Thu hút dự án theo cơ chế phát triển sạch ở Trung Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o

NGUYỄN MỸ HƢƠNG
THU HÚT DỰ ÁN THEO CƠ CHẾ PHÁT
TRIỂN SẠCH TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN THỊ KIM ANH

Hà Nội - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o


tin, số liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Đặc biệt xin được gửi lời cảm ơn đến Cục
khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu; Phòng CDM – Quỹ bảo vệ môi trường Việt
Nam – Bộ tài nguyên và môi trường.

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn: “Thu hút dự án theo cơ chế phát triển sạch tại
Trung Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam” là công trình nghiên cứu riêng của cá
nhân tôi. Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn
và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.

ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của Đề tài Luận văn 1
2. Tình hình nghiên cứu 4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu 6
6. Đóng góp mới của luận văn 7
7. Cấu trúc của luận văn 8
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CDM VÀ DỰ ÁN
CDM 9
1.1 Giới thiệu nghị định Kyoto và cơ chế phát triển sạch (CDM) 9
1.1.1. Nội dung chính trong nghị định thư Kyoto 9

3.3.1 Rào cản về hành chính và lập pháp: 62
3.3.2 Rào cản về kinh doanh: 63
3.3.3 Rào cản về nguồn nhân lực: 66
3.4 Tác động của việc thực hiện dự án CDM đối với Việt Nam 67
3.5 Hàm ý cho Việt Nam từ kinh nghiệm của Trung Quốc 70
3.6. Kết luận 75
3.6.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 75
3.6.2 Một số hạn chế của luận văn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết
tắt
Tên tiếng anh
Tên tiếng việt
BOCM
Bilateral Offset Credit Mechanism
Cơ chế tín chỉ bù trừ các-
bon song phương
CDM
Clean Development Mechanism
Cơ chế phát triển sạch
CERs
Certified Emission Reductions
Chứng chỉ giảm phát thải
DNA
Designated national Authority
Cơ quan quốc gia về CDM

Tổ chức quốc tế về tiêu
chuẩn hóa
JI
Joint Implementation
Đồng thực hiện
LCF
Low-Carbon foreign direct
investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
carbon thấp
OECD
Organization for Economic
Cooperation & Development
Tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế

v
Chữ cái viết
tắt
Tên tiếng anh
Tên tiếng việt
Ppm
Parts per million
Đơn vị đo mật độ thường
dành cho các mật độ tương
đối thấp = một phần triệu
(ppm = 1/1.000.000 =
10
4
%)

Tổ chức thương mại thế
giới
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới

 Dự án theo cơ chế phát triển sạch sau đây được gọi là Dự án CDM

vi
DANH SÁCH BẢNG
Số thứ
tự bảng
Nội dung bảng
Số Trang
2.1
Các loại dự án đăng ký CDM ở Trung Quốc.
22
2.2
Phân bổ người mua CERs của 751 dự án tính đến
3/2010 ở Trung Quốc.
26
2.3
Đặc điểm của các Dự án CDM thành công ở Trung
Quốc.

27-29
2.4

CDM ở Việt Nam
64-65
3.6
Một số rào cản đang được cải thiện ở Việt Nam
66-67 vii
DANH SÁCH HÌNH
Số thứ
tự hình
Nội dung hình
Số Trang
2.1
Tích lũy CERs năm 2012 của 751 dự án đăng ký ở
Trung Quốc và số dự án đăng ký theo loại 3/2010
18
2.2
Các dự án đăng ký CDM phân bố theo tỉnh
19
2.3
Đăng ký dự án CDM và CERs dự kiến phân bổ theo
tỉnh
20
2.4
Dự án CDM đăng ký theo ngành ở Trung Quốc
21

Số dự án CDM được đăng ký theo các nước chủ nhà
đến 31/10/2012
44
2.14
Số CERs đã được phát hành cho các nước chủ nhà đến
31/10/2012
44
3.1
Cơ cấu phê duyệt các dự án CDM ở Việt Nam
56
3.2
Sơ đồ tổ chức quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam
61
3.3
Thời gian trung bình kể từ khi đăng ký dự án đến ngày
phát hành CERs đầu tiên ở Trung Quốc và thế giới.
65
3.4
Giá CER từ Quý III/2008 đến Quý III/2012
68

1
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài Luận văn
Biến đổi khí hậu ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của các loài
sinh vật trên trái đất. Biến đổi khí hậu không chỉ đơn thuần tác động tới tự nhiên mà
còn là thách thức về kinh tế, xã hội của nhân loại mà con người phải đối mặt để giải
quyết.
Các nhà khoa học lý giải, biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí
hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời

Conference of the Parties) tại Kyoto, và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2
năm 2005.
Mục tiêu cuối cùng của Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí
hậu là để đạt được sự ổn định về khí nhà kính, nồng độ trong khí quyển ở một mức
độ sẽ phải ngăn chặn can thiệp nguy hiểm của con người với hệ thống khí hậu.
Theo nghị định thư Kyoto (1997) các nước trên thế giới được phân chia các
nước thành 2 nhóm:
+ Nhóm 1 (Annex I): gồm các nước phát triển với lượng phát thải khí nhà
kính rất lớn, cam kết giảm phát thải GHGs.
+ Nhóm 2 (Non Annex I): các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam,
chưa phải cam kết giảm phát thải khí nhà kính.
Để tạo điều kiện cho các nước thuộc phụ lục I có thể thực hiện được cam kết
giảm phát thải của mình, Nghị định thư Kyoto thiết lập ba “cơ chế mềm dẻo”: (i)
Cơ chế đồng thực hiện (JI), (ii) Cơ chế mua bán phát thải (ET) và Cơ chế phát triển
sạch (CDM).
CDM là cơ chế có liên quan tới các nước đang phát triển, cho phép nhóm
nước thuộc phụ lục I đầu tư vào các dự án giảm phát thải tại các nước đang phát
triển để tận dụng mức chi phí rẻ hơn so với thực hiện tại chính quốc gia đó. Các
nước phát triển thì thông qua dự án CDM có thể thu hút được nguồn vốn đầu tư
nước ngoài, công nghệ sạch thân thiện với môi trường và đáp ứng được mục tiêu
phát triển bền vững.

3
Như vậy các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân ở các nước
Annex I thực hiện các dự án giảm phát thải tại các nước đang phát triển và đổi lại,
các doanh nghiệp này nhận được tín dụng dưới dạng “giảm phát thải được chứng
nhận” (CER) và được tính vào chỉ tiêu giảm phát thải đã cam kết của các nước này.
Theo đó, thay vì cố gắng thực hiện giảm phát thải ngay tại nước mình bằng các biện
pháp như đầu tư, đổi mới, cải tiến công nghệ… với chi phí tốn kém hơn; các nước
công nghiệp hoá được phép thực hiện một phần cam kết thông qua thực hiện một số

2. Tình hình nghiên cứu
Sau khi nghị định thư Kyoto được kí kết vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại
Hội nghị các bên tham gia lần thứ ba (3rd Conference of the Parties) khi các bên
tham gia nhóm họp tại Kyoto, và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2 năm
2005, việc thực hiện Dự án CDM tại các quốc gia đang phát triển là một chủ đề
được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Tùy thuộc vào mục đích
nghiên cứu mỗi công trình tập trung vào những nội dung và có cách tiếp cận khác
nhau.
Zhang Zhongxiang, (2/2013) nghiên cứu “Hướng tới việc thực hiện hiệu quả
các dự án cơ chế phát triển sạch ở Trung Quốc” đã tìm ra phương thức để thực hiện
một cách hiệu quả các dự án CDM tại Trung Quốc, bao gồm các phương thức xây
dựng dự án CDM tiềm năng với các nhà tài trợ song phương và đa phương. Tuy
nhiên các đề xuất mang tính ứng dụng trong việc phê duyệt và triển khai thực hiện
dự án CDM ở Trung Quốc mà chưa đề cập tới các điều kiện tham gia dự án CDM,
phân phối khoản thu từ quỹ CDM, phổ biến kiến thức cho chính quyền địa phương
và các nhà phát triển dự án theo từng ngành, từng khu vực địa lý.
Changhua Wu, Greater (9/2012) đã tiến hành đánh giá độc lập các bài học
kinh nghiệm thực hiện dự án CDM từ 2007 cho đến nay ở Trung Quốc và để chỉ ra
làm thế nào CDM có thể tiếp tục đóng một vai trò quan trọng sau năm 2012 .
Nghiên cứu này được trình bày trong ba báo cáo chính về tác động của CDM, quản
trị của CDM, và bối cảnh tương lai cho CDM. Tuy nhiên Changhua Wu chỉ tập
trung vào phát triển CDM bền vững và việc thiết lập cơ chế hợp tác tiềm năng với

5
Quỹ khí hậu xanh và giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái thoái rừng trong CDM
và chưa đề cập đến các ngành nghề khác có tiềm năng làm dự án CDM.
Phạm Văn Hảo (2012) phân tích tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới,
những vấn đề lý luận và thực tiễn thực thi cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu tại
Việt Nam, Tác giả đã nêu và phân tích những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện
các quy định pháp luật về tài nguyên, môi trường và cơ chế phát triển sạch ở Việt

- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu trên nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
+ Hệ thống cơ sở lý luận về thu hút dự án CDM.
+ Phân tích, đánh giá tình hình thu hút các dự án CDM của Trung Quốc để
làm rõ những thành công và hạn chế còn tồn tại
+ Tổng quan thực trạng của việc thực hiện dự án CDM tại Việt Nam.
+ Đưa ra hàm ý nhằm cải thiện việc thu hút dự án CDM tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thu hút và thực hiện dự án CDM ở Trung Quốc.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về Nội dung:
 Một số chính sách tác động đến hoạt động thu hút dự án CDM của Trung
Quốc, quản lý hành chính và thủ tục phê duyệt CDM ở Trung Quốc
 Thực trạng và kết quả thực hiện dự án CDM ở Trung Quốc và nghiên cứu
một số dự án CDM điển hình.
 Thực trạng thu hút và thực hiện dự án CDM ở Việt Nam giai đoạn 2007-
2012
+ Về không gian: tập trung tình hình thu hút dự án CDM của Trung Quốc và Việt
Nam
+ Về thời gian: từ năm 2007 đến 2012 và 2012 là thời điểm số liệu được cập nhật
mới nhất khi tác giả thực hiện luận văn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu tại bàn, phân tích
định tính và tổng hợp để chứng minh, đánh giá phê phán, thừa kế các thành tựu

7
khoa học công nghệ, kinh nghiệm về việc triển khai có hiệu quả các dự án CDM ở
Trung Quốc:
- Phương pháp định tính, được áp dụng dựa trên lý thuyết về chính sách
thu hút dự án CDM, tiếp cận từ giác độ của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài,

Kết cấu của Luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục
tài liệu tham khảo, phụ lục; Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về CDM và dự án CDM.
Chương này cung cấp cho người đọc về nội dung chính của Nghị định
Kyoto, các nguyên tắc và các cơ chế của nghị định, trong đó đi sâu vào nội dung
của cơ chế CDM: lĩnh vực và hình thức đầu tư dự án CDM, những yếu tố ảnh
hưởng tới việc thu hút dự án CDM cũng như tác động của các dự án CDM đối với
nước chủ nhà, nước đi đầu tư và các đối tác đầu tư.
Chương 2: Thu hút dự án CDM ở Trung Quốc.
Nội dung chương phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới việc thu hút dự án
CDM vào Trung Quốc từ năm 2007 đến 2012. Qua đó giúp người đọc hiểu rõ
những thành công, hạn chế ở Trung Quốc cũng như nguyên nhân của những thành
công và hạn chế này.
Chương 3: Thực trạng thu hút dự án CDM ở Việt Nam và một số hàm ý.
Trong chương 3 luận văn giới thiệu tổng quát về tình hình thu hút dự án
CDM ở Việt Nam, cách chính sách và các rào cản mà Việt Nam gặp phải trong quá
trình thực hiện dự án CDM.
Trên cơ sở đối chiếu với lý thuyết ở chương 1, kinh nghiệm thực tiễn của
Trung Quốc ở chương 2, những hạn chế về chính sách thu hút dự án CDM ở Việt
Nam, những khó khăn thách thức trong giai đoạn tới nêu ở phần đầu chương 3,
Luận văn đề xuất hàm ý nhằm cải thiện chính sách thu hút dự án CDM vào Việt
Nam. 9
CHƢƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CDM VÀ DỰ ÁN CDM
1.1 Giới thiệu nghị định Kyoto và cơ chế phát triển sạch (CDM)
1.1.1. Nội dung chính trong nghị định thư Kyoto
Nghị định thư Kyoto là một cam kết được tiến hành dựa trên các nguyên tắc

những tác động nguy hiểm cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn chịu ảnh
hưởng sâu sắc của môi trường. Công ước đã được cụ thể hoá bằng nghị định
thư Kyoto (ra đời tháng 12/1997 và có hiệu lực từ 16/02/2005) với những quy định
về tỉ lệ giảm phát thải đối với các quốc gia phát triển và các hình thức xử phạt nếu
không tuân thủ. Nghị định thư bắt buộc những quốc gia thành viên bằng mọi giá cần
phải cắt giảm phát thải khí nhà kính của họ xuống 5% so với mức phát thải tại thời
điểm năm 1990. Đây thực sự là trách nhiệm nặng nề đối với những quốc gia công
nghiệp hóa.
Ba cơ chế mềm dẻo đã đạt được thỏa thuận trong Nghị định thư Kyoto nhằm
giúp những nước thuộc Phụ lục I có thể đạt được mục tiêu, đồng thời mang lại sự
phát triển bền vững cho những quốc gia đang phát triển, đó là:
- Cơ chế đồng thực hiện (Joint Implementation - JI): cho phép các nước thuộc
Phụ lục I thực hiện đầu tư các dự án giảm phát thải hoặc thu hồi khí nhà kính từ khí
quyển ở các nước thuộc Phụ lục I khác với chi phí thấp hơn so với thực hiện ở nước
sở tại và đổi lại nước sở tại sẽ nhận được các đơn vị giảm phát thải (EURs) có được
từ dự án và sử dụng chúng để thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải đã cam kết của
mình trong Nghị định thư.
- Cơ chế buôn bán quyền phát thải quốc tế (International Emission Trade -
IET): cho phép các nước thuộc Phụ lục I có thể trao đổi với nhau quyền phát thải dư
thừa của mình thông qua hoạt động thương mại.
- Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism - CDM): cho phép
các nước thuộc Phụ lục I có được chứng nhận giảm phát thải (CERs) bằng cách đầu

11
tư vào các nước không thuộc Phụ lục I thông qua các dự án đầu tư giảm phát thải
với chi phí thấp hơn tại nước sở tại.
Trong đó cơ chế JI và IET chỉ là sự giao dịch giữa các quốc gia thuộc Phụ
lục I với nhau, còn cơ chế CDM thực sự là một cơ hội cho các nước đang phát triển
trong đó có Việt Nam tiến tới mục tiêu phát triển bền vững.
1.1.2. Giới thiệu về cơ chế phát triển sạch (CDM).

Dự án CDM thuộc loại dự án đầu tư, chủ yếu là đầu tư từ nước ngoài, vì vậy
các dự án CDM tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp
luật của Việt Nam, trong đó có Luật Đầu tư được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và Nghị định số
108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
1.1.2.2 Lĩnh vực áp dụng và hình thức đầu tư dự án CDM.
Theo quy định chung của quốc tế, dự án CDM được xây dựng trong 15 lĩnh
vực sau đây:
a) Sản xuất năng lượng;
b) Chuyển tải năng lượng;
c) Tiêu thụ năng lượng;
d) Nông nghiệp;
đ) Xử lý, loại bỏ rác thải;
e) Trồng rừng và tái trồng rừng;
g) Công nghiệp hóa chất;
h) Công nghiệp chế tạo;
i) Xây dựng;
k) Giao thông;
l) Khai mỏ hoặc khai khoáng;
m) Sản xuất kim loại;
n) Phát thải từ nhiên liệu (nhiên liệu rắn, dầu và khí);
o) Phát thải từ sản xuất và tiêu thụ Halocarbons và Sulphur hexafluoride;
p) Sử dụng dung môi.

13
Các dự án CDM được khuyến khích đầu tư trước hết là dự án ứng dụng công
nghệ, kỹ thuật tiên tiến, thân thiện với môi trường, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính,
giảm ô nhiễm, góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ khí hậu, phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội bền vững. Địa bàn khuyến khích đầu tư tập trung vào các khu công

 Phê chuẩn nghị định Kyoto;
 Tự nguyện tham gia;
 Thành lập cơ quan thẩm quyền quốc gia về CDM; Trên bình diện quốc tế, để
triển khai và giám sát dự án CDM ở mỗi quốc gia, cần thiết có một Ban chấp
hành (được thành lập theo nghị định thư Kyoto) thực hiện chức năng duy trì
việc đăng ký và giám sát CDM. Đối với mỗi quốc gia thành viên trước khi
tham gia CDM phải thành lập một cơ quan quốc gia về CDM để đánh giá, phê
duyệt các dự án, đồng thời là đầu mối để phối hợp với Quốc tế.
Ngoài ra, các nước phát triển phải thuộc danh sách các nước trong Phụ lục I và
đáp ứng đủ một số điều kiện cụ thể theo Điều 3 của Nghị định thư Kyoto, như phải
đặt ra chỉ tiêu giảm phát thải, có hệ thống tính toán GHG, tiến hành kiểm kê hàng
năm, có hệ thống kế toán mua và bán khí giảm phát thải.
Đối tượng tham gia có thể là chính phủ, cơ quan trực thuộc chính phủ, chính
quyền địa phương, tổ chức tư nhân, tổ chức phi chính phủ nếu thỏa mãn các điều
kiện trên. Mặc dù việc tham gia CDM có thể bao gồm cả các khu vực tư nhân
và/hoặc nhà nước, song khu vực tư nhân được hy vọng sẽ có vai trò đặc biệt quan
trọng trong CDM. Cụ thể là các công ty tư nhân của các nước phát triển sẽ tạo ra
nguồn đầu tư ở các nước chủ nhà đang phát triển và đẩy mạnh việc chuyển giao các
công nghệ an toàn và hợp lý về mặt môi trường.
1.2.2 Điều kiện bổ sung của dự án CDM
Không phải bất kỳ các hoạt động làm hấp thụ khí nhà kính hay làm giảm phát
thải nào ở các nước đang phát triển cũng có thể tham gia vào và các dự án CDM.
Cơ chế CDM quy định, việc giảm phát thải phải mang tính bổ sung nằm ngoài bất
kỳ việc giảm phát thải nào có thể xảy ra khi không có hoạt động CDM (Điều gì sẽ

15
xảy ra nếu không có dự án CDM). Các mức phát thải xảy ra khi không có hoạt động
dự án CDM được gọi là “đường phát thải cơ sở” (baselines). Nói tóm lại, một dự án
CDM có hợp lệ hay không, trước hết phải xem xét ở “tính bổ sung” của nó. Các qui
tắc về CDM đã được quy định trong Thỏa thuận Marrakét, do COP-7 quyết định

Nguyên tắc CDM không cho chuyển hướng sử dụng ODA. Tuy nhiên vốn ODA có
thể sử dụng cho dự án nhưng không được nhận CER.
Ngoài ra, CERs từ dự án CDM phải chịu mức phí 2% – còn gọi là phần thu
nhập – khoản thu nhập này sẽ được đưa vào Quỹ thích ứng mới để hỗ trợ các
nước đang phát triển dễ nhạy cảm đối với các tác động tiêu cực của biến đổi khí
hậu. Các khoản thu khác về CERs sẽ góp phần thanh toán các chi phí quản lý CDM.
Để thúc đẩy phân bổ công bằng dự án giữa các nước đang phát triển, dự án CDM tại
các nước kém phát triển không phải chịu khoản thu thích ứng và chi phí quản lý.
1.3 Tác động của CDM đối với nƣớc chủ nhà và nƣớc đi đầu tƣ
1.3.1 Đối với nước chủ nhà:
Dự án CDM là nguồn vốn đầu tư có nhiều tiềm năng, CDM có thể giúp các
nước chủ nhà đang phát triển:
 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho các dự án hỗ trợ chuyển đổi sang nền
kinh tế thịnh vượng hơn nhưng phát thải carbon ít hơn.
 Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ hiện đại, tập trung cho các dự án thay thế
công nghệ nghiên liệu hóa thạch cũ kém hiệu quả hoặc tạo ra ngành mới trong công
nghệ bền vững với môi trường và phát triển nguồn nhân lực.
 Khuyến khích và cho phép khu vực tư nhân và cộng đồng tích cực tham gia.
 Hỗ trợ xác định các hướng ưu tiên đầu tư trong các dự án đáp ứng mục tiêu
phát triển bền vững.
Đặc biệt, CDM còn đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững của các nước
đang phát triển thông qua:
 Chuyển giao công nghệ và các nguồn tài chính
 Sản xuất năng lượng theo hướng bền vững
 Nâng cao và bảo tồn hiệu quả năng lượng

Trích đoạn Quản lý hành chính và thủ tục phê duyệt dự án CDM Chính sách liên quan đến dự án CDM Rào cản về hành chính và lập pháp: Rào cản về kinh doanh: Rào cản về nguồn nhân lực:
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status