ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––
NGUYỄN TRUNG KIÊN
“ĐÁNH GIÁ NHANH TÍCH LŨY CÁC BON LÀM CƠ SỞ
KHOA HỌC PHÁT TRIỂN RỪNG THEO CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH
TẠI HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2010
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TRUNG KIÊN
“ĐÁNH GIÁ NHANH TÍCH LŨY CÁC BON LÀM CƠ SỞ
KHOA HỌC PHÁT TRIỂN RỪNG THEO CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH
TẠI HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Quốc Hưng
THÁI NGUYÊN – 2010
ii
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu
khảo sát và phân tích từ thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ: Trần
Quốc Hưng.
Các số liệu và những kết quả trong Luận văn là trung thực; các đề xuất,
kiến nghị đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu tại địa phương, chưa từng
được công bố dưới bất cứ hình thức nào hay trong bất kỳ công trình nào khác
trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi “Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ Lâm nghiệp”./.
Thái Nguyên, ngày 01/10/2010
Tác giả Luận văn
Nguyễn Trung Kiên
iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AR/CDM
Trồng rừng/tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch
(Afforestation/reforestation clean development mechanism)
CERs
Chứng nhận giảm phát thải
Khí nhà kính
Tt
Terra ton. 01Tt = 1012 tấn = 1018 gam.
Gt
Giga ton. 01Gt = 109 tấn = 1015 gam.
RaCSA
Đánh giá nhanh dự trữ các bon
OTC
Ô tiêu chuẩn
P
Tỷ trọng gỗ
W
Sinh khối cây gỗ
CLit
Vật rơi rụng
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................
01
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU....................................
03
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.........................................................................................
03
1.1.1. Công ước Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu.........................................
03
1.1.2. Gói công cụ TUL- SEA..........................................................................
06
1.1.3. Công cụ RaCSA......................................................................................
06
1.2. THỰC TRẠNG VỀ SỰ GIA TĂNG KHÍ CO2 TRONG KHÍ QUYỂN VÀ
NHỮNG NGHIÊN CỨU NHẰM GIẢM PHÁT THẢI KHÍ CO2 TRÊN THẾ GIỚI.....
VỰC NGHIÊN CỨU................................................................................................
24
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN.......................................................................
24
3.1.1. Vị trí địa lý.............................................................................................
24
3.1.2. Điều kiện khí hậu..................................................................................
24
3.1.3. Điều kiện thủy văn.................................................................................
25
3.1.4. Hiện trạng sử dụng đất...........................................................................
26
3.2. ĐIỀU KIỆN DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI.............................................
28
3. 2.1. Điều kiện dân sinh..................................................................................
4.1.2. Hiện trạng công tác tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp .........................
42
4.2. XÁC ĐỊNH LƯỢNG TÍCH LŨY CÁC BON Ở CÁC TRẠNG THÁI
RỪNG TRỒNG.....................................................................................................
47
4.2.1. Nghiên cứu lượng tích lũy các bon ở trạng thái đất trống ......................
47
4.2.2. Nghiên cứu lượng tích lũy các bon ở Keo tai tượng tuổi 5 và tuổi 7......
48
4.2.3. Nghiên cứu lượng tích lũy các bon ở Bạch đàn đỏ tuổi 5 và tuổi 7........
50
4.2.4. Đánh giá so sánh lượng tích lũy các bon ở các trạng thái rừng...............
52
4.3. ĐÁNH GIÁ SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ Ở CÁC TRẠNG
THÁI RỪNG TRỒNG TRÊN CƠ SỞ CÓ TÍNH ĐẾN KHẢ NĂNG
TÍCH LŨY CÁC BON...............................................................................................
60
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn..................27
Bảng 4.1.Tổng hợp diễn biến diện tích rừng trồng huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
giai đoạn 1985- 2009 ...............................................................................................41
Bảng 4.2: Lượng tích lũy các bon ở các trạng thái đất trống....................................47
Bảng 4.3: Lượng tích lũy các bon ở trạng thái rừng Keo tai tượng tuổi 5 ...............48
Bảng 4.4: Lượng tích lũy các bon ở trạng thái rừng Keo tai tượng tuổi 7 ...............49
Bảng 4.5: Lượng tích lũy các bon ở trạng thái rừng Bạch đàn đỏ tuổi 5..................50
Bảng 4.6: Lượng tích lũy các bon ở trạng thái rừng Bạch đàn đỏ tuổi 7..................51
Bảng 4.7: Tổng hợp các bon tích lũy ở các trạng thái rừng......................................52
Bảng 4.8: Trữ lượng rừng Keo tai tượng tuổi 5........................................................60
Bảng 4.9: Trữ lượng rừng Bạch đàn đỏ tuổi 5..........................................................60
Bảng 4.10: Trữ lượng rừng Keo tai tượng tuổi 7......................................................61
Bảng 4.11: Trữ lượng rừng Bạch đàn đỏ tuổi 7........................................................61
Bảng 4.12: Bảng tổng hợp thu nhập cho 1 ha rừng ..................................................62
Bảng 4.13: Bảng tổng hợp chi phí tạo rừng bình quân ở địa phương.......................62
Bảng 4.14: Cân đối thu nhập và chi phí cho 1 ha rừng.............................................63
Bảng 4.15: Bảng thu nhập từ bán chứng nhận giảm phát thải cho 1 ha rừng...........64
Bảng 4.16: Cân đối thu nhập và chi phí cho 1 ha rừng có tính đến khả năng tích lũy các
bon .....................................................................................................................65
1
Hình 4.15: Biểu đồ so sánh lượng tích lũy các bon ở cây đứng giữa Keo tai
tượng và Bạch đàn đỏ tuổi 7 ............................................................................................59
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế kỷ XX, nhân loại chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ
thuật và công nghệ. Từ đó tạo cho con người có nhiều điều kiện để giải quyết các
vấn đề về cuộc sống, quan hệ xã hội, trí tuệ, tìm hiểu khoa khọc tự nhiên.. Theo
đó, cuộc sống của con người có nhiều tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, chính sự phát
triển quá nóng như vậy, Chính phủ các nước hầu như chưa quan tâm đến sự phát
triển bền vững, hài hoà giữa kinh tế với bảo đảm môi trường trên trái đất.
Kết quả của việc phát triển kinh tế mà chưa quan tâm đến bảo vệ môi
trường là sự gia tăng của nồng độ CO2 trong khí quyển. Các nhà nghiên cứu lo
ngại rằng sự gia tăng các khí gây hiệu ứng nhà kính, đặc biệt là khí CO2, chính là
nhân tố gây nên những biến đổi bất ngờ và không lường trước của khí hậu. Trong
khi đó rừng có vai trò điều tiết khí hậu, đặc biệt là khả năng hấp thụ khí thải CO2.
Vì vậy, cần thiết phải phát triển và tạo ra những diện tích rừng đủ lớn để hấp thụ
CO2, góp phần giảm hiệu ứng nhà kính trên tầng khí quyển bề mặt trái đất. Ngày
nay, với nhận thức và trách nhiệm đối với sự tồn vong của nhân loại, Chính phủ
nhiều nước đã có sự quan tâm, nghiên cứu và đi vào giải quyết mối quan hệ giữa
phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Từ đó, xây dựng các công ước quốc tế, nghị định thư... để
thống nhất các biện pháp bảo vệ môi trường, điều hoà khí hậu ở các quốc gia trên
thế giới.
Ở Việt Nam chúng ta, trong những năm cuối của thế kỷ XX, với hậu quả
của cuộc chiến tranh kháng chiến chống Mỹ, sức ép về điều kiện kinh tế, sự gia
tăng dân số, kiến thức về môi trường, năng lực quản lý... diện tích rừng ngày càng
bị thu hẹp, nguồn tài nguyên rừng hầu như bị triệt phá hoàn toàn, giá trị kinh tế,
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận:
1.1. Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đó được thông qua trong hội
nghị thượng đỉnh về trái đất được tổ chức tại Rio de Janerio, 1992. Đó là hiệp định
của Liên hợp quốc làm ổn định các khí nhà kính trong khí quyển ở một mức mà
có thể ngăn chặn và hạn chế những biến đổi xấu của khí hậu [1]. Để đưa công ước
này vào hoạt động, tháng 12/1997, Nghị định thư Kyoto đã được đưa ra bàn về
giới hạn khí gây hiệu ứng nhà kính, và hiện nay công ước này đang được cụ thể
hoá.
Nghị định thư Kyoto cho phép các nước phát triển đạt được mục tiêu/chỉ
tiêu phát thải thông qua 3 cơ chế linh hoạt, gồm: Buôn bán lượng chi tiêu phát thải
giữa các nước phát triển với nhau; cùng tham gia thực hiện (chuyển nhượng các
chi tiêu phát thải giữa các nước phát triển, được kết nối với các dự án giảm phát
thải cụ thể); Cơ chế phát triển sạch là cơ chế duy nhất trong 3 cơ chế linh hoạt có
liên quan đến các nước đang phát triển, cơ chế này cho phép các nước đang phát
triển đạt được một phần mục tiêu giảm phát thải bắt buộc của họ thông qua các dự
án trồng rừng tại các nước đang phát triển, mà sẽ làm giảm lượng phát thải hoặc
hấp thụ khí CO2 từ khí quyển.
Cơ chế phát triển sạch (CDM – Clean Development Mechanism) là một
trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto, trong đó cho phép các nước
đang phát triển đạt được các mục tiêu về giảm phát thải khí nhà kính bắt buộc
thông qua đầu tư thương mại các dự án trồng rừng tại các nước đang phát triển,
nhằm hấp thụ khí CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát thải khí nhà kính.
Hiện tại các nước đang phát triển chưa phải bắt buộc hạn chế mức phát thải, do
mức phát thải của họ còn thấp so với chỉ tiêu [4]. Bằng cách phối hợp với các
nước phát triển để đầu tư triển khai các dự án CDM, họ sẽ đóng góp làm giảm
5
- Các phát thải từ công nghệ đầu tư thiện hữu với môi trường;
- Các phát thải trung bình của các hoạt động dự án tương tự được tiến hành
trong 5 năm trước đây trong cùng hoàn cảnh và các hoạt động đó thuộc mức
cao trong số 20% tổng các loại dự án. [7]
Chu trình thực hiện Dự án CDM theo các bước như sau:
1. Xây dựng văn kiện thiết kế dự án: Các bên tham gia dự án sẽ soạn thảo
văn kiện thiết kế dự án (PDD) theo các hướng dẫn của Ban điều hành (EB). PDD
bao gồm đề cương dự án, thiết lập đường cơ sở, ước tính mức phát thải giảm
GHG, và kế hoạch giám sát… PDD là văn bản chính thức có diễn giải chi tiết về
kỹ thuật và tổ chức của những bên tham gia và được công khai hóa. Sau đó,
những bên tham gia dự án của các nước đầu tư và nước chủ nhà có thể xin phép
chính phủ nước mình phê duyệt dự án bằng văn bản.
2. Phê duyệt và đăng ký dự án: Các tổ chức tác nghiệp được chỉ định (DOE)
được EB chỉ định mà thường là các công ty kế toán, kiểm toán, công ty luật có
khả năng đánh giá phát thải một cách độc lập và tin cậy. DOE sẽ duyệt lại văn
kiện dự án PDD xem nó có thỏa mãn được các yêu cầu bắt buộc của cơ chế CDM
được quy định trong thỏa thuận Marrakesh… và sau đó đi đến quyết định có phê
duyệt văn kiện dự án hay không. Nếu văn kiện dự án được phê duyệt, DOE sẽ
chuyển đến Ban điều hành để đăng ký chính thức.
3. Giám sát, thẩm tra và cấp chứng nhận: Để lượng cácbon giảm nhẹ buôn
bán được trên thị trường quốc tế, khi các dự án đang hoạt động, các bên tham gia
phải thực hiện giám sát mức phát thải GHG. Tổ chức tác nghiệp được chỉ định sẽ
thường xuyên kiểm chứng lượng phát thải do các hoạt động dự án CDM đạt được
và những bên tham gia dự án có trách nhiệm giám sát. Nếu một hoạt động dự án
đã đạt được các mức giảm phát thải như đã kiểm chứng, DOE sẽ đưa ra các văn
bản đảm bảo chứng nhận điều này.
4. Cấp chứng nhận giảm phát thải (CERs): Ban điều hành cấp chứng nhận
CERs dựa trên báo cáo chứng nhận của Tổ chức tác nghiệp được chỉ định nếu
còn hỗ trợ những hoạt động xoá đói giảm nghèo và cải thiện sinh kế cho người
dân vùng nông thôn.
RaCSA là công cụ đánh giá nhanh với chi phí thấp nhằm mục đích:
- Cung cấp số liệu tin cậy về dự trữ C tại một cảnh quan cụ thể cung cấp số
liệu về thay đổi khí thải trong quá khứ và những tác động của thay đổi hiện trạng
sử dụng đất đối với khí thải, không áp dụng hoặc áp dụng những can thiệp cụ thể
đối với sự phát triển hoạc bảo tồn dự trữ C.
- Xác định những vấn đề cơ bản trong mối tương quan giữa dự trữ C và sinh
kế, cơ hội để đạt được sự phát triển bền vững hơn.
- Cải thiện sự hiểu biết chia sẻ giữa các bên liên quan hướng tới FPIC
(những nguyên tắc về đồng thuận tự do và sẵn có) trong hợp đồng nhằm phát triển
hoặc duy trì dự trữ C.
2. Thực trạng về sự gia tăng khí CO2 trong khí quyển và những nghiên
cứu nhằm giảm phát thải khí CO2 trên thế giới:
Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng mặt
trời đến bề mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian
bên ngoài hành tinh chúng ta. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ
dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển. Trong khi đó, bức xạ của trái đất là sóng dài có
năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại. Các tác nhân gây ra sự hấp thụ bức
xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, khí mêtan, khí CFC... Kết
quả của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian
xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất. Hiện tượng này
diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là hiệu ứng nhà
kính.
Tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch cùng với những hoạt động khác của con người
là những nguyên nhân chính gây nên những biến động về nồng độ CO2 trong khí
quyển. Sự gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển làm nhiệt
độ trái đất tăng. Theo tính toán của các nhà khoa học, khi nồng độ CO2 trong khí
Trên thực tế lượng CO2 hấp thụ phụ thuộc vào kiểu rừng, trạng thái rừng,
loài cây ưu thế, tuổi lâm phần [3]. Do đó việc quản lý chu trình CO2 trong điều
10
hòa khí hậu, giảm tác hại hiệu ứng nhà kính đòi hỏi phải có những nghiên cứu,
đánh giá về khả năng hấp thụ của từng kiểu thảm phủ cụ thể để làm cơ sở lượng
hóa những giá trị kinh tế mà rừng mang lại nhằm đưa ra chính sách chi trả cho các
chủ rừng và các cộng đồng vùng cao.
Mặt khác, trên thế giới, việc nghiên cứu để lượng hóa những giá trị về mặt
môi trường của rừng mới trong giai đoạn khởi đầu và hoàn toàn mới ở Việt Nam.
Chính vì vậy, nghiên cứu sự tích lũy carbon trong thực vật thân gỗ để xác định giá
trị kinh tế đối với chức năng phòng hộ môi trường sinh thái của rừng tự nhiên nói
chung, rừng thường xanh nói riêng là một hướng nghiên cứu mới cần quan tâm.
Kết quả những nghiên cứu mang tính định lượng này sẽ là cơ sở để xác định giá
trị chi trả cho các chủ rừng. Nếu điều này được thực thi sẽ là nguồn động lực rất
lớn đối với các chủ rừng và các cộng đồng sống gần rừng.
Nhà bác học Pháp Lavoisier (1672 – 1725) là người đầu tiên phát hiện ra
các thành phần cơ bản của không khí. Không khí của khí quyển chứa nhiều loại
khí khác nhau: oxy, nitơ, dioxit carbon, ôzôn, mêtan, oxit nitơ, oxit lưu huỳnh,
neon, kripton, radon, hêli... và một lượng hơi nước rất thay đổi. Ngoài ra còn có
những loại khí nhân tạo do con người tạo ra như các freon…Trong đó nitơ chiếm
tỷ lệ cao nhất với khoảng 75%, tiếp theo là oxy: 21%, các khí tự nhiên khác có tỷ
lệ thấp như CO2 với 0,03%, acgon 0,93%; các khí hiếm thường là khí trơ như
neon có hàm lượng 18ml/ m3 không khí, hêli 5ml/ m3 và kripton 1ml/ 1m3 không
khí v.v… Ngoài ra còn có các chất phóng xạ tự nhiên với tỷ lệ rất thấp 6.10-8
…[11]
Trải qua nhiều thế kỷ, hàm lượng các chất khí vốn có trong không khí bị
biến động hoặc xuất hiện những loại khí mới do con người tạo ra. Điều đó đã dẫn
tới sự ô nhiễm không khí. Người ta đã định nghĩa về ô nhiễm không khí như sau:
600ppm (0.06%) gấp đôi hàm lượng của thế kỷ 19 [11]. Sự tăng cao hàm lượng
CO2 trong không khí sẽ dẫn tới nhiều hậu quả do ô nhiễm môi trường. Sự tăng cao
này đến một mức độ nào đó sẽ gây hại cho sự sống của con người và sinh vật. Có 2
cứu tinh có khả năng hấp thụ một khối lượng lớn dioxit carbon phát thải vào không
khí bởi con người là đại dương và thảm thực vật, nhờ đó mà hàm lượng CO2 làm ô
nhiễm không khí đã giảm đi.
12
Trước đây, các nhà khoa học cho rằng một nửa khối lượng dioxit carbon
tích tụ trong không khí, phần còn lại do đại dương và cây xanh hấp thụ. Ngày nay,
các đo lường của các nhà khoa học đã cho thấy thảm thực vật đã thu giữ 1 trữ
lượng CO2 lớn hơn một nửa khối lượng chất khí đó sinh ra từ sự đốt cháy các
nhiên liệu hóa thạch trên thế giới. Và từ nguyên liệu carbon này hàng năm thảm
thực vật trên Trái đất đã tạo ra được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật. Khám phá
này càng khẳng định thêm vai trò của cây xanh: việc trồng nhiều cây xanh làm
giảm hàm lượng dioxit carbon khí quyển hay ngược lại việc phá rừng đã làm tăng
hàm lượng đó trong khí quyển.
Các nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí bởi dioxit carbon và những dẫn
liệu có liên quan đến sự biến động CO2 trong khí quyển:
- Trong những năm gần đây, các nhà máy công nghiệp và các hoạt động
khác của con người trên toàn cầu đã đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch (than đá,
dầu mỏ và khí đốt) hơn 10 tỷ tấn quy ra than đá trong một năm. Đó chính là
nguyên nhân làm gia tăng hàm lượng dioxit carbon trong khí quyển.
- Từ những kết quả nghiên cứu của mình, Viện Tài nguyên thế giới (World
Ressousces Institute) cho rằng xã hội loài người từ 1860 – 1949 đã thải vào khí
quyển khoảng 51 tỷ tấn carbon dưới dạng dioxit carbon thông qua hình thức duy
nhất là sử dụng các nhiên liệu hóa thạch. Sau đó nhịp độ thải khí CO2 gia tăng và
đạt tới 130 tỷ tấn bổ sung từ 1950 đến 1987. Nếu người ta cộng thêm vào đó khối
lượng khí carbonic phát thải do việc đốt phá rừng từ 1860 thì đến năm 1987 khối
- Các vật dụng như tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ cũng góp phần làm tăng
nồng độ CO2 trong không khí.
- Hoạt động tự nhiên như phún xuất của núi lửa hàng năm trên thế giới cũng
đã làm sản sinh ra một lượng khí CO2 và SO2 lớn. Hồ Nyos ở Cameroon nằm gọn
trong miệng núi lửa, làm nước hồ chứa một khối lượng CO2 lớn là 200 triệu m3 vì
vậy mà từ nước hồ bốc lên 1 đám mây dioxit carbon phủ quanh hồ, có lần đã làm
chết ngạt 1 700 người sống xung quanh hồ và mọi sinh vật khi đi qua. Hồ Monuon
ở cách đó 100km, nước hồ sâu 96m và chứa đến 15 triệu m3 dioxit carbon và luôn
14
phát thải vào không khí xung quanh và có lần đã giết chết 37 người sống gần đó
[11].
* Những nghiên cứu về sự tích lũy các bon trong các hệ sinh thái:
Theo Schimel và cộng sự, trong chu trình các bon toàn cầu, lượng các bon
lưu trữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2.5Tt, trong khi đó khí
quyển chỉ chứa 0.8Tt.
Theo đó, trong tổng số 6.3Gt – 6.6Gt lượng các bon thải ra từ cách hoạt
động của con người, có khoảng 0.7Gt – 1.7Gt được hấp thụ bởi các hệ sinh thái
bên trên bề mặt trái đất. Và hầu hết lượng carbon trên trái đất được tích lũy trong
sinh khối cây rừng, đặc biệt là rừng mưa nhiệt đới. Từ những nghiên cứu trong
lĩnh vực này, Woodwell đã đưa ra số liệu thống kê cho thấy lượng carbon được
lưu giữ trong kiểu rừng mưa nhiệt đới là cao nhất, chiếm hơn 62% tổng lượng
carbon trên bề mặt trái đất, trong khi đó đất trồng trọt chỉ chứa khoảng 1%. Điều
đó chứng tỏ rằng, việc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp sẽ làm mất cân
bằng sinh thái, gia tăng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính.
Một nghiên cứu của Joyotee Smith và Sara J.Scherr (2002) đã định lượng được
lượng các bon lưu giữ trong các kiểu rừng nhiệt đới và trong các loại hình sử dụng
đất ở Brazil, Indonesia và Cameroon, bao gồm trong sinh khối thực vật và dưới
mặt đất từ 0 - 20cm. Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng carbon lưu trữ trong thực
triển sẽ vượt mức phát thải của các nước phát triển. Một trong những vấn đề gay
cấn nhất để đối phó với biến đổi khí hậu là làm thế nào để giảm sự tăng phát thải
KNK từ các nước đang phát triển. Trong hoàn cảnh đó, CDM có thể đóng góp vào
việc giảm phát thải ở các nước đang phát triển bằng cách đưa ra khuôn khổ để
thực hiện các dự án hợp tác giữa các nước đang phát triển và phát triển, các hoạt
động trồng mới và tái trồng rừng đã được quyết định thuộc các dự án CDM.
- Các kết quả nghiên cứu chiến lược quốc gia về CDM, trong lĩnh vực thay
đổi sử dụng đất và lâm nghiệp, thì tiềm năng hấp thụ KNK của rừng vào khoảng
52,2 triệu tấn CO2 với chi phí giảm thấp, dao động từ 0,13USD/tấn CO2 đến
2,4USD/tấn CO2 trong khi chi phí để giảm thấp CO2 trong lĩnh vực năng lượng
dao động từ 22,3USD/tấn CO2 đến 154,22USD/tấn CO2 [6].
16
- Trong thời gian tới, cần nâng cao nhận thức cộng đồng về CDM ở cấp
quốc gia và địa phương, xác định các chỉ tiêu và chỉ số phát triển bền vững với
các ngành ưu tiên như năng lượng và lâm nghiệp để xây dựng dự án CDM; đồng
thời nghiên cứu về tiềm năng bán các bon của các dự án có triển vọng cho những
quốc gia có nhu cầu.
Do thị trường mua bán giảm phát thải khí nhà kính còn quá mới mẻ, các
doanh nghiệp thiếu thông tin về thị trường này, do đó mặc dù tiềm năng thị trường
Việt Nam là rất lớn, nhưng còn có quá ít các doanh nghiệp tham gia. Đã đến lúc
Nhà nước phải phổ biến rộng rãi hơn, cung cấp nhiều thông tin hơn cho các nhà
doanh nghiệp để họ có thể cân nhắc khi tham gia thị trường.
17
CHƯƠNG II:
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU