ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ NA
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG
BỀN VỮNG Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN: PGS. TS LÊ CAO ĐOÀN HÀ NỘI, THÁNG 2 NĂM 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào. Các trích dẫn đƣợc dẫn nguồn và có
xuất xứ cụ thể, trung thực, khách quan. LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS. TS Lê
Cao Đoàn đã nhiệt tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo
trong Khoa Kinh tế chính trị, Trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà
Nội đã quan tâm, tham gia đóng góp ý kiến và hỗ trợ tôi trong quá trình
SXNN
Sản xuất nông nghiệp
7
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 3.1
Năng suất cây lƣơng thực có hạt
51
2
Bảng 3.2
Diện tích trồng chè
51
3
Bảng 3.3
Diện tích rừng hiện có phân theo loại rừng
58
4
Bảng 3.4
DANH MỤC BIỂU
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Biểu đồ 3.1
Diễn biến lao động làm việc trong các nghành kinh
tế tỉnh Điện Biên
45
2
Biểu đồ 3.2
Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành
49
3
Biểu đồ 3.3
Diện tích và sản lƣợng cà phê
54
4
Biểu đồ 3.4
Giá trị sản xuất lâm nghiệp ( theo giá hiện hành)
58
5
Biểu đồ 3.5
Các chỉ tiêu trong thành phần CPI của Điện Biên,
vùng Tây Bắc và trung bình vùng Trung du miền
núi
63
2.1. Các phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng chung cho toàn bộ luận văn 39
2.1.1. Phƣơng pháp duy vật biện chứng và phƣơng pháp duy vật lịch sử. 39 2.1.2. Phƣơng pháp trừu tƣợng hóa khoa học gắn liền với phƣơng pháp lịch sử
- cụ thể 39
2 .1.3. Phƣơng pháp phân tích tổng hợp 40
2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu điển hình của từng chƣơng 40
2.2.1. Phƣơng pháp sử dụng trong chƣơng 1 40
2.2.2. Các phƣơng pháp sử dụng trong chƣơng 3 41
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG
BỀN VỮNG Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN TỪ NĂM 2003 - 2013 43
3.1. Khái quát về những đặc điểm tự nhiên – xã hội ảnh hƣởng đến phát triển
nông nghiệp theo hƣớng bền vững ở tỉnh Điện Biên 43
3.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Điện Biên 43
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên 44
3.1.3. Đánh giá về những cơ hội và khó khăn của tỉnh Điện Biên trong phát
triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững 46
3.1.3.1. Những cơ hội của Điện Biên 46
3.1.3.2. Những khó khăn 47
3.2. Tình hình sản xuất nông nghiệp theo hƣớng bền vững ở tỉnh Điện Biên 48
3.2.1. Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp 48
3.2.1.1. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế nông nghiệp 48
3.2.1.2. Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng kinh tế thị trƣờng. 60
3.2.1. 3. Thị trƣờng nông sản 63
3.2.1.4. Tình hình ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất
nông nghiệp. 65
3.2.2. Các vấn đề xã hội trong quá trình phát triển nông nghiệp 67
3.2.3. Vấn đề môi trƣờng trong phát triển nông nghiệp 73
3.3. Đánh giá chung về tính bền vững của nông nghiệp ở Điện Biên những năm
4.3.7. Nhóm các giải pháp về vấn đề bảo vệ môi trƣờng song song với quá
trình phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên. 105
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay bối cảnh trong nƣớc và thế giới có những thay đổi lớn, nền kinh tế
thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, biến đổi khí hậu toàn cầu đặt ra
vấn đề bảo vệ môi trƣờng và khủng hoảng lƣơng thực. Trong bối cảnh đó ngƣời ta
đặc biệt đánh giá cao vai trò của nông nghiệp bởi sự phát triển của ngành nông
nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một
quốc gia, nó là ngành sản xuất khởi đầu của quá trình sản xuất vật chất của loài
ngƣời. Tuy nhiên, trƣớc nhu cầu về tăng năng suất, sản lƣợng và thu nhập từ nông
nghiệp, trong những năm qua chúng ta đã tấn công vào môi trƣờng – cơ sở tồn tại
của xã hội loài ngƣời làm cho môi trƣờng sống của con ngƣời bị đe dọa. Vì vậy
phát triển nông nghiệp nhƣ thế nào để đảm bảo trong khi tăng đƣợc giá trị kinh tế
đồng thời cũng phải nâng cao đƣợc giá trị của môi trƣờng. Đó là câu hỏi buộc
chúng ta phải nghiên cứu để tìm lời giải đáp.
Điện Biên là một tỉnh miền núi, kinh tế còn nhiều khó khăn, trên 80% dân số
sống tại khu vực nông thôn; sản xuất nông – lâm nghiệp có vai trò quan trọng trong
việc ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng
nông thôn mới ở tỉnh. Điện Biên có nhiều điều kiện khác biệt so với các địa phƣơng
khác về tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc biệt là những tiền đề để phát triển một nền
nông nghiệp hàng hóa theo hƣớng nâng cao giá trị các sản phẩm đặc thù của địa
phƣơng. Là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc của tổ quốc với diện tích tự nhiên rộng
lớn, đất rừng và đất chƣa khai thác lớn, Điện Biên rất thuận lợi trong việc phát triển
ngành chăn nuôi đại gia súc, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và một số cây lƣơng
phƣơng nhƣ: Thái Bình, Bắc Giang, Phú Thọ
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp ở tỉnh Điện Biên
trong những năm từ 2003 – 2013.
- Đề xuất những giải pháp để phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững ở
Điện Biên đến năm 2020.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Nội dung của phát triển bền vững gồm 4 trụ cột: kinh tế,
xã hội, thể chế và môi trƣờng nhƣng luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu ở quan hệ giữa
3
kinh tế với môi trƣờng và xã hội trong quá trình phát triển nông nghiệp. Đối tƣợng
này đƣợc đánh giá dựa trên các nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững tỉnh Điện Biên dƣới
góc độ tiếp cận của kinh tế chính trị.
+ Phạm vi thời gian: Sản xuất nông nghiệp tỉnh Điện Biên từ năm 2003 – 2013
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp duy vật biện chứng và phƣơng pháp duy vật lịch sử.
- Phƣơng pháp so sánh.
- Phƣơng pháp phân tích.
- Phƣơng pháp thống kê.
- Phƣơng pháp nghiên cứu điển hình.
- Các phƣơng pháp khác.
5. Những đóng góp mới của luận văn
- Đánh giá đƣợc thực trạng phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững ở
tỉnh Điện Biên, đánh giá những thành tựu, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân những hạn
chế trong phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững của tỉnh.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững
ở Điện Biên trong những năm tới.
6. Bố cục của luận văn
Công trình không bàn trực tiếp đến vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững
mà chủ yếu phân tích tổng quan về lý luận và thực tiễn về nông nghiệp, nông thôn
và nông dân Việt Nam thời kỳ trƣớc và sau đổi mới; những định hƣớng giải pháp
chiến lƣợc và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân tầm nhìn đến
năm 2030.
Dựa trên những nghiên cứu này, tác giả luận văn đã tham khảo một số những
giải pháp, định hƣớng phát triển nông nghiệp Việt Nam để phục vụ cho nội dung
nghiên cứu trong đề tài của mình
Hà Vinh: “Nông nghiệp Việt Nam trong bƣớc chuyển sang kinh tế thị
trƣờng” –– NXB Khoa học – Hà Nội – 1997
5
Công trình cung cấp những tài liệu giá trị về cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn
đề phát triển nông nghiệp trong một số lý thuyết kinh tế; một số mô hình phát triển
nông nghiệp điển hình trên thế giới.
Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị cao về mặt lý luận, tuy nhiên xét
về hoàn cảnh lịch sử thì công trình không còn mang tính thời sự cao, đặc biệt chƣa
bàn đến vấn đề phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững. Mặc dù không trực
tiếp nghiên cứu về nông nghiệp bền vững nhƣng công trình cung cấp khung lý
thuyết hàn lâm về vấn đề phát triển nông nghiệp, làm cơ sở lý luận để tác giả tiếp
tục nghiên cứu khía cạnh bền vững trong phát triển nông nghiệp Việt Nam; đó cũng
là cơ sở thực tiễn để tác giả tham khảo về một số mô hình phát triển nông nghiệp
điển hình, chọn lọc những nhân tố phù hợp để vận dụng vào việc tìm ra giải pháp
phát triển nông nghiệp ở phạm vi tỉnh Điện Biên.
PGS. TS Hà Huy Thành – PGS. TS Lê Cao Đoàn: “Vấn đề môi trƣờng
trong phát triển xã hội theo hƣớng bền vững ở Việt Nam” – NXB Khoa học xã
hội – năm 2011
Công trình đã làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về mối quan hệ tƣơng tác
giữa môi trƣờng tự nhiên và sự phát triển xã hội. Đặc biệt, công trình đã phân tích
những yếu tố trong mô thức phát triển bền vững – đƣợc coi là phƣơng thức cần thiết
Trong công trình này, tác giả đã có những công bố về nhiều vấn đề liên quan
đến đề tài mà tác giả nghiên cứu nhƣ đƣa ra các định nghĩa nông nghiệp bền vững,
triết lý của nông nghiệp bền vững là hợp tác với thiên nhiên, tuân theo những quy
luật của thiên nhiên, không chống lại nó; nghiên cứu mục tiêu của nông nghiệp bền
vững là xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững về mặt sinh thái, có hiệu
quả về kinh tế, có khả năng thỏa mãn nhu cầu con ngƣời của thế hệ hiện tại mà
không ảnh hƣởng đến môi trƣờng đất và ô nhiễm môi trƣờng sống…Đặc biệt, công
trình còn nghiên cứu tính bền vững nhiều chiều của hệ thông nông nghiệp nhƣ bền
vững về môi trƣờng, bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, các nguyên tắc chung
trong xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững… Cũng nhƣ các công trình trên,
nghiên cứu này không bàn trực tiếp về vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững ở
một nhƣng những vấn đề đƣợc nghiên cứu trong công trình này là những vấn đề
7
trực tiếp liên quan đến cơ sở lý luận của đề tài luận văn, do đó công trình là một tài
liệu quý báu đối với tác giả luận văn.
Phùng Văn Dũng: “Phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập
WTO” – Luận án tiến sĩ – Trƣờng ĐH Kinh tế, Đại Học Quốc gia Hà Nội
Luận án phân tích những đặc điểm của nông nghiệp Việt Nam và những cam
kết, ảnh hƣởng của gia nhâp WTO đến nông nghiệp, đánh giá thực trạng của phát
triển nông nghiệp Việt Nam trƣớc và sau khi gia nhập WTO, rút ra những thành
tựu, yếu kém và nguyên nhân những hạn chế của nông nghiệp Việt Nam, đề xuất
những giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, hiệu quả và bền vững.
Công trình nghiên cứu này xuất phát từ góc độ tiếp cận của khoa kinh tế chính trị và
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đối với tác giả luận văn. Dựa trên những
nghiên cứu đó để tác giả luận văn học tập, vận dụng vào phần đánh giá thực trạng,
đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững ở tỉnh Điện Biên.
1.1.2. Nhóm những nghiên cứu về vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững
GS. TS. Đƣờng Hồng Dật: “Phát triển nông nghiệp bền vững” – NXB
Nông nghiệp – 2012
tƣợng nghiên cứu của công trình này giống đối tƣợng nghiên cứu của tác giả, chỉ
khác phạm vi nghiên cứu, do vậy tác giả có thể học tập từ luận văn này phƣơng
pháp nghiên cứu và vận dụng những kết quả của công trình vào địa bàn nghiên cứu
của mình ở phạm vi một địa phƣơng.
Lại Thị Hiếu: “Phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Phú Thọ” –
Luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị - Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội,
năm 2013
Luận văn phân tích những vấn đề lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững
và đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Phú Thọ thời gian
qua theo các tiêu chí phát triển bền vững nhƣ: Bền vững về kinh tế trong phát triển
nông nghiệp, thực trạng các vấn đề xã hội trong phát triển nông nghiệp bền vững ở
tỉnh Phú Thọ, vấn đề môi trƣờng trong phát triển nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ. Luận
văn đã đánh giá một cách khá toàn diện thực tiễn phát triển nông nghiệp bền vững ở
tỉnh Phú Thọ về thành tựu, hạn chế và phân tích nguyên nhân của những hạn chế, từ
9
đó đề xuất những giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Phú Thọ. Tuy
nhiên, luận văn còn hạn chế là trong phần cơ sở lý luận, tác giả chƣa đề cập đến
khái niệm phát triển bền vững nói chung mà đề cập ngay đến những vấn đề chung
về phát triển nông nghiệp bền vững. Thực chất, song song với sự phát triển của
kinh tế - xã hội của loài ngƣời là quá trình tác động và làm biến đổi tự nhiên, từ đó
đẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về môi trƣờng. Và ngƣợc lại, chính những hệ
quả từ môi trƣờng đã buộc con ngƣời phải thay đổi phƣơng cách sản xuất, đó chính
là con đƣờng phát triển bền vững, trong đó phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền
vững là một trong những nội dung của phát triển bền vững nói chung.
Công trình là một tài liệu có giá trị đối với tác giả bởi cùng chung đối tƣợng
là sản xuất nông nghiệp bền vững đƣợc nghiên cứu dƣới góc độ kinh tế chính trị.
Hơn nữa, Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc cũng có những đặc điểm
về tự nhiên, xã hội gần giống nhƣ Điện Biên, vì vậy những nội dung và giải pháp
phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Phú Thọ mà tác giả luận văn nghiên cứu là
nông nghiệp bền vững, tác giả đã phân tích đƣợc vai trò, vị trí của nông nghiệp
trong sự phát triển bền vững. Công trình có nhiều đóng góp trong việc phân tích mô
hình phát triển nông nghiệp bền vững ở Ấn Độ và rút ra những bài học kinh nghiệm
cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam. Nhƣng phạm vi của luận văn giới hạn trong
địa phƣơng nhỏ là huyện Củ Chi – TP Hồ Chí Minh, do vậy tác giả chƣa rút ra đƣợc
bài học áp dụng cho một địa phƣơng nhỏ - có những đặc thù riêng về điều kiện tự
nhiên và kinh tế - xã hội. Đề tài cũng đã đánh giá đƣợc thực trạng các yếu tố cấu
thành phát triển nông nghiệp bền vững ở huyện Củ Chi trên ba phƣơng diện: kinh
tế, xã hội và bảo vệ môi trƣờng. Rút kinh nghiệm từ nghiên cứu này, tác giả luận
văn sẽ khắc phục những hạn chế để tìm ra những bài học phù hợp với địa phƣơng
tỉnh Điện Biên cũng nhƣ những giải pháp thiết thực, phù hợp với điều kiện riêng
của tỉnh Điện Biên.
Ngoài các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống nhƣ trên còn có rất
nhiều bài báo liên quan đến đề tài trên các báo và tạp chí khác nhau nhƣ:
Bùi Chí Bửu, “Phát triển nông nghiệp ở Việt Nam: thành tựu và thách thức”,
Tạp chí cộng sản số 801, tháng, năm 2009
11
Nguyễn Anh, “Giải pháp phát triển nông nghiệp KomTum theo hƣớng bền
vững”, Tạp chí quản lý nông nghiệp, tháng 4, năm 2009
Hoàng Việt Hà, “Bƣớc đầu xây dựng tiêu chí đánh giá sự phát triển nông nghiệp
tỉnh Đồng Tháp theo hƣớng bền vững”, Tạp chí khoa học ĐH sƣ phạm TP HCM, số
35, năm 2012.
Phí Văn Kỷ, Nguyễn Từ, “Những biện pháp chủ yếu để phát triển nông nghiệp
Việt Nam trong những năm tới”, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn – kỳ
2, tháng 1, năm 2006
Qua nghiên cứu các công trình trên, tác giả luận văn nhận thấy:
Thứ nhất: Các công trình đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận về vấn đề phát
triển nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền vững ở cả phạm vi quốc gia và địa
phƣơng. Đây là những tài liệu quý báu, trang bị những kiến thức lý luận quý báu đối
và có nguy cơ dẫn đến sự sụp đổ của sự sống trên trái đất. Chính những mâu thuẫn
này đã đặt ra vấn đề sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực đặ biệt là tài nguyên
thiên nhiên (TNTN) và bảo vệ môi trƣờng, duy trì và tăng cƣờng các nền tảng của
sự phát triển và hình thành yêu cầu về sự phát triển bền vững.
* Nguồn gốc của tình trạng cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trƣờng tự
nhiên của sự sống.
Thứ nhất: Tình hình kinh tế thị trƣờng – công nghiệp đã đặt nền kinh tế vào
quá trình gia tăng sản xuất, tăng mục tiêu tăng trƣởng các giá trị kinh tế. Bộ máy
công nghiệp là một bộ máy chế biến các nguyên liệu lấy từ TNTN, điều này đồng
nghĩa với nền kinh tế công nghiệp là nền kinh tế tài nguyên. Rút cuộc sự phát triển
đồng nghĩa với việc gia tăng khai thác TNTN mà tài nguyên là hữu hạn. Do đó sự
phát triển của bộ máy công nghiệp tất yếu dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên.
Thứ hai: Nền kinh tế công nghiệp cùng với sự phát triển kinh tế là quá trình
tăng phát thải dẫn tới ô nhiễm môi trƣờng, trong đó phát thải CO2 là nhân tố quyết
định dẫn đến hiệu ứng nhà kính dẫn tới khủng hoảng khí hậu và nguy cơ sụp đổ,
phá vỡ cuộc sống của loài ngƣời.
Thứ ba: Dân cƣ tăng nhanh và sự tập trung dân cƣ đông đúc ở các đô thị lớn
đã làm tăng phát thải sinh hoạt, suy kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trƣờng.
13
Thứ tƣ: Tài nguyên thiên nhiên là một nhân tố hình thành nên môi trƣờng.
Việc khai thác tài nguyên đất, nƣớc, rừng… cũng làm ảnh hƣởng tới sinh quyển,
sinh thái và môi trƣờng sống dẫn tới tình trạng khủng hoảng môi trƣờng.
* Con đƣờng dẫn đến sự phát triển bền vững
Phát triển không thể làm giảm các quá trình tăng trƣởng các giá trị kinh tế,
xã hội. Nhƣng để cùng lúc đạt đƣợc việc gia tăng các giá trị kinh tế, xã hội đồng
thời gia tăng giá trị môi trƣờng thì con đƣờng tất yếu là phải thay đổi phƣơng thức
phát triển để xác lập sự hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Phát triển bền
vững là phát triển dựa trên sự hài hòa giữa các giá trị kinh tế, xã hội và môi trƣờng.
Loài ngƣời trên tiến trình chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế
Năm 2002, Hội nghị Thƣợng đỉnh của liên Hợp Quốc “về môi trƣờng và phát
triển bền vững” họp ở Johannesburg, Nam Phi đã đề cập lại những nội dung của
Hội nghị thƣợng đỉnh Rio de Janero 92. Hội nghị đã đƣa ra hai văn kiện quan trọng
có tính toàn cầu là “Tuyên bố chính trị” và “Kế hoạch hành động” đã xác định ba
trụ cột của phát triển bền vững: Bền vững về kinh tế đòi hỏi phát triển kinh tế nhanh
với việc sử dụng các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ, đặc
biệt chú trọng công nghệ sạch; Bền vững về mặt xã hội tức là đảm bảo công bằng xã
hội và phát triển con ngƣời trong đó chỉ số phát triển con ngƣời (HDI) là tiêu chí
cao nhất về phát triển xã hội: Bền vững về môi trƣờng tức là khai thác và sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng sống theo
hƣớng tích cực. Có thể xem đây là ba trụ cột của phát triển bền vững.
Ở Việt Nam, chủ đề phát triển bền vững đƣợc nhiều nhà nghiên cứu và các nhà
hoạch định chính sách đề cập đến và đƣợc tiếp cận theo hai khía cạnh: Một là, phát
triển bền vững là phát triển trong mối quan hệ duy trì những giá trị môi trƣờng
sống, coi giá trị môi trƣờng sinh thái là một trong những yếu tố cấu thành những giá
trị cao nhất cần đạt tới của sự phát triển; Hai là, phát triển bền vững là sự phát triển
dài hạn, cho hôm nay và cho mai sau, phát triển hôm nay không làm ảnh hƣởng cho
mai sau.
Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trƣờng, phát triển bền vững đƣợc định
nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng đƣợc nhu cầu của thế hệ hiện tại
15
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tƣơng lai
trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trƣởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội
và bảo vệ môi trƣờng. Đây là định nghĩa có nội hàm rộng, bao quát đƣợc ba trụ cột
về phát triển bền vững.
Ngày 17/8/2004, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 154/2004/
QĐ- TTg “Định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Nam” (còn gọi là
Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam). Định hƣớng đã nêu bật những vấn đề đang
đặt ra trong ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trƣờng, đặt “mục tiêu tổng quát của