BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THẾ CƯỜNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Cường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được nội dung này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ rất tận
tình của PGS.TS. Nguyễn Thị Vòng, sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo trong
khoa Quản lý đất đai, Ban Quản lý đào tạo Sau đại học. Nhân dịp này cho phép tôi
được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thị Vòng và
những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai.
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê,
chính quyền các xã cùng nhân dân huyện Văn Yên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
1.1.4. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 5
1.1.5. Sơ lược về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 7
1.2. Những vấn đề về hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp 10
1.2.1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 10
1.2.2. Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 16
1.3.1. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên 16
1.3.2. Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác 17
1.3.3. Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức 17
1.3.4. Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội 18
1.4. Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 20
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới 20
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
1.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 22
1.4.3. Những nghiên cứu ở tỉnh Yên Bái và huyện Văn Yên 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 24
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 24
2.2. Nội dung nghiên cứu 24
2.2.1. Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Yên 24
2.2.2. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất của
huyện Văn Yên 24
2.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của một số loại
hình sử dụng đất chính của huyện. 24
3.4.1. Nguyên tắc lựa chọn các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 72
3.4.2. Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên 72
3.4.3. Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Yên
đến năm 2020 73
3.4.4. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1. Kết luận 82
2. Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHẦN PHỤ LỤC 86
Phụ lục 1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Văn Yên năm 2013 86
Phụ lục 2. Giá một số mặt hàng và giá thuê lao động năm 2014 87
Phụ lục 3: Tổng hợp ý kiến đánh giá của người dân về một số yếu tố ảnh hưởng đến
sản xuất 88
Phụ luc 4. Kết quả điều tra nông hộ về hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng 89
Phụ lục 5: Thời vụ gieo trồng một số cây trồng 90
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN VĂN YÊN . 91
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
Bảng 3.1. Tình hình phát triển ngành trồng trọt của huyện qua một số năm 36
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên
năm 2013 47
Bảng 3.3. Hiện trạng các loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất chính
của huyện Văn Yên năm 2013 48
Bảng 3.4 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 51
Page viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BQ Bình quân
BVTV Bảo vệ thực vật
CPTG Chi phí trung gian
Đ Đồng
DT Diện tích
ĐVT Đơn vị tính
FAO Tổ chức nông lương thế giới
GTGT Giá trị gia tăng
GTGT/LĐ Giá trị gia tăng trên ngày công lao động
GTSX Giá trị sản xuất
GTSX/LĐ Giá trị sản xuất trên ngày công lao động
LĐ Lao động
LUT Loại hình sử dụng đất
LX-LM Lúa xuân-lúa mùa
NXB Nhà xuất bản
SL Sản lượng
STT Số thứ tự
tr đồng Triệu đồng
UNDP Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên làm
cơ sở định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong tương lai góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và nâng cao mức thu nhập
cho người dân.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đầy đủ và chính xác, các
chỉ tiêu phải đảm bảo tính thống nhất, hệ thống và chính xác.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
- Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo quan điểm bền vững, có
hiệu quả cao trong điều kiện huyện Văn Yên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Những lý luận cơ bản về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
Đất đã có từ lâu nhưng khái niệm về đất mới có từ thế kỷ XVIII. Trong từng
lĩnh vực khác nhau, các nhà khoa học khái niệm về đất khác nhau.
Nhà bác học người Nga Đocutraiep (1897) đưa ra định nghĩa: “Đất là một vật
thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5
yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”. Sau này
người ta bổ sung thêm yếu tố thứ sáu là con người.
Theo Vũ Thị Bình (1995), quan điểm sinh thái đất được định nghĩa: Đất là
vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp.
Theo FAO (1976), quan điểm của đánh giá đất thì đất đai được định nghĩa là
một vùng đất mà đặc tính của nó được xem như bao gồm các đặc trưng tự nhiên quyết
định đến khả năng khai thác được hay không mà ở mức độ nào của vùng đó. Thuộc
tính của đất bao gồm khí hậu, thổ nhưỡng, lớp địa chất bên dưới, thuỷ văn, động vật,
thực vật và những tác động trong quá khứ cũng như hiện tại của con người.
Như vậy: trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và
không thể thay thế được. Nhưng diện tích đất đai lại có hạn, bên cạnh đó sự gia tăng
dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho diện tích đất đang
ngày càng giảm đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp. Mặt khác hiện tượng biến đổi
khí hậu toàn cầu đã ảnh hưởng lớn đến diện tích, năng suất, chất lượng sản phẩm
nông nghiệp. Vì vậy sử dụng đất đai một cách hợp lý là một trong những điều kiện
để phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
1.1.3. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất.
Hiệu quả sử dụng phải là kết quả của quá trình sử dụng đất. Kết quả ở đây
được hiểu là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con
người, được hiểu bằng những chỉ tiêu do tích chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên
hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo
ra như thế nào, chi phí bỏ ra là bao nhiêu, có đưa lại kết quả hữu ích hay không.
Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc
đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh
doanh tạo ra sản phẩm đó.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước
trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà
hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn
của nông dân, những người trực tiếp tham gia và quá trình sản xuất nông nghiệp.
1.1.4. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
1.1.4.1. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi nhu cầu của con người về các
sản phẩm lấy từ đất ngày càng tăng. Mặt khác, đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp
do bị trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp
nghiệp bền vững.
Hiện nay, nhân loại đang phải đương đầu với nhiều vấn đề hết sức phức tạp
và khó khăn, sự bùng nổ dân số, nạn ô nhiễm suy thoái môi trường, mất cân bằng
sinh thái… Nhiều nước trên thế giới đã phát triển nông nghiệp theo hướng quan
điểm nông nghiệp bền vững.
Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài. Một trong
những cơ sở quan trọng nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập được các hệ thống
sử dụng đất hợp lý. Vấn đề này được Altieri và Susanna B.H.1990 (KKU,1992) cho
rằng: nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ đa canh cây trồng với các lợi thế
cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại của sâu
bệnh và cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro… Quan điểm đa canh và đa dạng hoá nhằm nâng
cao sản lượng và tính ổn định này được Ngân hàng thế giới đặc biệt khuyến khích các
nước nghèo.
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa
đảm bảo được nhu cầu của các thế hệ tương lai. Một quan điểm khác lại cho rằng:
Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và
kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả hiện tại
và mai sau. Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta, cần nắm vững mục tiêu
về tác dụng lâu dài của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học.
Để đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất cần dựa vào 3 tiêu chí sau:
* Bền vững kinh tế:
Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, thị trường chấp nhận.
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
quân vùng có điều kiện đất đai. Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và
phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại). Một hệ bền vững phải
có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong
cơ chế thị trường.
Hiện nay trên thế giới, xu thế phát triển chung của các nước là hướng tới một
nền kinh tế mà sản xuất công nghiệp là chủ đạo. Tuy nhiên, ngành sản xuất nông
nghiệp vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của tất cả các nước. Do
vậy sản xuất nông nghiệp luôn được duy trì và phát triển. Sản xuất nông nghiệp tạo
ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người và đồng thời cũng là nguồn thu
nhập đáng kể của các nước đang phát triển và kém phát triển. Mức độ sử dụng đất
có thể trồng trọt được ở các khu vực trên thế giới cũng rất khác nhau tùy thuộc vào
điều kiện đất đai, khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi khu vực.
Từ những năm 1980, Hiệp hội quốc tế các tổ chức bảo vệ thiên nhiên và tài
nguyên môi trường (IUCN), tổ chức FAO và chương trình môi trường Liên hợp
quốc (UNEP) đã khởi xướng chương trình toàn cầu về bảo vệ môi trường nhằm
mục tiêu duy trì các nguồn gen, bảo vệ sử dụng hợp lý và phát triển bền vững các
nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được. Thế giới đang trải qua “thập kỷ
nhận thức về môi trường” (1971 - 1981) và “thập kỷ hành động” (1981 - 1991). Bảo
vệ môi trường trở thành chiến lược toàn cầu và chiến lược của mỗi quốc gia. Mục
tiêu của con người trong quá trình sử dụng đất là sử dụng khoa học và hợp lý. Trong
thực tế do quá trình sử dụng lâu dài, nhận thức về sử dụng đất còn hạn chế dẫn tới
nhiều vùng đất đai đang bị thoái hóa, ảnh hưởng tới môi trường sống của con người.
Những diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp,
do đó con người phải mở mang thêm diện tích đất canh tác trên các vùng không
thích hợp. Hậu quả đã gây ra quá trình thoái hóa rửa trôi và phá hoại đất một cách
nghiêm trọng.
Trên thế giới tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km
2
. Những loại đất tốt
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6%. Những loại đất quá xấu chiếm
40,5%. Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất đai
thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và các nước (châu Mỹ chiếm 35%,
châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương
chiếm 6%). Diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm liên tục về số lượng và chất
Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị suy thoái thì N, P là hai yếu tố cần
phải được bổ sung thường xuyên. Trong quá trình sử dụng đất do chưa tìm được các
loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra
hiện tượng thoái hóa đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh
dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu. Bên cạnh đó sự suy thoái đất còn
liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội của vùng. Trong điều kiện nền kinh tế kém
phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực như vậy gây ra
hiện tượng xói mòn, suy thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người
còn thấp dẫn đến việc sử dụng phân bón hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
quá nhiều gây ảnh hưởng tới môi trường.
1.1.5.2. Sơ lược về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Đặng Văn Minh (2005): Tổng quỹ đất của Việt Nam là gần 33 tiệu ha, đứng
thứ 58 so với các nước trên thế giới và đứng thứ 4 ở Đông Nam Á. Nhưng dân số lại
đứng thứ 2 trong khu vực, dẫn tới diện tích đất bình quân trên đầu người đứng thứ 9
trong khu vực. Theo số liệu thông kê ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
của Nhà xuất bản Nông nghiệp năm 2002 thì năm 2000 diện tích đất sản xuất nông
nghiệp của Việt Nam là 9.345.346 ha, diện tích đất trồng cây hàng năm là 6.129.518
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
ha, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người là 803 m
2
.
Ngày 26 tháng 8 năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành
Quyết định số 1682/QĐ - BTNMT công bố diện tích đất đai của cả nước tính tới
ngày 01 tháng 01 năm 2008. Theo đó tổng diện tích tự nhiên là 33,12 triệu ha, trong
đó đất sản xuất nông nghiệp có 24,99 triệu ha. So với 10 nước trong khu vực Đông
Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam đứng thứ 2 nhưng bình quân diện tích
đất tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực. Diện tích
đất canh tác là 10.805,9 ha. Bình quân diện tích đất canh tác đạt 1.300,4 m
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
hướng tới; nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu
suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói
chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian
hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản
xuất ra trong một đơn vị thời gian.
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con
người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa
nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả
đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay
không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng
lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó.
Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả.
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng
đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động
kinh tế. Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời
về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả
quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất. Riêng đối với
ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng
lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản
lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến
lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội
đất nước.
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp
tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc
phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ
thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn
sản xuất trong nước với thị trường quốc tế.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội".
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
1.2.1.2. Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật
thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất. Theo Nguyễn Duy Tính (1995),
hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng
khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập
của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát
huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân. Sử dụng
đất phải phù hợp với tập quán, truyền thống văn hoá của địa phương thì việc sử
dụng đất bền vững hơn.
1.2.1.3. Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi
trường sinh thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài.
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và
theo chiều hướng khác nhau. Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính,
tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt
động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên
những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường.
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu
quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá
thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp. Đó là việc sử
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc. Vì vậy, khi
đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của
sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như giải quyết việc làm, tăng thu
nhập, nâng cao trình độ dân trí…
1.2.2.2. Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần
phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống.
Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có
thang bậc.
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu
hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu
chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm cho nội dung
kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là
những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu.
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải có
tác dụng kích thích sản xuất phát triển.
1.2.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).
- Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường
xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào, chi phí thuê
lao động và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất.