PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của thiên nhiên ban tặng. Nó có giới hạn về không
gian nhưng vô hạn về thời gian sử dụng. Nói như vậy không phải là chúng ta
có thể sử dụng đất một cách bừa bãi, mà phải làm thế nào để sử dụng nó có
hiệu quả cao và bền vững mới thật sự có ý nghĩa.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng
tăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã
hội. Thực trạng đất đai theo Nghị định 64/CP của Chính phủ với việc giao đất
nông nghiệp theo phương thức “ có tốt, có xấu, có gần, có xa” đã làm cho đất
đai ở trong tình trạng manh mún, nhỏ lẻ và phân tán dẫn đến việc sử dụng đất
kém hiệu quả, tổ chức sản xuất gặp khó khăn, khó áp dụng cơ giới hóa vào
sản xuất. Để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại và hóa nông nghiệp nông
thôn, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương thực hiện và cho phép các hộ nông
dân chuyển đổi ruộng đất, tích tụ đất đai tạo nên các trang trai có quy mô vừa
và lớn. Sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa, số lượng thửa và quy
mô thửa đất cơ bản đã được thay đổi theo chiều hướng tích cực góp phân
nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất, cải thiện đồi sống của nông dân.
Kỳ Giang là xã miền núi thuộc huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện nay,
dân cư vẫn sống dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (trên 80%), năm
2003 xã đã thực hiện chủ trương dồn điền đôi thửa. Sau 2 năm thực hiện về
cơ bản thì rộng đất trong toàn xã đã được chuyển đổi và bước đầu đã đạt được
một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, sau khi dồn điền đổi thửa, vẫn còn một
số vấn đề tồn tại về sử dụng đất đai như diện tích trồng lúa còn chiếm diện
tích khá lớn, người dân chưa chú trọng đầu tư cho vùng đất xấu Vì vậy, xây
dựng phương hướng sử dụng đất, nhằm mục đích định hướng cho người dân
trong xã khai thác và sử dụng hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cải thiện
đời sống.
Xuất phát từ thực tế sử dụng đất của địa phương, được sự đồng ý của ban
chủ nhiệm khoa Tài nguyên đất và Môi trường nông nghiệp - Trường Đại học
Nông Lâm Huế và sự hướng dẫn của của cô giáo TS Trần Thị Thu Hà,
năng và hiện trạng sử dụng đất.
Từ các định nghĩa, khái niệm trên có thể hiểu đơn giản: Đất đai là một
diện tích cụ thể của bề mặt trái đất và bao hàm các thuộc tính tự nhiên, kinh
tế, xã hội như: khí hậu, địa hình địa mao, thổ nhưỡng, thủy văn, động thực vât
tự nhiên và các hoạt động của con người.[3]
*. Khái niệm đất sản xuất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là tất cả những diện tích được sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, diện tích
nghiên cứu thí nghiệm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Kể cả diện tích đất
lâm nghiệp và các công trình xây dựng cơ bản phục vụ cho sản xuất nông lâm
nghiệp.
Đất sản xuất nông nghiệp là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp bao gồm: đất cây trồng hàng năm và đất trông cây lâu năm
2.1.2 Sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ
người – đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi
trường. Có nhiều kiểu sử dụng:
- Sử dụng đất trên cơ sở sản xuất trực tiếp như trồng trọt, lâm nghiệp,
đồng cỏ.
- Sử dụng đất trên cơ sở gián tiếp như chăn nuôi, cơ sở chế biến Nông -
Lâm- Ngư nghiệp
- Sử dụng đất vì mục đích bảo vệ môi trường như chống suy thoái đất,
bảo tồn đa dạng hóa loài sinh vật, bảo vệ các loài quý hiếm.
- Sử dụng đất theo các chức năng đặc biệt như đường sá, khu dân cư,
khu công nghiệp
2.1.3 Quan điểm sử dụng đất bền vững
Tính bền vững của một hệ thống sử dụng đất phải đạt được cả trên ba
phương diện sau
- Bền vững về kinh tế: Các loại cây trồng trên loại hình sử dụng đất đó
cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận
cung cấp những thông tin cần thiết cho quy hoạch sử dụng đất đai.
Hệ thống này được sử dụng như là nền tảng để đánh giá các hệ thống
đánh giá đất đai hiện có thông qua sự so sánh và kết quả:
- Hệ thống này sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu thành những hệ thống
đánh giá đất đai mới riêng cho các vùng chuyên biệt.
- Hệ thống này đã và đang được áp dụng rộng rãi cho các nước trên thế
giới.[2]
2.2 Những vấn đề hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
2.2.1 Lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Hiểu một cách đơn giản thì hiệu quả là kết quả tốt theo sự mong đợi và
hướng tới của con người trong đời sống.
Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, hiệu quả mang lại sẽ có nội dung đặc trưng
riêng: Trong kinh doanh, hiệu quả là giá trị thặng dư, lợi nhuận thu được sau
khi tiêu thu sản phẩm. Trong sản xuất, hiệu quả là hiệu suất, năng suất đạt
được trong một quá trình sản xuất nhất định. Trong lao động, hiệu quả là
năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian. Trong xã hội, hiệu quả là sự tác động tích cực tới các
lĩnh vực xã hội [7]
*. Hiệu quả kinh tế
Theo C.Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao
động theo các ngành sản xuất khác nhau. Mọi hoạt động của con người đều
tuân theo quy luật đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản
xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người
qua mọi thời đại.
Theo các nhà khoa học Đức (Stennien, Hânu, Rusteruyer, Simmerman-
1995) thì hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong
một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản
xuất vật chất trong một thời kỳ góp phần làm tăng thêm phúc lợi xã hội [7]
Vậy, hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng
đất hợp lý
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường
thường mâu thuẫn với nhau. Do vậy, khi lựa chọn loại hình sử dụng đất cần
chú ý cân bằng nhằm đảm bảo sự phát triển kính tế mà không làm tổn hại đến
môi trường [7]
2.2.2 Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả sử dụng đất là kết quả của một hệ thống các biện pháp về tổ
chức sản xuất, khoa học kỹ thuật, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội; Trong
điều kiện cụ thể, sản xuất nông nghiệp luôn gắn liền với các ngành kinh tế
khác. Bên cạnh các biện pháp kỹ thuật và thâm canh truyền thống cần phải
biết vận dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật mới, mạnh dạn chuyển đổi cơ
cấu cây trồng phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất trên cơ sở tận
dụng tối đa tiềm năng đất đai
Hiệu quả sử dụng đất là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng
đất đai trong hoạt động kinh tế xã hội. Thể hiện về mặt kinh tế qua lượng sản
phẩm, lượng giá trị (lợi nhuận) thu được bằng tiền, thể hiện về mặt xã hội là
lượng lao động được sử dụng trong quá trình hoạt động kinh tế cũng như
hàng năm để khai thác đất [7]
Vậy khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần chú ý đến tác động của việc
sử dụng đất tới phương diện kinh tế cũng như xã hội, đồng thời phải quan tâm
tới những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường xung quanh
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sẽ có ý nghĩa đối với
sản xuất nông nghiệp nói riêng và đối với đời sống xã hội nói chung. Vì khi
đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sẽ thu được những kết quả sau:
- Xác định được hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất trong hoạt động
sản xuất nông nghiệp, từ đó đưa ra những quyết định hữu hiệu cho việc bố trí
sản xuất đảm bảo thu được lợi nhuận cao nhất
- Đánh giá, xem xét những lợi ích mang lại và bất cập thông qua việc
sử dụng đất nông nghiệp về các vấn đề xã hội như giải quyết việc làm, nâng
cao thu nhập, trình độ dân trí, quá trình sản xuất với tập quán canh tác của địa
dụng lao động, Mặc dù nhóm nhân tố này xếp sau nhân tố điều kiện tự
nhiên nhưng thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất
đai. Nếu điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng
về phương thức sử dụng đất, thì sử dụng đất như thế nào được quyết định bởi
sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện
có, quyết định bởi tính pháp lý, tính khả thi về kinh tế kỹ thuật và mức độ đáp
ứng của chúng, quyết định bởi nhu cầu của thị trường.
Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội, góp phần tạo ra năng suất
kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp. Cần tận dụng khai thác tiềm năng các yếu tố thuận lợi nhưng
phải có giải pháp khắc phục trên cơ sở khoa học và thực tiễn đối với những
yếu hạn chế. Quan trọng là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử
dụng đất để có những biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao
hiệu quả
- Yếu tố lao động:
Lao động với tư cách là chủ thể của quá trình lao động, có khả năng
nhận thức được các quy luật khách quan. Lực lượng lao động sẽ thúc đẩy sản
xuất phát triển, điều này lại phụ thuộc rất lớn vào trình độ lao động, trình độ
học vấn, trình độ tay nghề của người lao động. Hiện nay, nông nghiệp đang
dần có những bước phát triển nhanh đặc biệc là công nghệ sinh học. Do đó
đòi hỏi chủ thể lao động phải có khả năng nắm bắt nhanh chóng những thay
đổi đó và ứng dụng có hiệu quả vào sản suất nông nghiệp.
- Phương thức canh tác:
Phương thức canh tác bao gồm các biện pháp kỹ thuật canh tác, là
những tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên
sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản suất để đạt hiệu quả kinh tế cao.
Tập quán canh tác cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn các tác động kỹ thuật,
lựa chọn chủng loại cây trồng và sử dụng các đầu vào nhằm đạt được các mục
tiêu kinh tế. Trong trồng trọt, mỗi loại cây trồng đều có một phương thức
canh tác khác nhau, đòi hỏi cần phải nắm vững được yêu cầu các biện pháp
- Căn cứ vào luật đất đai năm 1993, sửa đổi và bổ sung một số điều
Luật đất đai năm 1998 và năm 2001
- Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 09 năm 1993 của Chính phủ về
việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài vào
mục đích sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân
- Quyết định số 68/2002/QĐ- TTg ngày 04 tháng 06 năm 2002 của Thủ
tướng Chính phủ về chương trình hành động thực hiện nghị quyết Trung ương
V (khóa IX)
- Luật đất đai 2003 ngày 10 tháng 12 năm 2003
- Các quyết định, nghị quyết, chỉ thị, công văn, hướng dẫn của Tỉnh ủy,
Ủy ban nhân dân các địa phương về công tác dồn điền đổi thửa.
2.3.2 Tình hình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa (giai đoạn I) ở
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Hầu hết diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện đã được giao ổn
định lâu dài theo Nghị định 64/CP, đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nông nghiệp cơ sở hạ tầng trong nông thôn và trên đồng ruộng cũng đang
được đầu tư nhưng ruộng đất được giao cho nhân dân sử dụng ổn định có tính
chất manh mún gây khó khăn trong sản xuất. Do đó, chủ trương dồn điền đổi
thửa là rất cần thiết. Cùng với nghị quyết số 01 ngày 20/7/2001 của Tỉnh Uỷ,
Ban chấp hành Huyện ủy Kỳ Anh đã có nghị quyết số 04 NQ/HU ngày
20/7/2001 về cuộc vận động chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp. Sau 2 năm
thực hiện, đến tháng 10/2004 toàn huyện với 33/33 xã, thị trấn đã hoàn thành
công tác chuyển đổi.
Bảng 2.1: So sánh một số chỉ tiêu trước và sau DĐĐT của huyện Kỳ Anh
S
T
Chỉ tiêu Đơn vị Trước
DĐĐT
Sau
DĐĐT
Những kết quả đạt được từ công việc chuyển đổi đã tạo điều kiện thuận
lợi cho nông dân trong sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, chủ động
mạnh dạn thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, ứng dụng máy móc trong sản
xuất giúp giảm chi phí trong sản xuất, tiết kiệm được cường độ lao động,
thời gian tạo điều kiện khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai
Thông qua việc chuyển đổi tạo điều kiện quy hoạch sử dụng đất hợp lý
và nâng cao việc quản lý đất đai. Bên cạnh đó, là việc đưa cơ giới vào phục
vụ sản xuất đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn
2.3.3 Tình hình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa ở xã Kỳ Giang,
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Xã Kỳ Giang có diện tích tự nhiên là 1719,83 ha, trong đó có 551,32ha
diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Sau 7 năm thực hiện nghị định 64/CP của
Chính phủ về việc sử dụng đất nông nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực
hơn trước, việc sản xuất đã mang lại hiệu quả cho nông dân.
Tuy nhiên, việc thực hiện giao đất theo Nghị định 64/CP ở xã Kỳ Giang
còn bộc lộ một số hạn chế như ruộng đất chia cho nông hộ còn manh mún,
nhỏ lẽ gây khó khăn cho việc sản xuất như đưa máy móc vào sản xuất, hệ
thống tưới tiêu không thuận tiện , khó khăn cho việc quản lý và nhiều hạn
chế khác cần có biện pháp khắc phục
Ngày 12/6/2001 Tỉnh ủy có Nghị quyết số 01 ngày 20/7/2001, Huyện
ủy có nghị quyết số 04, UBND huyện Kỳ Anh đã có đề án chuyển đổi ruộng
đất nông nghiệp. Sau 2 năm thực hiện (2003 + 2004) thực hiện cuộc vận động
chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp ở xã Kỳ Giang đã thu được kết quả tốt
Bảng 2.2: So sánh một số chỉ tiêu trước và sau dồn điền đổi thửa
T
T
Chỉ tiêu Đơn vị
Trước
DĐĐT
3
đất, xây được 116 cầu cống nội đồng
Qua bảng cho thấy, sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa cho 12/12 thôn
của xã đã giảm được thửa, bình quân thửa trên hộ giảm 11,3 thửa/hộ xuông
còn 4,5 thửa/hộ. Bình quân diện tích/thửa tăng so với trước dồn điền đổi thửa
là 328 m
2
. Diện tích các thửa đất tăng tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản
xuất cho người dân như việc cơ giới hoá, hệ thống giao thông và kêng mương
nội đồng thuận tiện hơn.
Bên cạnh những thành tựu đạt được ở trên, việc thực hiện dồn điền đổi
thửa giai đoạn 1 của xã vẫn tồn tại một số khuyết điểm như: Một số thôn chia
đất trên 5 vòng chia dẫn đến ruộng đất vẫn còn manh mún, sau chuyển đổi số
hộ có 5 thửa còn quá nhiều chiếm 34,97% (500 hộ), số thửa có diện tích dưới
500 m
2
là 1903 thửa trên tổng số là 6321 thửa (chiếm 30%), việc thực hiện
làm giao thông thuỷ lợi nội đồng trên toàn xã chưa đồng bộ nên công tác tưới
tiêu còn gặp nhiều khó khăn
Tóm lại, sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa hiệu quả sử dụng đất của
xã tăng lên rõ rệt, đất đai được sử dụng đúng mục đích và mang lạ hiệu quả
cao. Tuy nhiên sau dồn điền đổi thửa nhiều thửa đất bị lấy đi phần đất mặt
màu mỡ nên tốn nhiều công sức và chi phí để cải tạo, vì vậy cần có chủ
trương cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp để tạo điều kiện cho người dân
đầu tư thâm canh cải tạo ruộng đất là cho hiệu quả sử dụng đất ngày càng cao
lên. Mặt khác, xã phải có chủ trương, kế hoạch lâu dài để giúp đỡ và nông
dân xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, hệ thống kênh mương nội đồng, đặc
biệt là phải chủ động nguồn nước tưới để tăng số vụ trên năm nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đất tăng năng suất cây trồng góp phần cải thiện bộ mặt
nông thôn.
3.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Đây là phương pháp phân tích và xử lý các số liệu thô đã thu thập
được để thiết lập các bảng biểu để so sánh được sự biến động và tìm nguyên
nhân của nó. Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp cần thực hiện.
3.4.4 Các phương pháp kế thừa
- Thừa kế những số liệu đã có của các cơ quan chuyên môn trên địa bàn
huyện.
- Từ những số liệu mà ta thu thập được ta tiến hành đi thực địa để kiểm
tra xem những số liệu đó có xác thực với ngoài thực địa hay không để kịp
thời điều chỉnh cho phù hợp.
3.4.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp thông qua
đánh giá các tiêu chí
Hiệu quả sử dụng đất là tiêu chí đánh giá mức độ khai thác sử dụng đất
và được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ SD đất đai: là tỷ số giữa hiệu của tổng diện tích đất đai và diện
tích đất chưa chưa sử dụng với tổng diện tích đất đai.
Tổng diện tích đất đai -Tổng diện tích đất chưa sử dụng
* Tỷ lệ SDĐ (%) =
Tổng diện tích đất đai
Diện tích các loại đất
* Tỷ lệ SD loại đất (%) =
Tổng diện tích đất đai
Nguồn: [3]
*. Đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế, bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong một thời kỳ nhất định ( thường là một năm).
- Chi phí trung gian (IC): là khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng
tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng
trong quá trình sản xuất.
Địa hình của xã vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng, dạng địa hình kéo
dài và thấp dần từ Nam - Bắc, nghiêng từ hướng Đông Bắc sang Tây Nam.
Với ưu thế về địa hình, vị trí địa lý nên xã có điều kiện phát triển nền nông
nghiệp, lâm nghiệp đa dạng và bền vững
4.1.1.2 Thời tiết khí hậu
Xã Kỳ Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung
bình hàng năm của xã khoảng 25
0
C, tháng cao nhất 34
0
C, thấp nhất là tháng
12 với 15
0
C, độ ẩm không khí thường trên 70%. Các mùa được phân bố cụ
thể như sau:
- Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 với lượng mưa
trung bình năm trên 2000ml, vào mùa này thường có gió mùa Đông Bắc và
gió bão kèm theo mưa lớn, đây cũng là mùa ngập lụt.
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, là mùa nắng gắt có gió Tây
Nam nóng và khô, lượng nước bốc hơi lớn, đặc biệt là từ tháng 6 đến tháng 8
lượng mưa rất ít chỉ đạt từ 8 - 12% tổng lượng mưa cả năm.
Về mùa khô chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên thời tiết khô nóng,
lượng nước bốc hơi lớn gây nên tình trạng thiếu nước trong sản xuất và sinh
hoạt vẫn diễn ra phổ biến mặc dù đã có các tuyến kênh và hồ đập
Trong những năm gân đây do diễn biến thất thường của thời tiết đã gây
nên hiện tượng các bệnh xuất hiện trên các loại cây trồng và vật nuôi thường
xẩy ra như bệnh héo rũ ở cây lạc, bệnh đạo ôn và khô vằn trên cây lúa, cúm
gia cầm lan rộng đã gây tổn thất cho người dân.
4.1.1.3 Thuỷ văn, tài nguyên nước
Xã có nguồn nước mặt khá dồi dào về số lượng và chất lượng nước
triển sản phẩm lâm nghiệp hàng hóa tạo nên sự đa dạng hóa nền kinh tế của
xã tạo công ăn việc làm tăng nguồn thu nhập đáng kể cho người dân.
4.1.1.6 Thực trạng môi trường
Do trình độ thâm canh còn hạn chế và ý thức bảo vệ môi trường chưa
được chú trọng nên các hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông dân đã làm
cho đất bị suy thoái, quá trình xói mòn và rửa trôi đã làm cho đất bị biến chất.
Thêm vào đó là tập quán khai thác sử dụng lạc hậu đã làm cho diện tích rừng
giảm cả về diện tích và chất lượng, kéo theo sự suy giảm về đa dạng sinh học.
Tuy nhiên trong những năm gân đây việc trồng rừng trên địa bàn xã đã được
đẩy mạnh nhằm nâng cao độ che phủ và ngăn ngừa các tác động tiêu cực đến
môi trường.
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Dân số - lao động
*.Dân số
Tổng dân số năm 2009 của xã Kỳ Giang có 5.679 người với 1.552 hộ gia
đình sinh sống trong 12 thôn (Tân Lập, Tân Thành, Tân Phong, Tân Diệu,
Tân Pha, Tân Giang, Tân Đông, Tân Khê, Tân Đình, Tân Thắng, Tân Hòa).
Mật độ dân số của xã hiện nay là 330,6 người/ km
2
và phân bố tương đối đều
ở các thôn. Trong những năm qua xã đã thực hiện tốt công tác dân số - kế
hoạch hoá gia đình, tốc độ gia tăng dân số hiện nay là 1,04%. [17]
*.Lao động
Tính đến năm 2009, xã Kỳ Giang có 2.835 người trong độ tuổi lao động
chiếm 49,9 % tổng dân số của toàn xã. Cơ cấu kinh tế của xã đã ảnh hưởng
trực tiếp đến cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế. Năm 2005 số lao động
trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm gần 95% số lao động đang làm việc trong
các ngành kinh tế, thì đến năm 2009 số lao động của ngành nông nghiệp chỉ
còn 71,8 %. [17]
4.1.2.2 Thu nhập và mức sống
và một số tập thể ở trong xã nên việc xây dựng không đồng bộ. Hiện nay
đường dây xuống cấp nghiêm trọng dẫn đến hao hụt điện năng, xảy ra sự cố
mất điện làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của bà con trong toàn xã
4.1.2.4 Thực trạng phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,5%, thu nhập bình quân đầu người
đạt 7,6 triệu/người/năm. Cơ cấu kinh tế đang có hướng chuyển dịch tích cực:
Nông - Lâm - Ngư chiếm 59%, Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và xây
dựng chiếm 19% , Thương mại dịch vụ chiếm 22% đã có tác động tốt tới đời
sống nhân dân
*. Nông nghiệp
- Trồng trọt: Những năm gân đây nhờ chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, từng
bước áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã là cho năng suất và sản
lượng cây trồng tăng lên, đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm và từng
bước nâng cao, cải thiện đời sống nhân dân.
Bảng 4.1: Bình quân diện tích và năng suất một số cây trồng ngắn
ngày chủ yếu xã Kỳ Giang
TT
Loại
cây
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Diện
tích
(ha)
Năng
suất
(tạ/ha)
Diện
tích
(ha)
Năng
mại dịch vụ hoạt động sôi nổi hơn trước, đa dạng các mặt hàng ngày càng
tăng lên phục vụ đầy đủ cho sản xuất, xây dụng và mua sắm hàng ngày của
người dân. Theo số liệu điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể đến
1/10/2009 số hộ có tham gia vào các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại và dịch vụ là 181 hộ, tăng 26% so với năm 2008. Tổng
giá trị ngành công nghiệp tiểu thủ công nghiệp là 7.531,2 triệu đồng, ngành
thương mại dich vụ là 9.147,3 triệu đồng theo thống kê năm 2009.
Trên địa bàn xã hiện có nhà máy gạch Tuynel hàng năm cung cấp một
lượng lớn gạch gói ra thị trường, góp phần giải quyết việc làm cho một bộ
phân lao động trong cũng như ngoài xã, tăng thêm nguồn thu nhập cho người
dân.
4.1.3 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Kỳ Giang
*. Thuân lợi
- Phần lớn diện tích đất trồng cây hàng năm của xã có độ phì khá. Đất
đai được hình thành trên đá Feralit đỏ vàng rất tốt để các loại cây sinh trưởng
phát triển
- Khí hậu phân bố theo mùa tạo điều kiện cho việc bố trí cây trồng theo
mùa vụ
- Tài nguyên nước khá dồi dào và rất chủ động đáp ứng nhu cầu tưới
cho phần lớn diện tích đất canh tác của xã. Thuỷ văn của xã khá đa dạng (các
hồ, đập) tạo điều kiện thuận trong việc điều hoà nguồn nước trong canh tác
mùa vụ
- Diện tích đất đồi núi chưa sử dụng còn nhiều, điều này cho thấy khả
năng tận dụng hết tài nguyên đất để đưa vào trồng rừng phát triển mô hình
kinh tế trng trại của xã là rất tốt.
- Nguồn lao động dồi dào, là những người dân có tập quán canh tác lâu
đời, kinh nghiệm sản xuất phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát
triển sản xuất nông nghiệp của xã
- Hệ thống giao thông khá phát triển là điều kiện thuận lợi cho việc sản
xuất, giao lưu trao đổi vật tư, sản phẩm nông nghiệp. Đặc biệt, xã có tuyến