếu chết linh hồn
mình sẽ đi đâu khỏi cái xác thối rữa?”. Kết thúc truyện là hình ảnh cô đang ngủ và
tiếp tục mơ về những điều tươi đẹp hơn, hạnh phúc hơn.
Người kể chuyện xưng “tôi” – đồng thời là nhân vật chính trong chuyện, hầu
hết là những phụ nữ bất hạnh trong tình yêu. Cái tôi kể chuyện và cái tôi từng trải
đã hòa nhập làm một trong những trang văn chất chứa nỗi niềm. Không phải ngẫu
nhiên mà nhà phê hình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu
Huệ luôn có hai mặt như thế - vừa bụi bặm trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm,
vừa táo tợn, vừa thanh khiết”. Cái bụi bặm hiện lên qua lời kể của người mẹ trong
Hậu thiên đường về những va vấp của tuổi trẻ để đến 16 năm sau chị phải sống
trong đơn côi lạnh lẽo. Sự tả chân đã đem lại cho người đọc cảm giác vỡ mộng khi
người kể chuyện xưng “em” trong Một chiều mưa đang hụt hẫng, tan nát vì phát
hiện vị cứu tinh của mình đang ngồi cạnh một người con gái khác. “Cô ta tóc rất
ngắn, còn ngắn hơn cả tóc em, xinh và tươi rói. Em chết lặng”. Lời kể của nhân vật
xưng “tôi” cũng thắm đượm vẻ trữ tình đằm thắm khi kể về những mong ước,
những khát khao tình yêu và hạnh phúc rất con gái: “Tôi luôn ao ước được đi chơi
với anh. Tất cả những lần chúng tôi rong ruổi trên các con đường. Lúc sáng tinh
mơ. Lúc nhập nhoạng tối. Tôi đều thấy các con đường, các hàng cây thật đáng yêu
và tuyệt đẹp. Cũng như bây giờ. Suốt thời gian đã qua của tôi chưa bao giờ trăng
đẹp như thế” (Còn lại một vầng trăng).
Những trang văn của Nguyễn Thị Thu Huệ thanh khiết khi kể về những cái
tôi – những người con gái, những người phụ nữ còn rất trẻ tự kể về mình. Trong 13
truyện có người kể chuyện là nhân vật nữ xưng “tôi” thì có 7 truyện được trần thuật
từ người kể chuyện là những cô gái trẻ tuổi, trẻ lòng, đầy mộng mơ và ước vọng về
tình yêu. Đó là cô bé sắp tròn mười tám tuổi vào ngày mai, mơ thấy người mẹ bỏ
hai bố con theo tình cũ. Đôi giày đỏ mẹ chưa kịp đi khi vội vã theo người ta trong
18
dịp sinh nhật con, mẹ tặng lại cho con (Đôi giày đỏ). Trong Biển ấm, người kể
chuyện là cô gái mới hai mươi tuổi, dám tự tìm đến với người yêu – người đàn ông
hơn cô mười hai tuổi. Đất Quảng Ninh với những hầm than là thế giới của anh. Với

19
bên trong truyện đóng vai người quan sát xuất hiện ở 6 truyện (Nước mắt đàn ông,
Dĩ vãng, Chị tôi, Một chuyến đi, Cõi mê, Màu ngả sắc đỏ).
Với vai trò là một nhân vật chính của truyện, người kể chuyện là một nhân vật
nam xưng “tôi” thường kể về những câu chuyện của bản thân có liên quan đến nhân
vật khác là người phụ nữ. Đối thoại trong truyện được xây dựng nhiều hơn nhằm
bộc lộ suy nghĩ và tính cách, bản chất của người đàn ông. Người đàn bà ám khói là
hình ảnh của người tình cũ trong mắt người kể chuyện là “tôi” khi gặp lại trong một
đám tang. Người kể chuyện bộc lộ là một kẻ nghiệt ngã, vô tình, sĩ diện và tàn nhẫn.
Sơ-ri đắng là cảm nhận của người kể chuyện xưng “tôi” khi giữ mãi tình yêu với
người con gái đã chết vì một kẻ vô lại, vô tình. Trong Những đêm thắp nắng –
nhân vật “tôi” kể về câu chuyện của chính mình khi bị một phụ nữ có gia đình bội
bạc và dối trá ngay trước mặt. Riêng hai truyện Ám ảnh và Minu xinh đẹp, người
kể chuyện lại kể về câu chuyện khác, không phải là tình yêu. Ám ảnh là câu chuyện
của chàng trai tên Thành mơ về người cha tàn nhẫn, hắt hủi mẹ để đi với người tình,
anh vừa qua tuổi vị thành niên đã bắn chết hai mẹ con người tình của bố. Anh bị kết
tội tử hình, lúc chết chỉ kịp gọi hai tiếng “Mẹ ơi”. Minu xinh đẹp được kể bằng lời
của nhân vật xưng “tôi” – một thiếu tá đã về hưu, mong đổi đời nhờ nuôi chó nhưng
thất bại. Những nhân vật này góp phần khắc họa thế giới đàn ông đa dạng trong
truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Đối với hình tượng người kể chuyện xưng “tôi” chỉ đóng vai trò là người quan
sát, 6 truyện được trần thuật lại một cách tương đối khách quan. Trong Nước mắt
đàn ông, “tôi” – một đứa cháu ruột kể về nỗi đau riêng của cậu mình khi không
hạnh phúc trong cuộc sống gia đình, khi người yêu bỏ đi và vật chứng của tình yêu
bị giết bởi chính tay người vợ. Dĩ vãng được kể bằng nhân vật “tôi” – một anh lính
đến thăm thủ trưởng của mình – ông Xung đang sống trong cô đơn tột độ. Nhờ
người kể chuyện là người chứng kiến ở hai khoảng đời của nhân vật chính nên
những thay đổi của nhân vật chính được trần thuật lại rất chi tiết, cụ thể. Chị tôi là
câu chuyện của người kể chuyện xưng “tôi” – một sinh viên đại học sống nhờ đồng
tiền buôn thuốc lá dạo của chị ở bến tàu. Chị chết vì tại nạn lúc qua đường, để lại

chuyện của mình hoặc của người khác nhưng thay vì kể những câu chuyện là tình
yêu, là khát khao, là mong ước một gia đình, một sự giàu sang hay giản đơn là sống
cho tốt, nhân hậu và đơn giản thì người kể chuyện ở 4 truyện trong Thành phố đi
vắng lại kể những chuyện trong cuộc sống chốn thị thành đang trôi như con thoi,
trong đó, con người hoạt động nhanh, suy nghĩ nhanh, ít khi có thời gian ngừng lại
để mộng mơ hay ngẫm nghĩ sâu xa về một điều gì đó. Không còn những trang văn
rất nữ tính, rất đàn bà, không còn những cái tôi phụ nữ chia sẻ về mọi ngõ nẻo trong
tâm hồn mình. Những cái tôi kể chuyện tham gia vào câu chuyện, hoạt động bề
21
ngoài như nhiều nhân vật khác, rất ít suy tư, rất ít cảm xúc và rất ít khi rung động.
“Tôi” kể về những việc mình làm và những việc người khác làm thản nhiên, có khi
lạnh lùng và lạnh nhạt. Đó có phải là chân dung của con người ngày nay? Con
người hiện đại? Hời hợt và vô cảm?
Rồi cũng tới nơi thôi – tiêu đề truyện được lấy từ lời nói của nhân vật bố cục
chặt – một người đàn ông ở một một mình nơi miền núi sương lạnh. “Tôi” – người
phụ nữ chốn thị thành, vì nhớ ông mà tìm lên, cùng tâm sự những chuyện chẳng đâu
vào đâu. Rồi ông bỏ đi nơi khác vì không chịu nổi nỗi nhớ nhân vật “tôi” vu vơ xâm
chiếm.
Câu chuyện đại chiến được trần thuật lại từ người kể chuyện xưng “tôi” có
biệt danh ở nhà là “lười”. Ở nhà, “tôi” đảm nhận cho cá, mèo, chó của anh trai ăn.
Rồi anh rủ “tôi” đi xem phim Xích Bích với ba người bạn gái khác. Sau đó, “tôi” đi
du học ở Thụy Điển. Anh trai lấy chị Hường – người phụ nữ có máy chạy tim trong
lồng ngực vì nếu anh không, ai lấy chị ấy.
Không thể kết thúc qua lời kể của nhân vật “tôi”, bức tranh của một gia đình
rạn vỡ về tình cảm và đạo đức được khắc họa một cách sinh động. Chỉ vì nhà có bọ
chét mà không ai dám dọn. Họ quan tâm đến bọ chét nhiều hơn là bệnh tật của
người mẹ già nay đã phó thác cho người giúp việc. Bán nhà, mỗi người một nơi,
người cô đơn, người phát điên là hậu quả tất yếu của sự đứt đoạn sợi dây liên kết
gia đình.Vợ chồng, tiền bạc và sự nguội lạnh tình người tự nó kéo con người ra xa
nhau, tự đưa con người vào bi kịch.

chuyện tiềm ẩn đã hòa vào nhân vật khiến mỗi trang văn dường như là lời của nhân vật
đang tự kể về mình. Bằng sự nhạy cảm của một ngòi bút nữ có thế mạnh rất riêng khi
viết về những câu chuyện liên quan đến nữ giới, Nguyễn Thị Thu Huệ “thất thường,
lóe sáng và tý chút đỏng đảnh” ấy đã đưa người đọc vào một đời sống hiện thực giàu
cảm xúc, nghĩ suy của người phụ nữ về tình yêu, về hôn nhân, hạnh phúc.
“Đừng đi anh.Hãy tin em.Hãy tha lỗi cho em. Em yêu anh!” Lời của người
con gái tên Hoài với trạng thái đang nức nở, ánh nước loang loáng hiện ra trên
khuôn mặt có những nét rất đẹp nhưng thoáng vẻ nhầu nhò đã mở đầu truyện Xin
hãy tin em rất tự nhiên mà xúc động. Người kể chuyện ngôi thứ ba đã mượn điểm
nhìn của Hoài để kể về đời sống và tính cách của cô ấy. Hoài – một cô sinh viên
vốn cá tính “uống hàng lít rượu trắng không say, hút thuốc lào không mệt mỏi, nhảy
đầm thâu đêm và đánh đu với những người đàn ông nào chịu được cô”. Hoài chỉ
thay đổi khi tình yêu với Thắng – chàng kỹ sư vô tuyến điện cứ lớn dần. Trong lần
đầu về ra mắt gia đình Thắng đúng dịp sinh nhật mẹ anh, Hoài đã bộc lộ bản chất
thớt-trơ vốn đã giấu kỹ hơn một năm nay. Tình yêu tan vỡ. Hoài cố níu kéo. Nhưng
23
anh không tin cô, vì “Tôi định lấy vợ chứ không định lấy…đĩ”. Rốt cuộc, cô lại trở
về bên chén rượu.
Cũng tựa vào điểm nhìn của nhân vật để kể, người kể chuyện tiềm ẩn trong
Phù thủy đã dễ dàng thâm nhập vào đời sống của một cô bé mười hai tuổi. Cô bé
sống trong một gia đình bố mẹ sắp ly hôn, ngày nào cũng cãi nhau và đánh mắng
con. Trong mắt họ, cô là yêu tinh, là con quái thai. Tất cả mọi suy nghĩ của cô bé về
bố mẹ thay đổi khi ban đêm, cô phát hiện ra họ ngủ với nhau êm đềm. Họ chính là
phù thủy.
Hiện rõ trên trang truyện không còn là cái tôi đang kể chuyện, Nguyễn Thị
Thu Huệ đã trao quyền cho nhân vật để nhân vật dường như tự kể, tự sẻ chia. Người
kể chuyện đã ẩn tàng sau trang viết, để trong Cầu thang, Trân như đang trải lòng về
cuộc sống mỏi mệt, xô bồ. Ngày nào cô cũng cố leo lên sáu mươi tám bậc cầu thang
để đến với người yêu, leo đủ bảy tầng gác để tới phòng làm việc. Tâm lý của cô chỉ
hồi sinh khi anh bạn đồng nghiệp đặt một chiếc hôn lên môi cô.

tiềm ẩn dựa vào điểm nhìn của nhân vật đẻ kể (Một đời sống khác, Trong lúc ăn
một bát phở gia truyền, Coi như không biết, Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện
này, Chủ nhật được xem phim hoạt hình, Với tay là đến, Của cha của Con
những cành vạn niên thanh, Thành phố đi vắng); người kể chuyện tiềm ẩn dựa
vào điểm nhìn của chính mình (X-Men có mùi trường đua, Sống gửi thác về,
Phòng chiếu phim số 9, Cú mèo và rượu hoa).
Dù cùng sử dụng chung người kể chuyện tiềm ẩn dựa vào điểm nhìn của nhân
vật nhưng ở hai thời điểm sáng tác khác nhau, truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ lại
mang những sắc màu riêng biệt. Không còn những trang viết mà ở đó nhân vật giãi
bày những góc khuất ẩn sâu trong tâm hồn, những rung động thầm kín, những ước
ao bỏng cháy về tình yêu hôn nhân, hạnh phúc. Thay vào đó, người kể chuyện tiềm
ẩn lại mượn điểm nhìn nhân vật để kể về cuộc sống bộn bề, đầy ắp sự kiện, dồn dập
hành động, chằng chịt các mối quan hệ nhưng lại thiếu tình người. Chính bản thân
nhân vật được người kể chuyện đặt điểm nhìn để kể cũng là những con người hiện
đại thiếu sâu sắc trong cuộc sống. Truyện chỉ kể những cơn đau đầu do những giấc
mơ vặt vãnh của Mai (Một đời sống khác), chuyện một cô gái vừa ăn phở vừa
chứng kiến cảnh bát vỡ, rồi sợ hãi một đám thanh niên có vẻ cướp giật mà mấy
ngày sau cô biết trong bọn chúng có kẻ giết người (Trong lúc ăn một bát phở gia
truyền). Một cô gái xa thành phố ba năm, khi quay trở lại, tất cả như đông máu
(Thành phố đi vắng).
Trong tập Thành phố đi vắng, bên cạnh những câu chuyện quá lạnh lùng, vẫn
có những trang viết rưng rưng tình người – tình đời dẫu muôn vàn đắng cay. Người
kể chuyện ngôi thứ ba kể những chuyện đầy xúc động. Của cha của Con những

Trích đoạn Điểm nhìn bên ngoài trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status