Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự nóng lên toàn cầu là vấn đề nổi cộm trong vài thập kỉ gần đây. Biến đổi khí hậu là
một hệ quả của sự nóng lên toàn cầu, làm tổn hại lên tất cả các thành phần của môi
trường sống như: gia tăng hạn hán, ngập lụt, gia tăng các loại bệnh dịch,…
Nguyên nhân chính gây hiện tượng nóng lên toàn cầu là sự tăng lên của khí nhà
kính : CO
2
, CH4,… Theo ước tính của IPCC, khí CO
2
chiếm tới 60% nguyên nhân của
sự nóng lên toàn cầu. Nồng độ CO
2
trong khí quyển hiện nay tăng 28% (từ 288 ppm lên
366 ppm) giai đoạn 1850-1998 (IPCC, 2000). Ở giai đoạn hiện nay, nồng độ khí CO
2
tăng khoảng 10% trong chu kỳ 20 năm (UNFCC, 2005).
Để chống lại sự gia tăng biến đổi khí hậu thông qua giảm thiểu trực tiếp CO
2
, hiện
nay nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển đang cố gắng thực hiện
các dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM). Riêng đối với Việt Nam, trong chiến lược
bảo vệ và phát triển rừng của cả nước giai đoan 2006 – 2020, một trong những nội dung
của chiến lược là hướng tới phát triển trồng rừng theo CDM, giúp giảm thiểu khí nhà
kính (GHG). Ngoài mục đích hấp thụ khí nhà kính (GHG), Chính phủ còn muốn tạo điều
kiện trồng lại rừng trên hơn sáu triệu ha đất trống, núi trọc trong cả nước (Theo QĐ số
1970/QD/BNN-QL ngày 6/7/2006 của Bộ NN&PTNT, diện tích đất trống đồi trọc cuối
năm 2005 là 6,4 triệu ha). Trong bối cảnh như vậy, việc tăng cường xúc tiến các dự án
AR-CDM sẽ giải quyết tốt song song hai vấn đề này. Chính vì vậy, Chính phủ Việt Nam
đã đề nghị Chính phủ Nhật Bản tiến hành một Dự án nghiên cứu phát triển để xúc tiến
Nam và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).
• Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện vào năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện chuyên đề nghiên cứu này, sinh viên đã sử dụng một số các phương
pháp sau:
• Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu từ các tài liệu tham khảo trên mạng,
sách báo, báo cáo tổng hợp của dự án,….phục vụ việc tính toán các lợi ích kinh
tế của dự án,….
• Phương pháp xử lí số liệu thu thập được bằng phần mềm excel nhằm mục đích
tính toán các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của dự án.
• Phương pháp phân tích số liệu: phân tích các số liệu thu được từ việc xử lí bằng
phần mềm excel.
• Phương pháp CBA để đánh giá hiệu quả của dự án
trong chương III
5. Giới thiệu kết cấu chuyên đề tốt nghiệp
Đề tài nghiên cứu có ba chương:
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Chương I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn đánh giá hiệu quả kinh tế và môi
trường của dự án trồng rừng hấp thụ CO
2
theo cơ chế phát triển sạch.
Chương II: Hiện trạng dự án trồng rừng hấp thụ CO
2
theo CDM ở Cao phong – Hòa
Bình
Chương III: Đánh giá hiệu quả kinh tế của dịch vụ hấp thụ CO
2
trong dự án AR-CDM
Việc bao phủ diện tích đất rừng sẽ giúp làm giảm sự nóng toàn cầu bằng cách lưu
giữ cacbon thông qua sự hấp thụ của cây và hệ thực vật khác. Trong quá trình quang hợp
thì cây quang hợp ánh sáng từ mặt trời để chuyển thành năng lượng hoá học dưới dạng
chất glucose đồng thời thải khí ôxy. Cacbon trong glucoses được sử dụng để tạo ra
cellulose - vỏ cây và được giữ đến khi cây chết và phân huỷ. Theo cách này, việc tăng
trưởng của cây sẽ làm giảm lượng khí CO
2
do khí thải nhà kính tạo ra trong không khí.
Dịch vụ này của rừng cần được tiếp thị và cần được tăng cường bằng nhiều hoạt động
như: trồng rừng, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, giảm tác động từ việc chặt
phá rừng và các hoạt động khác tăng cường quản lý rừng.
Mặc dù lợi ích của việc lưu giữ lại cacbon trong việc giảm hiệu ứng nhà kính là
hiển nhiên thì cho đến nay vẫn không có một cơ chế chính thức nào để thực hiện vấn đề
này. Thậm chí ngày nay, mặc dù với sự phát triển mạnh của các dịch vụ thương mại hoá
cùng sự cam kết thực hiện của các quốc gia đối với vấn đề này đã được bàn đến trong
hội nghị Kyoto năm 1997, nhưng hầu hết những người chủ rừng vẫn không thể chuyển
đối “tài sản” “cacbon” thành tiền như họ có thể làm với gỗ hay các sản phẩm của rừng
khác.
1.2. Cơ chế phát triển sạch (CDM)
1.2.1 Định nghĩa
CDM là một công cụ được phát triển nhằm thực hiện các biện pháp đối với sự biến
đổi khí hậu. Đây là một cơ chế linh hoạt nhằm định lượng và bán lượng khí hiệu ứng
được giảm phát thải giữa các nước công nghiệp hóa phải đạt được một chỉ tiêu giảm
phát thải và các nước đang phát triển.
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
CDM là một trong ba cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto, trong đó nó cho
phép các nước phát triển đạt được các chỉ tiêu về phát thải khí nhà kính bắt buộc thông
qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển, sẽ nhằm hấp
2
O)
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Các quá trình công nghiệp (CO
2
từ sản xuất xi măng, HFCs, PFCs, SF
6
)
Các dự án bể hấp thụ cacbon (chỉ áp dụng đối với lĩnh vực trồng rừng và khôi
phục rừng)
1.2.4 Các bước thực hiện CDM
Hình 1.1. Các bước thực hiện dự án CDM
Chu trình dự án CDM trên đây gồm 7 giai đoạn cơ bản: thiết kế và xây dựng dự án,
phê duyệt quốc gia, thẩm định và đăng ký, tài chính của dự án, giám sát, thẩm tra/chứng
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
6
1. Thiết kế và xây dựng dự
án
2.Phê duyệt quốc gia
3. Phê duyệt/đăng ký
4. Tài chính dự án
5. Giám sát
Văn kiện thiết kế dự
án
Các Bên tham gia
dự án
Các nhà đầu tư
Tổ chức tác
- Phân tích rủi ro và độ nhạy
- Kết luận và kiến nghị
1.3.2.1 Bước 1: Xác định các chi phí và lợi ích của dự án
Quá trình này chính là liệt kê đầy đủ các chi phí và lợi ích liên quan đến dự án theo
quan điểm xã hội theo các nguyên tắc sau:
• Một lợi ích bị mất đi được coi là một chi phí, ngược lại một chi phí tiết kiệm
được coi là một lợi ích.
• Không tính thiếu, tính trùng, nhận dạng đúng và đủ các khoản chi phí, lợi ích.
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
• Phải có đơn vị đo lường chung.
Chi phí của dự án CDM: Cũng như các dự án thông thường khác, dự án CDM
cũng bao gồm các chi phí thường xuyên, chi phí không thường xuyên và chi phí cơ hội.
Chi phí thường xuyên là các khoản chi cho quản lý và vận hành dự án hàng năm gồm có
chi phí bao dưỡng, nguyên vật liệu, nhân công, nhà xưởng... Chi phí không thường
xuyên là những khoản chi phát sinh ngay khi dự án mới bắt đầu thực hiện và không
thường xuyên trong suốt đời dự án gồm có khoản đầu tư cơ sở hạ tầng, mua sắm máy
móc, thiết bị... Chi phí cơ hội phát sinh do sự thay đổi về công nghệ, tỷ lệ lãi suất, biến
động kinh tế, xã hội.
Ngoài các chi phí kể trên, dự án CDM còn chịu các khoản chi phí CDM như chi
phí thiết kế, xây dựng dự án, thuế CERs, chi phí giao dịch...
Lợi ích của dự án CDM: Ngoài doanh thu như các dự án thông thường khác,
dự án CDM còn có doanh thu trực tiếp từ bán CERs và các lợi ích khác đóng góp vào sự
phát triển bền vững như uy tín, hình ảnh doanh nghiệp, xoá đói giảm nghèo, giảm ô
nhiễm môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, đóng góp vào nỗ lực chống biến đổi khí
hậu toàn cầu.
1.3.2.2. Bước 2: Đánh giá chi phí lợi ích
Đây là bước quan trọng của quá trình CBA, là quá trình lượng hóa bằng tiền tệ
các giá trị chi phí và lợi ích đã mô tả ở bước 1. Các chi phí và lợi ích được quy đổi theo
0
1 B
1
C
1
B
1
- C
1
2 B
2
C
2
B
2
– C
2
... ... ... ...
t B
t
C
t
B
t
– C
t
Nguồn: Tác giả tổng hợp
1.3.2.3 Bước 3: Tính toán các chỉ tiêu
Trong CBA có các chỉ tiêu cần dùng là: Giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ suất lợi ích –
chi phí (BCR), hệ số hoàn vốn nộp bộ (IRR). Ngoài ra một số dự án người ta còn sử
khấu được tính bằng cách lấy bình quân gia quyền của các tỷ lệ lãi suất. Còn
vốn tự có thì tỷ lệ chiết khấu được lấy từ tỷ lệ lãi suất tiền gửi kì hạn một năm
tại Ngân hàng thương mại. Riêng trong CBA thì tỷ lệ chiết khấu phải phản
ánh chi phí cơ hội của tiền và sự ưa thích về mặt thời gian của xã hội. Nói
cách khác tỷ lệ chiết được lựa chọn phải phán ánh được mức sinh lời trung
bình của tiền trong kinh tế.
Sau khi đã lựa chọn biến thời gian và tỷ lệ chiết khấu, chúng ta tiến hành tính toán
các chỉ tiêu của dự án :
Giá trị hiện tại ròng (NPV)
Giá trị hiện tại ròng của dự án là hiệu số giữa giá trị hiện tại của các khoản thu
nhập và chi phí trong tương lai, nghĩa là tất cả trong tương lai, nghĩa là tất cả lợi nhuận
hang năm được chiết khấu về thời điểm bắt đầu bỏ vốn theo tỷ lệ chiết khấu đã chọn.
Công thức tính:
( )
∑
=
+
−
=
n
t
tt
r
CB
NPV
0
1
Trong đó: r: là tỷ lệ chiết khấu
t : là năm tương ứng (t= 1, 2, 3,...,n)
n: là số năm hoạt động của dự án
t
t
r
C
r
B
BCR
0
0
1
1
Đối với phân tích chi phí lợi ích, lợi ích còn bao gồm cả lợi ích môi trường, và
chi phí bao gồm xốn cộng với các chi phí vận hành, bảo dưỡng, thay thế và các chi phí
môi trường. Tỷ số B/C cho biết tổng các khoản thu của dự án có đủ bù đắp các chi phí
bỏ ra của dự án hay không và dự án có khả năng sinh lãi không. Dự án chỉ được chấp
nhận khi B/C≥1.
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)
Đây là một trong những chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất trong đánh giá hay
mức độ hấp dẫn về mặt tài chính của các dự án đầu tư bằng việc so sánh với lãi suất về
tài chính hoặc tủ lệ chiết khấu. Bản chất của IRR là mức thu lợi nhuận trung bình của
đồng vốn được tính theo các kết số còn lại của vốn đầu tư ở đầu năm của dòng tiền tệ.
IRR là khả năng sinh lãi riêng của dự án. IRR là tỷ suất chiết khấu đặc biệt mà tại đó
NPV = 0.
Công thức tính : NPV = 0 hay
( ) ( )
∑∑
==
+
=
+
>1
và NPV
2
< 0 và r
2
- r
1
≤ 5%.
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
IRR= r
1
+ (r
2
- r
1
)
( )
NPVNPV
NPV
21
1
−
Hình1.2: Đồ thị biểu diễn IRR
Đường đồ thị của IRR sẽ cắt trục hoành (điểm có NPV = 0) tại điểm biểu thị tỷ
suất chiết khấu (IRR) của dự án đầu tư.
1.3.2.4 Bước 4: Phân tích rủi ro và độ nhậy
Trong thực tế, dự án có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào như các rủi ro do biến động
về kinh tế xã hội, biến động trên thị trường vốn, thay đổi trong chính sách và thể chế...
luận về hiệu quả của dự án. Đồng thời đưa ra các kiến nghị và đề xuất các giải pháp để
khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả dự án.
1.4. Hấp thụ CO
2
của môi trường rừng được quy định trong CDM
1.4.1. Một số loại rừng trồng ở Việt Nam theo CDM
Để ước tính khả năng hấp thụ CO
2
của một số loại cây trồng dưới đây, các tác giả
đã sử dụng phương pháp lập ô tiêu chuẩn, chọn một số cây để cân đo khối lượng sinh
khối tươi và khô. Từ đó có tổng khối lượng tích luỹ CO
2
trong quá trình quang hợp để
tạo thành sinh khối rừng trồng. Thông qua các kết quả phân tích thu được, các tác giả
đã xây dựng hệ số quy đổi tính lượng CO
2
hấp thụ từ trữ lượng rừng và xây dựng
đường hồi quy tuyến tính giữa lượng CO
2
hấp thụ với năng suất gỗ và năng suất sinh
trưởng học.
Ở Việt Nam, giá trị hấp thụ CO
2
của một số loại rừng trồng như rừng trồng keo
lai, rừng trồng keo tai tượng, rừng trồng keo lá chàm, rừng trồng bạch đàn Urophylla,
… lá rất lớn. Vì vậy những loại cây này là lựa chọn hàng đầu của các nhà lâm nghiệp
khi trồng rừng với mục đích giảm phát thải GHG (theo CDM). Dưới đây sẽ là mô hình
một số loại rừng trồng tiêu biểu.
1.4.1.1 Rừng trồng keo lai
Nghiên cứu tiến hành đo đếm sinh khối và trữ lượng cacbon của rừng trồng keo lai
Cacbon
hấp
thụ(tấn
/ha)
E
CO
2
hấp
thụ(tấn/
ha)
G
Chợ Mới -
Bắc Kạn
1100 2 14,03 6,38 10,44 13,63 7,28 26,69
Hàm Yên –
Tuyên
Quang
1200 2 32,90 13,73 23,29 26,70 13,64 50,03
A Lưới –
Thừa Thiên
Huế
1450 3 30,85 17,81 25,08 31,01 17,94 65,78
HàmYên –
Tuyên
Quang
900 3 91,49 34,31 47,77 53,95 28,68 105,17
Kim Bôi –
Hoà Bình
1650 4 76,07 75,41 108,58 133,09 71,27 261,31
Chợ Mới -
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Đường hồi quy tuyến tính của keo lai: Theo kết quả phân tích xây dựng phương
trình tương quan – hồi quy tuyến tính giữa lượng CO
2
hấp thụ hàng năm (biến phụ thuộc
Y) và năng suất gỗ (biến độc lập X) của PGS.TS. Ngô Đình Quế và cộng sự đã đưa ra
phương trình tương quan giữa X và Y như sau:
Y = 0,92 X + 11,74 ( hệ số tương quan r
2
= 0,74)
Và mối quan hệ giữa năng suất sinh học (biến độc lập Z) là :
Y = 1,9 Z + 0,18 (với hệ số tương quan r
2
= 0,99)
1.4.1.2 Rừng thông nhựa
Thừa kế từ kết quả nghiên cứu của PGS.TS Ngô Đình Quế và cộng sự, chúng ta
xây dựng phương trình tương quan – hồi quy giữa lượng hấp thụ CO
2
hàng năm (biến Y)
với năng suất gỗ (biến X) và năng suất sinh học (biến Z) như sau:
Y = 1,87 X + 1,56 (hệ số tương quan r
2
= 0,79)
Y = 1,81 Z + 0,78 (hệ số tương quan r
2
= 0,99)
1.4.1.3 Rừng keo tai tượng
Cũng xây dựng tương tự hàm hồi quy tuyến tính như hai loại cây trên, ta có
phương trình hồi quy tuyến tính giữa các đại lượng:
Thông nhựa 0,65 1,46 1,22 0,54 3,67
Bạch đàn Uro 0,66 1,25 1,14 0,52 3,67
Keo lai 0,54 1,40 1,19 0,53 3,67
Keo tai tượng 0,54 1,35 1,20 0,52 3,67
Keo lá tràm 0,57 1,39 1,21 0,53 3,67
Nguồn:Khả năng hấp thụ CO
2
và một số loại rừng trồng ở Việt Nam – PGS.TS Ngô
Đình Quế và cộng sự.
Trong đó :
B/A- Tỷ số giữa sinh khối gỗ khô(tấn/ha) lâm phân (m3/ha)
C/B- Tỷ số giữa sinh khối trên mặt đất/Sinh khối gỗ khô
D/C- Tỷ số giữa tổng sinh khối/ Tổng sinh khối trên mặt đất.
E/D- Tỷ số giữa tổng lượng cacbon hấp thụ/ tổng sinh khối
G/E- Hệ số chuyển đổi sang CO
2
NIRI : Viện nghiên cứu Nissho Iwai – Nhật Bản
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Như vậy, chúng ta có thể tính lượng CO
2
hấp thụ dựa vào phương trình tuyến tính
khi biết năng suất và năng suất sinh học hoặc dựa vào các hệ số quy đổi số lượng. Theo
kết quả tính toán thực tế ở VIeettj Nam với rừng keo tai tượng, keo lá tram, thông nhựa
và bạch đàn Uro dựa vào hệ số quy đổi ở trên cho thấy:
• Các rừng keo lai 3-12 tuổi với mật độ từ 800-1350 cây/ha có năng suất từ 11,43
ở cây 3 tuổi và 24,21 m
3
/ha/năm ở cây 7 tuổi. Lượng CO
hấp thụ trong sinh
khối rừng dao động từ 107,87 tấn/ha ở cây 3 tuổi đến 387,71 tấn/ha ở cây 12
tuổi.
1.4.2. Lợi ích kinh tế của việc hấp thụ CO
2
của môi trường rừng theo cơ chế CDM
1.4.2.1 Tổng quan về thị trường CERs của quốc tế và Việt Nam
Thị trường CERs quốc tế
Nghị định thư Kyoto chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 16/02/2005, mở ra
một triển vọng mới cho thị trường cácbon quốc tế. Nghị định thư Kyoto yêu cầu các
nước phát triển phải giảm mức phát thải GHG của mình trong thời kỳ cam kết đầu tiên
(từ 2008 – 2012) trung bình ở mức 5,2% so với mức phát thải năm 1990.
Nhu cầu thị trường GHG được coi là tương đương với lượng giảm GHG được
yêu cầu. Nó có thể được xác định theo công thức sau:
Lượng giảm GHG cần thiết = (lượng giảm phát thải từ 2008 - 2012)
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
= (lượng phát thải năm1990) x 5,2%
Vậy nhu cầu giảm phát thải và nhu cầu CERs trong 5 năm từ 2008 – 2012 sẽ là
một nguồn cầu tương đối lớn.
Theo ước tính của Cơ quan năng lượng Quốc tế (IAEA), tổng lượng phát thải
CO
2
tương đương (CO
2
e) trong lĩnh vực năng lượng của 24 nước thuộc các nước phát
triển trong năm 2000 là 11.130 (triệu tấn) và dự đoán năm 2010 là 20.054 triệu tấn CO
2
e.
thải GHG, đồng thời góp phần cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ môi trường. Việc thực
hiện công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu nói chung và chúng ta
tham gia vào CDM nói riêng là nghĩa vụ và quyền lợi của chúng ta.
Bên cạnh đó, CDM cũng đem lại cho Việt Nam những cơ hội mới để thu hút kêu
gọi đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, áp dụng những công nghệ sạch,
công nghệ thân thiện môi trường phát triển ngành nông nghiệp và công nghiệp của mình.
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Nước ta đã nắm bắt được những lợi ích của CDM mang lại và nhận định thị
trường GHG là một thị trường đầy tiềm năng mang lại nhiều nguồn lợi. Việt Nam đưa
dự án CDM vào dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và đã có những chính sách
miễn hoặc giảm thuế suất thu nhập doanh nghiệp, dự án CDM được miễn thuế nhập
khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án, hàng hóa nhập khẩu là
nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được để phục vụ sản xuất
của dự án. Ngoài ra, dự án CDM được miễn, giảm tiền sử dụng đất, thuê đất và sản
phẩm của dự án CDM có thể được trợ giá khi đáp ứng đủ một số điều kiện của pháp luật
quy định hiện hành.
Quyết định nêu rõ, CERs thuộc sở hữu của nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự
án CDM, được theo dõi và quản lý thông qua Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Khi
nhận, phân chia và bán CERs, chủ sở hữu CERs hoặc đầu mối tiếp nhận CERs phải đăng
ký với Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam và báo cáo với Cơ quan có thẩm quyền quốc
gia về CDM.
Sau khi nhận CERs, nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự án CDM có thể chào
bán ngay cho các đối tác có nhu cầu hoặc lựa chọn thời điểm thích hợp trong thời gian
CERs có hiệu lực. Trường hợp chủ sở hữu CERs là nhà đầu tư nước ngoài không bán
CERs để thu tiền mà chuyển về nước để thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính
thì nộp lệ phí trên số tiền của CERs đang sở hữu tính theo giá thị trường tại thời điểm
chuyển về nước.
Tuy nhiên, tại Việt Nam có thể nhận thấy thị trường GHG chưa được quan tâm
cacbon. Có nhiều công ty, tổ chức và nhiều người liên quan muốn bồi thường cho lượng
khí thải nhà kính họ thải ra mà không cần liên hệ tới Nghị định thư.
Một vấn đề khá quan trọng liên quan đến thị trường này là giá bán CER, dưới đây
là diễn biến giá bán CER từ 1998 – 2006:
Hình 1.3: Diễn biến giá bán CERs
Nguồn: World Bank. 2006. State and Trends of the Cacbon market 2006
Theo hình ở trên thương mại tín chỉ cácbon có xu hướng tăng nhanh trong 3 năm
gần đây, cùng với đó thì giá bán mỗi tín chỉ CER cũng tăng lên theo. Giá bán bình quân
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
xác định cho năm 2004 là khoảng 5,15 đô la Mỹ cho 1 tấn CO2e; cho năm 2005 là 7,04
đôla Mỹ cho 1 tấn CO2e và tính cho 3 tháng đầu 2006 là 11,56 đô la cho 1 tấn CO2e.
Năm 2004 lượng CERs thương mại là khoảng 101 triệu tấn CO
2
e với giá trị
khoảng 549 triệu đô la; năm 2005 là 374 triệu tấn CO
2
e với giá trị khoảng 2.708 triệu đô
la và trong 3 tháng đầu 2006, lượng CERs buôn bán là khoảng 79 triệu tấn CO
2
e với giá
trị là 907 triệu đô la. Cụ thể, lợi ích thu được từ buôn bán CERs được thống kê dưới
bảng sau:
Bảng 1. 4: Lợi ích thu từ buôn bán CERs của các nước đang phát triển từ
2004 – 2006
Năm Lượng CERs buôn bán
(triệu tấn CO
2
e)
Tấn C Tấn CO
2
e Giá thấp Giá cao
1 Rừng giàu 196,3 720,4 57.631 126.788
2 Rừng trung bình 153,0 561,4 44.909 98.799
3 Rừng nghèo 122,9 451,0 36.078 79.372
4 Rừng phục hồi 79,6 292,2 23.376 51.426
5 Rừng tre nứa 50,4 184,4 14.755 32.461
Nguồn: PSG.TS Vương Vân Quỳnh
Như vậy có thể thấy rằng, rừng tự nhiên lưu giữ một lượng cacbon rất lớn. Cao
nhất là rừng gỗ tự nhiên giàu, với khoảng 720 tấn CO2e/ha có giá trị khoảng 58 – 126
triệu đồng/ha; Tiếp đến là rừng gỗ tự nhiên trung bình với giá trị về cacbon từ 45 - 99
triệu đồng/ha; rừng tự nhiên nghèo từ 36 – 79 triệu đồng/ha; rừng tự nhiên phục hồi từ
23 – 51 triệu đồng/ha và thấp nhất là rừng tre nứa, từ 15 – 32 triệu đồng/ha.
Tính toán thử nghiệm lợi ích thu được từ buôn bán CERs ở xã Hồng Trung, huyện
A Lưới, Thừa Thiên Huế về giá trị thương mại. Đây là dự án trông rừng môi trường trên
đất A Lưới, Miền Trung Việt Nam. Cụ thể được tổng hợp dưới bảng sau:
Bảng 1.6: Giá trị thương mại của một số cây trồng (dựa theo lợi ích từ hấp thụ
CO2)
Loại rừng Tuổi Diện tích CO
2
hấp thụ USD/ha/năm VND/ha/năm
Nguyễn Hà Linh Kinh tế - Quản lí tài nguyên Môi trường 48
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
(năm) (ha) (tấn/ha) (1000đ)
Keo lá trăm 12 54,00 7.962,8 61 1.000
Keo lai 3 20,50 1.544,5 125 2.000
Quế 17 27,55 11.527,1 123 1.900
Thông 3 lá 15 21,90 6.678,4 101 1.600
1.5.1. Hiện trạng thực hiện CDM trong lâm nghiệp của một số nước
1.5.1.1 Dự án Lâm nghiệp cộng đồng và sự lưu trữ Cacbon thí điểm tại Scolel Te –
Chiapas – Mexico.
• Mục tiêu và hoạt động: Tái trồng rừng ở rừng nhiệt đới và những vùng đất
cao và kết hợp giữa nông nghiệp và lâm nghiệp trên những mảnh đất nhỏ
của nông dân.
• Diện tích: 2000 ha trên tổng só 13,200 ha (quy mô dự án tuỳ thuộc vào
nguồn tài trợ)
• Đối tác (hiệp hội tín dụng, viện nghiên cứu, Đại học Edinburgh, Liên đoàn
môtô quốc tế, vv…)
1.5.1.2 Dự án quỹ FACE – Innoprise, Sabah, Malaysia
• Mục tiêu dự án : Dự kiến sẽ hấp thụ khoảng 4,3 triệu tấn CO
2
trong vòng
60 năm.
• Diện tích : 25,000 ha cây dầu nước thuộc khu vực rừng nhiệt đới ở vùng
đất thấp.
• Đối tác : Công ty Innoprise (hợp tác với QUỹ Sabah, Sabah, Malaysia) và
tổ chức FACE (Hấp thụ CO2 trong lâm nghiệp) thuộc Ban Điện lực Hà
Lan – Hà Lan.
1.5.1.3 Dự án Kompong Cham, Campuchia
• Mục tiêu: thực hiện nông lâm kết hợp có sự tham gia của cộng đồng,
ước tính đạt 1 triệu tấn CO
2
được hấp thụ trong vòng 10 năm.
• Diện tích : 10.000 ha rừng trồng.
• Đối tác: Chính phủ và các nhà đầu tư Campuchia,…
1.5.2. Kinh nghiệm tính toán lợi ích kinh tế hấp thụ CO
2
của rừng theo CDM
=3,67 tấn CO
2
.
Do vậy, nếu giá 1 tấn Cacbon là 30 USD, thì giá 1 tấn CO
2
theo cách quy đổi
ở trên là 30/3,67 = 8 USD/tấn CO
2
. (Theo cách tính của Tiến sĩ Joseph Romm - Uỷ viên cao cấp tại Mỹ)
1.5.2.1 Dự án Lâm nghiệp cộng đồng và sự lưu trữ Cacbon thí điểm tại Scolel Te –
Chiapas – Mexico.
Phương pháp ước lượng khí nhà kính: Sử dụng mô hình CO
2
Fix, ước tính
được trữ lượng CO
2
tích luỹ ròng trong toàn bộ vòng đời của cây là 15000 –
333000 tấn Cacbon. Theo cách quy đổi ở trên thì vòng đời của cây sẽ hấp thụ
được từ 55050 – 1222 110 tấn CO
2
. Theo giá bán của dự án là 10 USD/tC, vậy
giá bán mỗi tấn CO
2
e xấp xỉ 3 USD. Theo cách tính này thì giá trị thương mại
thu được của việc hấp thụ CO
2
được tổng hợp dưới đây :
Bảng 1.7: Giá trị thương mại của sự hấp thụ CO
2
tại Scolel Te – Chiapas –