ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
TẠI TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
(2) Số liệu trong Luận văn được điều tra là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng;
(3) Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Lan Hƣơng
LỜI CẢM ƠN
Để có đƣợc Luận văn này, bản thân tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt
tình và sự quan tâm sâu sắc của Nhà trƣờng, thầy cô, gia đình, bạn bè. Nhân
dịp hoàn thành Luận văn, tôi xin chân thành bày tỏ sự biết ơn đến các thầy cô
giáo đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cám
ơn sâu sắc tới thầy hƣớng dẫn: PGS, TS. Nguyễn Ngọc Hồi, ngƣời đã trực
tiếp giúp đỡ tôi trong suốt một năm qua, để tôi có cơ hội trau dồi kiến thức,
hoàn thành tốt luận văn của mình.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, công nhân
viên Tập đoàn Viễn thông Quân đội, nơi tôi công tác, đã tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi khảo sát thu thập số liệu, cung cấp đầy đủ thông tin, báo cáo; giúp
đỡ, tạo điều kiện về thời gian và động viên tôi hoàn thành khóa học.
Xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và những ngƣời thân trong
gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này.
Hà nội, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Học viên
3.2.2. Phƣơng pháp xử lý tài liệu, số liệu 27
Chƣơng 4. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
TẠI TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI 29
4.1. Tổng quan về Tập đoàn viễn thông Quân đội 29
4.1.1. Quá trình hình thành và chức năng, nhiệm vụ 29
4.1.2. Cơ cấu tổ chức 32
4.1.3. Tình hình kinh doanh và thành tựu 34
4.2. Quá trình hình thành, phát triển và nét đặc thù văn hóa doanh nghiệp tại
Viettel 39
4.2.1. Sự hình thành và quá trình phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Viettel 39
4.2.2. Các biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp tại Viettel 47
4.2.3. Nét đặc thù trong văn hóa doanh nghiệp tại Viettel và vai trò của nó
trong kinh doanh 51
4.3. Kết quả khảo sát điều tra và phân tích SWOT nhân tố văn hóa doanh
nghiệp tại Viettel 62
4.3.1. Kết quả khảo sát điều tra về nhận thức văn hóa doanh nghiệp tại
Viettel 62
4.3.2. Phân tích SWOT nhân tố văn hóa doanh nghiệp tại Viettel 67
4.4. Một số khó khăn, bất cập trong duy trì và phát triển văn hóa doanh
nghiệp tại Viettel trong quản lý và kinh doanh 68
4.4.1. Những bất cập trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Viettel - đánh
giá từ kết quả khảo sát bằng bảng hỏi 68
4.4.2. Viettel đang bƣớc vào một giai đoạn kinh doanh mới dự báo khó khăn
hơn 70
4.4.3. Văn hóa doanh nghiệp của Viettel vẫn còn nhiều tồn tại 72
Chƣơng 5. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI
VIETTEL TRONG KINH DOANH THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 75
5.1. Tiếp tục hoàn thiện các quy chế, quy định về văn hóa doanh nghiệp của
Viettel 75
5.2. Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục, nâng cao nhận thức giữ gìn và phát huy nét
Nhà xuất bản
6
VHDN
Văn hóa doanh nghiệp
7
XHCN
Xã hội chủ nghĩa ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1
Bảng 4.1
Cơ cấu tổ chức của Viettel
33
2
Bảng 4.2
Kết quả khảo sát về mức ảnh hƣởng của nhân tố
VHDN tại Viettel
63
6
Hình 4.2
Biểu đồ Lợi nhuận của Tập đoàn giai đoạn 2011-2014
36
7
Hình 4.3
Thị phần các DN cung cấp dịch vụ điện thoại di động
37
8
Hình 4.4
Thị phần các DN cung cấp dịch vụ điện thoại di động 2G
37
9
Hình 4.5
Thị phần các DN cung cấp dịch vụ điện thoại di động 3G
38
10
Hình 4.6
Thị phần các DN cung cấp dịch vụ internet
38
11
Hình 4.7
Logo và slogan Viettel
48 iv
Xây dựng và phát triển VHDN là một nội dung quan trọng của hoạt
động quản lý DN; là trách nhiệm trƣớc hết của ngƣời đứng đầu và ban lãnh
đạo. DN càng lớn thì lãnh đạo càng phải quan tâm xây dựng VHDN, và
VHDN càng phát triển thì sự phát triển của DN càng bền vững. VHDN, trƣớc
tiên là những giá trị tốt đẹp trong môi trƣờng cạnh tranh gay gắt, nên nó có ý
nghĩa điều phối các mâu thuẫn trong kinh doanh, quân bình mối quan hệ giữa
lợi nhuận và trách nhiệm xã hội, hài hòa những bất cập về quyền lợi và nghĩa
vụ giữa ngƣời chủ và ngƣời làm thuê Do đó, VHDN ngày nay luôn đƣợc coi
trọng xây dựng và phát huy trong quá trình kinh doanh của các DN theo các
mô-típ khác nhau (Corporate culture styles). Tuy nhiên, khi tìm hiểu về từng
DN cụ thể thì thông thƣờng ngƣời ta sẽ áp bộ khung các giá trị đã đƣợc lý
thuyết hóa và sử dụng tƣơng đối phổ biến, nhƣ: khẩu hiệu, giá trị truyền
thống, đạo đức kinh doanh… để quy chiếu vào đối tƣợng nghiên cứu. Việc
đánh giá nhằm phát huy tổng thể các giá trị VHDN trong một số công trình
thƣờng thiếu việc phân tích sự khác biệt; nét đặc thù không đƣợc khai thác
nhiều; một số ngƣời còn đồng nghĩa VHDN với những thành tựu hoặc chỉ là
các giá trị tốt đẹp tích lũy theo thời gian.
Trên cơ sở tiếp cận nhu cầu phát triển VHDN của DN nhƣ một xu thế
đang phổ biến trên toàn cầu và gắn với bối cảnh của Việt Nam, học viên lựa
chọn Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel) là một Tập đoàn kinh tế nhà
nƣớc có nhiều thành công nổi bật trong hơn 25 năm qua: từ một DN nhỏ trở
thành DN hàng đầu Việt Nam. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành
2
công của Tập đoàn là đội ngũ lãnh đạo và toàn thể ngƣời lao động rất coi
trọng xây dựng và phát triển giá trị VHDN của mình; trong đó, đặc biệt chú ý
tới những nét đặc thù, tạo nên sự khác biệt trong văn hóa kinh doanh của Tập
đoàn. Ra đời và phát triển từ một DN quốc phòng; ngày nay vẫn chịu sự quản
lý của Bộ Quốc phòng, nên việc duy trì và phát triển những nét đặc thù
VHDN tại Viettel trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc có cả
không chỉ từ sự phổ quát của giá trị văn hóa, mà quan trọng hơn là ở sự khác
biệt trong biểu hiện của giá trị văn hóa. Trong bối cảnh thế giới ngày càng
phẳng và cạnh tranh gay gắt, một DN muốn biến những giá trị VHDN vô hình
thành sức mạnh hữu hình; biến năng lực nội tại thành sức hấp dẫn thu hút các
yếu tố bên ngoài (đối tác, khách hàng…) thì giá trị đó phải có bản sắc, phù
hợp với bối cảnh hiện tại. Trong luận văn này, học viên đóng góp những luận
điểm phân tích về yếu tố văn hóa quân sự, hình ảnh ngƣời lính làm kinh tế…
đã đi vào VHDN Viettel từ khi thành lập đến nay; làm rõ nguyên nhân thành
công trong nghệ thuật làm thƣơng hiệu của Viettel là Tập đoàn này đã khai
thác đƣợc tâm lý yêu và tin bộ đội của ngƣời tiêu dùng Việt Nam để xây dựng
hình ảnh của mình; và do Viettel sử dụng tốt yếu tố kỷ luật, cách làm việc
quyết liệt trong Quân đội để chuyển hóa thành nền nếp, tác phong, thói quen
và bản lĩnh của ngƣời lao động tại Viettel.
- Trên cơ sở phân tích những bất cập về phát triển VHDN tại Viettel,
với kinh nghiệm và trải nghiệm tại đơn vị công tác, với kết quả tự điều tra
khảo sát bằng bảng hỏi, với nguồn số liệu sản xuất kinh doanh mới nhất (năm
2014) của Tập đoàn, luận văn đề xuất những giải pháp để VHDN Viettel vẫn
bền vững trên nền tảng cũ, nhƣng linh hoạt hơn với môi trƣờng kinh doanh
trong điều kiện hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của
Viettel.
4
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
kết cấu của luận văn đƣợc trình bày theo 5 chƣơng, gồm:
Chương 1: Tổng quan tài liệu và tình hình nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận về VHDN và phát triển VHDN.
Chương 3: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu.
Chương 4: Thực trạng phát triển VHDN tại Tập đoàn viễn thông Quân đội.
Chương 5: Giải pháp phát triển VHDN tại Viettel trong kinh doanh
với triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nhân và văn hóa
ứng xử trong kinh doanh. PGS, TS. Dƣơng Thị Liễu phân loại các thành tố
cấu thành VHDN gồm hữu hình (logo, kiến trúc, cơ cấu …) và vô hình (chiến
lƣợc, mục tiêu, triết lý, niềm tin…).
Hình 1.2. Sơ đồ các cấp độ VHDN theo PGS, TS. Dương Thị Liễu
Thứ hai, là các luận văn, luận án đã công bố
Có một số luận văn tiêu biểu, nhƣ: Đỗ Thị Thanh Tâm (2006), Xây
dựng văn hoá doanh nghiệp cho các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế thành phố Hồ
Chí Minh; Lƣu Thị Tuyết Nga (2012), VHDN tại công ty cổ phần xuất nhập
khẩu lâm thủy sản Bến Tre, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế thành
phố Hồ Chí Minh.
7
Tác giả Đỗ Thị Thanh Tâm coi văn hóa kinh doanh ở bậc thấp hơn
VHDN, chỉ là một bộ phận trong VHDN. Cụ thể là, trong VHDN có văn hóa
kinh doanh, văn hóa chăm sóc khách hàng, văn hóa bán hàng, văn hóa quản lý
nguồn nhân sự, v,v. Tác giả này cho rằng, biểu hiện của VHDN có 3 cấp độ,
nhƣng thoát ly khỏi cách phân loại truyền thống theo tri giác (hữu hình) và
nhận thức (vô hình), mà tiếp cận theo chiều sâu của các mức giá trị, theo đó:
Cấp dễ thấy nhất là thực thể hữu hình, những đồ vật: tài liệu, sản phẩm,
văn phòng và vật dụng văn phòng, hoặc công nghệ: máy móc, thiết bị, nhà
xƣởng hoặc ngôn ngữ: chuyện cƣời, truyền thuyết, khẩu hiệu hoặc các
chuẩn mực hành vi: nghi thức, lễ nghi, liên hoan hoặc các nguyên tắc: hệ
thống, thủ tục, chƣơng trình Cấp thứ hai là các giá trị đƣợc phân chia làm 2
loại. Loại thứ nhất là các giá trị tồn tại sẵn ngay trong DN một cách khách
quan và hình thành tự phát. Loại thứ hai là các giá trị mà lãnh đạo mong
muốn DN mình có và phải xây dựng từng bƣớc. Các giá trị đƣợc thể hiện có
thể đƣợc xem là đúng hay sai, hợp lý hay không tùy thuộc vào trình độ nhận
thể; sáng tạo logo, khẩu hiệu, màu sắc chủ đạo, đồng phục cho nhân viên đảm
bảo yếu tố nhận diện truyền tải một thông điệp văn hóa; hoàn thiện cơ cấu tổ
chức phù hợp với định hƣớng giá trị, nhiệm vụ DN; xây dựng hệ thống văn
bản quản lý cho DN, nhƣ: điều lệ DN, thoả ƣớc lao động tập thể, nội quy lao
động…; xây dựng cơ chế khen thƣởng, kỷ luật. Cách tiếp cận của Ngô Quang
Thuật đi từ những yếu tố lớn, đại thể, dài hạn đến những yếu tố nhỏ, chi tiết,
hành động. Từ đó, tác giả đƣa ra bộ tiêu chí VHDN khá đầy đủ với những ví
dụ cụ thể chứng tỏ quá trình sâu sát tìm hiểu nhiều DN lớn.
- TS. Phan Quốc Việt và Ths. Nguyễn Huy Hoàng, thuộc Trung tâm
Phát triển Kỹ năng Con ngƣời Tâm Việt, có bài viết Xây dựng văn hóa doanh
nghiệp - yếu tố quyết định sự trường tồn của doanh nghiệp ( www.vnpost.vn)
9
[31]. Trong bài viết này, hai tác giả cho rằng: VHDN có cả biểu hiện hữu hình
và vô hình. Bản chất của VHDN là đối nội phải tăng cƣờng đƣợc tiềm lực,
quy tụ đƣợc sức sáng tạo của công nhân viên chức, khích lệ họ sáng tạo ra
nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp; còn đối ngoại, thì phải đƣợc xã hội bản địa
chấp nhận. Hai tác giả còn nhấn mạnh: VHDN đƣợc thể hiện ở nhiều cấp độ
khác nhau. Cấp dễ thấy nhất thể hiện ngay trong công việc hàng ngày, nhƣ:
cách báo cáo công việc, giữ gìn tài sản chung, ngôn ngữ khi giao tiếp với
đồng nghiệp, với đối tác, với khách hàng, các thủ tục hành chính… Cấp thứ
hai là các giá trị tinh thần xác định việc phải làm, hành động của mình đúng
hay sai, có mang lại lợi ích hay thiệt hại chung hay không. Đây là điều mà
lãnh đạo DN mong muốn nhận đƣợc ở nhân viên và phải xây dựng dần từng
bƣớc. Cấp thứ ba là nền tảng cho các hành động chính; đó là niềm tin, nhận
thức, suy nghĩ và xúc cảm đƣợc coi là đƣơng nhiên ăn sâu trong tiềm thức
mỗi cá nhân trong DN. Các ngầm định nền tảng này là nền tảng cho các giá trị
và hành động của mỗi thành viên. Theo hai tác giả, VHDN trong một tổ chức
đã tiến đến mức độ cao nhất, có thể trở thành một thứ Đạo, mà từ thế hệ này
tới thế hệ khác tôn sùng và làm theo.
văn hóa kinh doanh, văn hóa tổ chức và vai trò của VHDN đối với sự phát
triển của DN trong kinh doanh. Tuy nhiên, các công trình đó chƣa bàn đến
vấn đề VHDN trong lĩnh vực viễn thông.
1.2. Về các công trình nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp trong các Công
ty viễn thông nói chung và Viettel nói riêng
Vấn đề này cũng đƣợc một số ngƣời quan tâm. Đáng chú ý có: Đỗ Thị
Hà Hạnh (2010), Phát triển VHDN của Công ty thông tin di động Mobiphone,
luận văn Thạc sĩ; Nguyễn Thị Việt Hoa (2013), VHDN tại VNPT Bắc Giang,
luận văn Thạc sĩ; Trần Thị Thu Hà (2013), Xây dựng VHDN tại Công ty dịch
11
vụ viễn thông Vinaphone, luận văn Thạc sĩ; Trần Thị Huyền (2013), Duy trì
và phát triển VHDN Viettel để phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, luận
văn Thạc sĩ. Nhƣ vậy, 3 nhà mạng chiếm đến 97% thị phần viễn thông tại
Việt Nam hiện nay đều đƣợc lựa chọn làm đối tƣợng nghiên cứu ở góc độ
VHDN. Tuy nhiên, cũng giống nhƣ các sách, giáo trình, các bài viết nêu ở
phần trên, các luận văn này đều đi sâu phân tích vấn đề VHDN theo bộ 3 yếu
tố: vai trò - biểu hiện - tác động của VHDN trong kinh doanh của DN. Cách
luận giải này phần nào làm lu mờ, làm thiếu đi sự riêng biệt, độc đáo, giá trị
nổi bật, cá tính của mỗi DN - thành tố đặc biệt quan trọng trong kinh tế hiện
đại. Ngay trong luận văn của Trần Thị Huyền nghiên cứu về VHDN Viettel,
nhƣng tác giả chỉ tập trung bàn đến khía cạnh biểu hiện văn hóa nói chung
của Viettel trong quan hệ với đối tác, khách hàng để đảm bảo sự phát triển
bền vững, chứ chƣa dành sự chú ý khai thác khía cạnh đặc thù: nét văn hóa
quân sự trong toàn bộ quá trình kinh doanh của Viettel. Do đó, cũng lựa chọn
VHDN và Viettel làm đối tƣợng nghiên cứu, nhƣng trong khuôn khổ luận văn
này, học viên đi sâu tìm hiểu vấn đề phát triển nét đặc thù trong VHDN của
Viettel, để giúp Viettel nổi bật, không lẫn với các DN khác trên toàn quốc.
1.3. Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu
VHDN đã đƣợc nghiên cứu hàng thế kỷ nay trên thế giới. Ở Việt Nam,
UNESCO nêu lên một định nghĩa mang tính phổ quát: "Văn hóa là một phức
thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh
cảm , khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc
gia, xã hội Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả
những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những
truyền thống, tín ngưỡng ". Theo đó, văn hóa là “tổng thể những giá trị vật
chất và giá trị tinh thần do cộng đồng các dân tộc…sáng tạo ra” [4, trang 6];
đƣợc biểu hiện ở các trạng thái hữu hình và vô hình.
Là một bộ phận của văn hóa nói chung, VHDN là một phạm trù tƣơng
đối hẹp về một khía cạnh trong hoạt động của những DN cụ thể, nơi hình
thành và nuôi dƣỡng các giá trị đó. Trên thế giới hiện có hàng trăm định nghĩa
về VHDN. Tính linh hoạt, sự khác biệt theo không gian và thời gian, mối liên
hệ với nền văn hóa mẹ và các chuẩn mực đạo đức, pháp luật nơi DN bị chi
phối nhiều nhất… làm cho các định nghĩa về VHDN đều đúng, nhƣng không
thể bao trùm hết các đối tƣợng đƣợc xem xét trong các trƣờng hợp khác nhau.
Sau đây là một số khái niệm tiêu biểu:
Theo ILO (Tổ chức lao động quốc tế), "Văn hóa doanh nghiệp là sự
tổng hợp đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, các thói quen và truyền thống,
những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ
chức đã biết".
14
Theo Georges de Saite Marie, chuyên gia Pháp về DN vừa và nhỏ:
"Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tƣợng, huyền thoại,
nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền
móng sâu xa của doanh nghiệp".
Theo Edgar H.Schein, chuyên gia nghiên cứu các tổ chức: "Văn hóa
doanh nghiệp (hay văn hoá công ty) là tổng hợp những quan niệm chung mà
thành viên trong doanh nghiệp học đƣợc trong quá trình giải quyết các vấn đề
nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trƣờng xung quanh”.