Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––– NGUYỄN TRUNG KIÊN
“ĐÁNH GIÁ NHANH TÍCH LŨY CÁC BON LÀM CƠ SỞ
KHOA HỌC PHÁT TRIỂN RỪNG THEO CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH
TẠI HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
TS. Trần Quốc Hưng
THÁI NGUYÊN – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CẢM ƠN
Nâng cao chất lƣợng đào tạo gắn liền lý thuyết với thực tiễn là mục tiêu
quan trọng trong chƣơng trình đào tạ o của trƣờng Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên. Để hoàn thành chƣơng trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khóa học
2008-2010, đƣợc sự đồng ý của Khoa Đào tạo sau đại học - trƣờng Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Đánh giá nhanh tích lũy Các
bon rừng trồng làm cơ sở khoa học phát triển rừng theo cơ chế phát triển sạch
(CDM) tại huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn”.
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả nhận đƣợc sự quan tâm và
giúp đỡ tận tình của các cán bộ, giáo viên Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, đặc biệt là Khoa Đào tạo sau Đại học. Cho phép tôi đƣợc bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học, khoa Lâm nghiệp,
các thầy cô giáo Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Quốc Hƣng,
Tác giả Luận văn Nguyễn Trung Kiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AR/CDM
Trồng rừng/tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch
(Afforestation/reforestation clean development mechanism)
CERs
Chứng nhận giảm phát thải
C, CO
2
Các bon, Cácboníc (Carbon Dioxide)
CDM
Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism)
D
Đƣờng kính
CLit
Vật rơi rụng
DW
T
, DW
Total
Tổng khối lƣợng (sinh khối) khô tuyệt đối
SDW, DW
S
Khối lƣợng khô tuyệt đối của mẫu
FW
Sinh khối tƣơi
SFW, FW
S
Khối lƣợng tƣơi của mẫu
SA
Diện tích ô mẫu
R1, R2
Rễ tầng đất 1, Rễ tầng đất 2.
S1, S2
Đất tầng 1 (0-5cm); Đất tầng 2 (5- 15cm).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
iv
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
2.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
16
2.2. ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
16
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
16
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
16
CHƯƠNG III. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU
VỰC NGHIÊN CỨU
24
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
24
3.1.1. Vị trí địa lý
24
3.1.2. Điều kiện khí hậu
24
3.1.3. Điều kiện thủy văn
25
3.1.4. Hiện trạng sử dụng đất
26
3.2. ĐIỀU KIỆN DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI
28
3. 2.1. Điều kiện dân sinh
28
3.2.2. Điều kiện kinh tế
29
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
v
ĐÁP ỨNG ĐƢỢC LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ KHẢ NĂNG CHI TRẢ CÁC BON
CHO MÔI TRƢỜNG TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
65
KẾT LUẬN- TỒN TẠI- KIẾN NGHỊ
68
KẾT LUẬN
68
TỒN TẠI
69
KIẾN NGHỊ
69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
71
PHỤ LỤC
73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng Trang
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 27
Bảng 4.1.Tổng hợp diễn biến diện tích rừng trồng huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
giai đoạn 1985- 2009 41
Bảng 4.2: Lƣợng tích lũy các bon ở các trạng thái đất trống 47
Bảng 4.3: Lƣợng tích lũy các bon ở trạng thái rừng Keo tai tƣợng tuổi 5 48
Bảng 4.4: Lƣợng tích lũy các bon ở trạng thái rừng Keo tai tƣợng tuổi 7 49
Bảng 4.5: Lƣợng tích lũy các bon ở trạng thái rừng Bạch đàn đỏ tuổi 5 50
Bảng 4.6: Lƣợng tích lũy các bon ở trạng thái rừng Bạch đàn đỏ tuổi 7 51
Hình 4.6: Tỷ lệ các bon tích lũy ở rừng Bạch đàn đỏ tuổi 7 52
Hình 4.7: Biểu đồ so sánh lƣợng tích lũy các bon trong sinh khối cây đứng giữa Keo
tai tƣợng tuổi 5 và tuổi 7 54
Hình 4.8: Biểu đồ so sánh lƣợng tích lũy các bon trong sinh khối thảm tƣơi, vật rơi
rụng, rễ và đất giữa Keo tai tƣợng và Bạch đàn đỏ tuổi 5 và tuổi 7 54
Hình 4.9: Biểu đồ so sánh lƣợng tích lũy các bon trong sinh khối cây đứng giữa Bạch
đàn đỏ tuổi 5 và tuổi 7 55
Hình 4.10: Biểu đồ so sánh lƣợng tích lũy các bon trong sinh khối thảm tƣơi, vật rơi
rụng, rễ và đất giữa Bạch đàn đỏ tuổi 5 và tuổi 7 55
Hình 4.11: Biểu đồ tổng lƣợng tích lũy các bon ở các trạng thái rừng 56
Hình 4.12: Biểu đồ so sánh lƣợng tích lũy các bon giữa trạng thái đất trống, Keo tai
tƣợng và Bạch đàn đỏ tuổi 5 ở các chỉ tiêu đo tính: Thảm tƣơi, vật rơi rụng, rễ và đất
tầng 1, tầng 2 57
Hình 4.13: Biểu đồ so sánh lƣợng tích lũy các bon giữa trạng thái đất trống, Keo tai
tƣợng và Bạch đàn đỏ tuổi 7 ở các chỉ tiêu đo tính: Thảm tƣơi, vật rơi rụng, rễ và đất
tầng 1, tầng 2 58
Hình 4.14: Biểu đồ so sánh lƣợng tích lũy các bon ở cây đứng giữa Keo tai tƣợng và
Bạch đàn đỏ tuổi 5 59
Hình 4.15: Biểu đồ so sánh lƣợng tích lũy các bon ở cây đứng giữa Keo tai
tƣợng và Bạch đàn đỏ tuổi 7 59
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế kỷ XX, nhân loại chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học,
kỹ thuật và công nghệ. Từ đó tạo cho con người có nhiều điều kiện để giải quyết
các vấn đề về cuộc sống, quan hệ xã hội, trí tuệ, tìm hiểu khoa khọc tự nhiên
Theo đó, cuộc sống của con người có nhiều tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, chính sự
phát triển quá nóng như vậy, Chính phủ các nước hầu như chưa quan tâm đến sự
quan đến rừng và các dự án, chương trình trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng
cũng như những chính sách đối với người dân có cuộc sống gắn bó với rừng và
nghề rừng như: Dự án 327, PAM, 661; các dự án trồng rừng kinh tế, các chương
trình trồng rừng ở các địa phương; các hoạt động liên quan đến bảo tồn và phát
triển rừng của các tổ chức phi chính phủ Các hoạt động trên đã góp phần quan
trọng vào việc tăng diện tích đất có rừng ở nước ta, cũng như từng bước đảm bảo
cuộc sống người dân có cuộc sống gắn bó với rừng.
Nhằm đi sâu nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng tích luỹ
Các bon của một số loại rừng trồng trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
hiện nay, dự báo khả năng hấp thụ CO2 của các trạng thái rừng và các phương
thức quản lý rừng để làm cơ sở khuyến khích, xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ
môi trường, đây chính là những vấn đề còn thiếu nhiều nghiên cứu ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó, có những đề xuất, khuyến cáo người dân, cấp uỷ, chính quyền địa
phương để có những định hướng, lựa chọn loại cây để đưa vào trồng rừng ở địa
phương nhằm đáp ứng tốt nhất hiệu quả kinh tế và hiệu quả bảo vệ môi trường
trong thời gian tới. Xuất phát từ nhận thức như vậy, nên tôi lựa chọn đề tài:
“Đánh giá nhanh tích lũy các bon làm cơ sở khoa học cho trồng rừng theo cơ
chế phát triển sạch tại huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
CHƢƠNG I:
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận:
1.1. Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đó được thông qua trong hội
nghị thượng đỉnh về trái đất được tổ chức tại Rio de Janerio, 1992. Đó là hiệp
định của Liên hợp quốc làm ổn định các khí nhà kính trong khí quyển ở một mức
mà có thể ngăn chặn và hạn chế những biến đổi xấu của khí hậu [1]. Để đưa
+ Giúp đỡ các nước đang phát triển, nơi sẽ thực hiện các dự án CDM đạt
được mục tiêu phát triển bền vững.
+ Cung cấp cho các nước phát triển cơ hội linh hoạt để làm giảm chỉ tiêu
phát thải khí nhà kính và cho phép họ thu được các chứng chỉ giảm phát thải từ
các dự án CDM đầu tư tại các nước đang phát triển.
CDM là cơ chế „mềm dẻo‟ nhất và có liên quan trực tiếp tới các nước
đang phát triển. Hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng được coi là các hoạt
động sử dụng đất phù hợp nhất trong CDM. Tuy nhiên, một trong những yêu cầu
nghiêm ngặt trong các dự án trồng rừng/tái trồng rừng theo cơ chế phát triển
sạch (AR CDM) là phải xác định được đường các bon cơ sở (Thực chất là trữ
lượng các bon trước khi trồng rừng/tái trồng rừng) nhằm đưa ra các cơ sở khoa
học để chứng minh được “lượng tăng thêm” hay lượng các bon thu nạp được bởi
các dự án AR CDM. Do vậy, việc nghiên cứu trữ lượng các bon trong sinh khối
thảm tươi cây bụi – một trong những bể chứa các bon chủ yếu được tiến hành
nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xác định đường các bon cơ sở trong việc
thiết kế và triển khai các dự án AR CDM ở Việt Nam.
Chu trình dự án CDM:
Bước đầu tiên của chu trình dự án CDM là xác định và xây dựng dự án
CDM tiềm năng. Yêu cầu của một dự án CDM là phải xác thực, có thể đo đếm
được và mang tính bổ sung. Để xác nhận sự bổ sung, các phát thải của dự án
CDM phải được so sánh với các phát thải của trường hợp tham chiếu hợp lý –
được coi là đường cơ sở. Các Bên tham gia dự án xây dựng đường cơ sở theo
phương pháp đã được thông qua trên cơ sở dự án cụ thể. Phương pháp luận
đường cơ sở được thực hiện dựa trên 3 hướng tiếp cận trong Thỏa thuận
Marraket:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
5
- Các phát thải hiện nay hoặc quá khứ trùng hợp;
- Các phát thải từ công nghệ đầu tư thiện hữu với môi trường;
nhận thấy những văn bản này chấp thuận được. [7].
Việt Nam là 1 trong 168 nước đã phê chuẩn và tham gia công ước quốc tế
về thay đổi khí hậu; Việt Nam cũng đã thành lập cơ quan đầu mối quốc gia về
CDM do Vụ hợp tác quốc tế, bộ Tài nguyên và Môi trường làm thường trực
(3/2003); đã thành lập Nhóm tư vấn về CDM gồm nhiều bộ ngành tham gia theo
Quyết định số 813/QĐ-BTNMT, ngày 08/7/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường để thực hiện các nhiệm vụ về tư vấn kỹ thuật, chính sách, đầu tư quản
lý [7]. Ngày 17/10/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số
35/2005/CT-TTg chỉ đạo việc thực hiện Nghị định thư Kyoto; thực hiện Chỉ thị
của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư
số 10/2006/TT-BTNMT ngày 12/12/2006 về việc hướng dẫn xây dựng dự án cơ
chế phát triển sạch trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto.
1.2. Gói công cụ TUL-SEA:
TUL-SEA là một gói các công cụ hỗ trợ đàm phán trong quản lý tổng hợp
tài nguyên thiên nhiên.
Các công cụ này sẽ được áp dụng tại 6 nước Đông Nam Á và Trung Quốc,
trong đó có Việt Nam. Có 6 công cụ chính được thí điểm trong dự án TUL-SEA
là:
- Đánh giá nhanh thuỷ văn (RHA)
- Đánh giá nhanh trữ lượng C (RaCSA)
- Đánh giá nhanh thị trường (RMA)
- Đánh giá nhanh cảnh quan (PaLA)
- Đánh giá nhanh về sở hữu đất (PATA)
- Đánh giá nhanh về đa dạng sinh học (RABA)
1.3. Công cụ RaCSA
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
7
Công cụ RaCSA được thiết kế nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản phù
hợp với hoàn cảnh địa phương nhằm hỗ trợ thảo luận giữa các bên liên quan.
8
Tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch cùng với những hoạt động khác của con
người là những nguyên nhân chính gây nên những biến động về nồng độ CO2
trong khí quyển. Sự gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển
làm nhiệt độ trái đất tăng. Theo tính toán của các nhà khoa học, khi nồng độ
CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi, thì nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên khoảng
3
o
C. Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5
o
C trong
khoảng thời gian từ 1885-1940, do thay đổi của nồng độ CO2 trong khí quyển từ
0,027% lên 0,035%. Dự báo, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà
kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5- 4,5
o
C vào năm 2050. Vai trò gây nên hiệu
ứng nhà kính của các chất khí được xếp theo thứ tự CO2, CFC, CH4, O3, NO2.
Sự gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới nhiều
mặt của môi trường trái đất. Kể từ những năm 1860, khi nền công nghiệp phát
triển cùng với những cánh rừng bị thu hẹp đã làm cho CO2 trong khí quyển tăng
và làm cho nhiệt độ ở Bắc bán cầu cũng tăng lên; hiện tượng này có xu hướng
gia tăng nhanh hơn kể từ những năm 1950.
Trong khi đó, rừng là bể chứa carbon, nó có vai trò đặc biệt quan trọng
trong cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, do vậy nó có ảnh hưởng lớn đến khí
hậu từng vùng cũng như toàn cầu. Rừng có ảnh hưởng lớn đến nhiệt độ trái đất
thông qua điều hoà các khí gây hiệu ứng nhà kính mà quan trọng nhất là CO2.
Hàng năm, có khoảng 100 tỉ tấn CO2 được cố định bởi quá trình quang
hợp do cây xanh thực hiện và một lượng tương tự được trả lại khí quyển do quá
trình hô hấp của sinh vật. Tuy nhiên, tác động của con người đã làm tăng nhanh
khí khác nhau: oxy, nitơ, dioxit carbon, ôzôn, mêtan, oxit nitơ, oxit lưu huỳnh,
neon, kripton, radon, hêli và một lượng hơi nước rất thay đổi. Ngoài ra còn có
những loại khí nhân tạo do con người tạo ra như các freon…Trong đó nitơ chiếm
tỷ lệ cao nhất với khoảng 75%, tiếp theo là oxy: 21%, các khí tự nhiên khác có tỷ
lệ thấp như CO2 với 0,03%, acgon 0,93%; các khí hiếm thường là khí trơ như
neon có hàm lượng 18ml/ m3 không khí, hêli 5ml/ m3 và kripton 1ml/ 1m
3
không khí v.v… Ngoài ra còn có các chất phóng xạ tự nhiên với tỷ lệ rất thấp
6.10
-8
…[11]
Trải qua nhiều thế kỷ, hàm lượng các chất khí vốn có trong không khí bị
biến động hoặc xuất hiện những loại khí mới do con người tạo ra. Điều đó đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
10
dẫn tới sự ô nhiễm không khí. Người ta đã định nghĩa về ô nhiễm không khí như
sau: “Không khí gọi là bị ô nhiễm khi thành phần của nó bị thay đổi hay có sự
hiện diện của những chất lạ, gây ra những tác hại mà khoa học chứng minh
được hay gây ra sự khó chịu đối với con người” [11].
Khi mà một trong những thành phần khí nói trên của khí quyển tăng lên
hay giảm đi đến một mức nào đó - thường là do hoạt động của con người - thì
gây nên ô nhiễm không khí, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống và các hệ sinh
thái của sinh quyển.
* Những nghiên cứu về sự biến động khí CO2 trong khí quyển:
Hàm lượng khí CO2 trong khí quyển hiện nay là 0.35% và tỷ lệ này đang
có xu hướng gia tăng. Để đánh giá hàm lượng dioxit carbon của không khí trái
đất của thời kỳ xa xưa, các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ, đã lấy các mẫu băng
trong các chỏm núi băng dày 3 400m (có niên đại 160 thiên niên kỷ) ở các độ
giảm hàm lượng dioxit carbon khí quyển hay ngược lại việc phá rừng đã làm
tăng hàm lượng đó trong khí quyển.
Các nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí bởi dioxit carbon và những
dẫn liệu có liên quan đến sự biến động CO2 trong khí quyển:
- Trong những năm gần đây, các nhà máy công nghiệp và các hoạt động
khác của con người trên toàn cầu đã đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch (than đá,
dầu mỏ và khí đốt) hơn 10 tỷ tấn quy ra than đá trong một năm. Đó chính là
nguyên nhân làm gia tăng hàm lượng dioxit carbon trong khí quyển.
- Từ những kết quả nghiên cứu của mình, Viện Tài nguyên thế giới
(World Ressousces Institute) cho rằng xã hội loài người từ 1860 – 1949 đã thải
vào khí quyển khoảng 51 tỷ tấn carbon dưới dạng dioxit carbon thông qua hình
thức duy nhất là sử dụng các nhiên liệu hóa thạch. Sau đó nhịp độ thải khí CO2
gia tăng và đạt tới 130 tỷ tấn bổ sung từ 1950 đến 1987. Nếu người ta cộng thêm
vào đó khối lượng khí carbonic phát thải do việc đốt phá rừng từ 1860 thì đến
năm 1987 khối lượng carbon thải vào khí quyển đạt tới tổng số 241 tỷ tấn chỉ
trong vòng hơn một thế kỷ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
12
- Các số liệu nêu lên bởi các cơ quan nghiên cứu của các nước khác nhau,
dù được diễn đạt dưới những hình thức và kết quả khác nhau đều khẳng định
rằng sự gia tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển là một điều xác thực. Hiện nay,
người ta ước tính rằng hàng năm việc đốt nhiên liệu hóa thạch đã phát thải vào
khí quyển 5,5 tỷ tấn dioxit carbon.
- Tỷ lệ phát thải CO2 trên toàn cầu được thống kê như sau: Mỹ và Canada
27%, Liên Xô cũ và Đông Âu 25%, Tây Âu 17%, Trung Quốc 9%, Nhật Bản,
Ôxtralia và Niu Zilân 8% và các nước còn lại 14% (theo D.Dubrana, 1991).
- Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về gây ô nhiễm không khí bởi CO2 và
các loại khí thải khác. Mỹ, Canada và Mêhicô đã tiêu thụ gần 40% năng lượng
hóa thạch tiêu thụ trên thế giới.
Theo Schimel và cộng sự, trong chu trình các bon toàn cầu, lượng các bon
lưu trữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2.5Tt, trong khi đó khí
quyển chỉ chứa 0.8Tt.
Theo đó, trong tổng số 6.3Gt – 6.6Gt lượng các bon thải ra từ cách hoạt
động của con người, có khoảng 0.7Gt – 1.7Gt được hấp thụ bởi các hệ sinh thái
bên trên bề mặt trái đất. Và hầu hết lượng carbon trên trái đất được tích lũy trong
sinh khối cây rừng, đặc biệt là rừng mưa nhiệt đới. Từ những nghiên cứu trong
lĩnh vực này, Woodwell đã đưa ra số liệu thống kê cho thấy lượng carbon được
lưu giữ trong kiểu rừng mưa nhiệt đới là cao nhất, chiếm hơn 62% tổng lượng
carbon trên bề mặt trái đất, trong khi đó đất trồng trọt chỉ chứa khoảng 1%. Điều
đó chứng tỏ rằng, việc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp sẽ làm mất cân
bằng sinh thái, gia tăng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính.
Một nghiên cứu của Joyotee Smith và Sara J.Scherr (2002) đã định lượng được
lượng các bon lưu giữ trong các kiểu rừng nhiệt đới và trong các loại hình sử
dụng đất ở Brazil, Indonesia và Cameroon, bao gồm trong sinh khối thực vật và
dưới mặt đất từ 0 - 20cm. Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng carbon lưu trữ
trong thực vật giảm dần từ kiểu rừng nguyên sinh đến rừng phục hồi sau nương
rẫy và giảm mạnh đối với các loại đất nông nghiệp. Trong khi đó phần dưới mặt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
14
đất lượng các bon ít biến động hơn, nhưng cũng có xu hướng giảm dần từ rừng
tự nhiên đến đất không có rừng [3].
3. Những nghiên cứu về sự gia tăng khí CO
2
trong khí quyển và
những nghiên cứu nhằm giảm phát thải khí CO
2
ở Việt Nam
Việt Nam là một nước có tiềm năng để thực hiện việc giảm khí phát thải.
thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp, thì tiềm năng hấp thụ KNK của rừng vào
khoảng 52,2 triệu tấn CO2 với chi phí giảm thấp, dao động từ 0,13USD/tấn CO2
đến 2,4USD/tấn CO2 trong khi chi phí để giảm thấp CO2 trong lĩnh vực năng
lượng dao động từ 22,3USD/tấn CO2 đến 154,22USD/tấn CO2 [6].
- Trong thời gian tới, cần nâng cao nhận thức cộng đồng về CDM ở cấp
quốc gia và địa phương, xác định các chỉ tiêu và chỉ số phát triển bền vững với
các ngành ưu tiên như năng lượng và lâm nghiệp để xây dựng dự án CDM; đồng
thời nghiên cứu về tiềm năng bán các bon của các dự án có triển vọng cho những
quốc gia có nhu cầu.
Do thị trường mua bán giảm phát thải khí nhà kính còn quá mới mẻ, các
doanh nghiệp thiếu thông tin về thị trường này, do đó mặc dù tiềm năng thị
trường Việt Nam là rất lớn, nhưng còn có quá ít các doanh nghiệp tham gia. Đã
đến lúc Nhà nước phải phổ biến rộng rãi hơn, cung cấp nhiều thông tin hơn cho
các nhà doanh nghiệp để họ có thể cân nhắc khi tham gia thị trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
16
CHƢƠNG II:
MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. MỤC TIÊU
1. Xây dựng cơ sở dữ liệu tích lũy các bon cho rừng trồng tại huyện Văn
Quan, tỉnh Lạng Sơn.
2. Đề xuất một số giải pháp cho phát triển rừng trồng theo cơ chế phát
triển sạch.
2.2. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Rừng trồng Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehnh), Keo tai
tượng (Acacia mangium Wild) ở tuổi 5 và tuổi 7 tại 2 xã điển hình là Tri Lễ và
Hòa Bình của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU