ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ THANH HOA
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
THEO HƢỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM VĂN DŨNG Hà Nội – 2013 LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp tại Trường Đại học
Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả đã được các thầy cô giáo và cán bộ,
nhân viên nhà trường giúp đỡ rất nhiệt tình. Với những kiến thức đã được học
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thanh Hoa
Mục lục Trang
Danh mu
̣
c ca
́
c ký hiệu viết tắt
i
Danh mu
̣
c ca
̉
a tỉnh Bắc Ninh
19
1.2.2. Kinh nghiê
̣
m cu
̉
a tỉnh An Giang
21
1.2.3. Bài học kinh nghiê
̣
m cho tỉnh Thái Bình
23
Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình
26
2.1. Giới thiệu khái quát về tình hình kinh tế, xã hội ở tỉnh Thái Bình
26
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội
26
2.1.2. Tiềm năng cho phát triển nông nghiệp bền vững của tỉnh Thái Bình
27
2.1.3. Đặc điểm dân cư và các nguồn lực xã hội khác
30
2.2. Tình hình phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình trong
những năm qua
31
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình
32
2.2.2. Tình hình giải quyết các vấn đề xã hội khu vực nông nghiệp nông thôn
tỉnh Thái Bình
89
3.3.3. Nhóm giải pháp về nâng cao vai trò quản lý của nhà nước
106
KẾT LUẬN
113
TÀI LIỆU THAM KHẢO
115
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Nguyên nghĩa
1
BCH
Ban chấp hành
2
CTQG
Chính trị quốc gia
3
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Chỉ tiêu GDP toàn Tỉnh (theo giá so sánh 1994)
34
2
Bảng 2.2
Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Thái Bình
(2006 – 2010)
39
3
Bảng 2.3
Tình hình sau khi giao đất cho hộ nông dân
44
4
Bảng 2.4
Cơ cấu lao động theo ngành ở tỉnh Thái Bình (2001-
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
Tên
Nội dung
Trang
1
Biểu 2.1
Giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010
36
2
Biểu 2.2
Cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế
62
3
Biểu 2.3
Diện tích, sản lượng giá sản xuất ngành chăn nuôi,
nuôi trồng thủy sản (2006-2010)
63 1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản của xã hội đáp ứng những sản
phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành
gây khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước, tăng chi phí sản xuất, chưa có bước đột phá
phát triển nông nghiệp, chưa thật sự chú ý phát triển theo chiều sâu, chưa chú ý đến
vấn đề môi trường cũng như vấn đề xã hội trong nông nghiệp và nông thôn. Đứng
trước những khó khăn và thách thức đó thì việc xây dựng một nền nông nghiệp phát
triển theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan
trọng. Điều này cũng đã được khẳng định trong mục tiêu định hướng phát triển
nông nghiệp của Tỉnh trong giai đoạn 2011 - 2015: “Xây dựng nền nông nghiệp
toàn diện đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, hiện đại bền vững, thân
thiện với môi trường, gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới và
nâng cao đời sống của nhân dân”. Vì những lý do trên nên đề tài “Phát triển nông
nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình” được chọn làm đề tài luận văn
thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Phát triển bền vững nói chung và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
nói riêng là một vấn đề khoa học được đề cập ở những khía cạnh khác nhau, qua tìm
hiểu tác giả thấy có một số công trình khoa học nổi bật sau:
- Phát triển bền vững ở Việt Nam – thành tựu, cơ hội, thách thức và triển
vọng của Nguyễn Quang Thái và Ngô Thắng Lợi (2007), Nxb Lao động – xã hội.
Đề tài đã đề cập đến phát triển bền vững nói chung ở Việt Nam chưa nêu cụ thể về
phát triển nông nghiệp bền vững ở một địa phương nhất định.
- Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt
Nam của tác giả Đặng Kim Sơn (2007), Nxb Nông nghiệp. Trong công trình của tác giả
Đặng Kim Sơn thì phát triển nông nghiệp được tiếp cận từ lý thuyết phát triển nông
nghiệp, kinh nghiệm của một số nước và triển vọng của Việt Nam chưa đi sâu phân tích
ở góc độ phát triển bền vững nông nghiệp.
3
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - Con
đường và bước đi của Nguyễn Kế Tuấn (2006), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội thì
phát triển nông nghiệp bền vững được tác giả tiếp cận chủ yếu dưới góc độ đánh giá
trình làm luận văn, đồng thời trên cơ sở các tư liệu, tài liệu về phát triển nông
nghiệp của tỉnh Thái Bình để làm rõ sự phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thái
Bình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp
bền vững, luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng tình hình phát triển nông nghiệp ở
tỉnh Thái Bình và đưa ra các giải pháp để phát triển nông nghiệp của địa phương
theo hướng bền vững trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ của luận văn:
Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn có nhiệm vụ sau:
+ Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về phát triển bền vững, phát triển bền
vững nông nghiệp từ góc độ lý luận và thực tiễn.
+ Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững ở một số địa
phương.
+ Phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Bình và
những vấn đề đặt ra.
+ Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng bền
vững ở Thái Bình trong thời gian tới.
4. Đối tƣng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu sản xuất nông
nghiệp và các yếu tố có liên quan đến phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
ở tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình dưới góc độ kinh tế chính trị.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu sản xuất nông nghiệp Thái Bình từ năm
2000 đến nay và đề xuất các giải pháp đến năm 2020.
5
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu sản xuất nông nghiệp theo nghĩa
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
1.1. Khái luận chung về phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Phát triển bền vững
Phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những
năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã
bùng nổ, chất lượng cuộc sống của xã hội loài người đã có bước tiến rõ rệt do khoa
học công nghệ và năng suất lao động mang lại. Của cải được nhân loại tạo ra ngày
càng nhiều và phong phú về chủng loại đã phần nào thỏa mãn nhu cầu vật chất và
tinh thần của con người, đã đưa đến sự phát triên nhanh của nền văn minh nhân loại.
Song cũng chính từ sự phát triển ấy đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi
cộm như tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức về của cải, tài
nguyên, năng lượng, thiên tai, bão, lũ, ô nhiễm và sự cố môi trường ngày càng gia
tăng đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, gây trở ngại đối với sự phát
triển kinh tế và làm giảm sút chất lượng cuộc sống của con người.
Đứng trước áp lực của thực tế khắc nghiệt, con người không còn cách lựa chọn
nào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của minh với thiên nhiên, phương
sách phát triển KT - XH và tiến trình phát triển của mình. Cách lựa chọn duy nhất đó
là con đường phát triển có sự kết hợp cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi
trường; đó chính là con đường đảm bảo tái sản xuất xã hội bền vững, hay nói cách
khác đó chính là sự phát triển bền vững.
Phát triển bền vững, cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau, sau đây là
một số quan niệm bàn về phát triển bền vững.
Ủy ban quốc tế về phát triển và môi trường (1987) đã đưa ra định nghĩa:
“Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, trong đó việc khai thác và sử
dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự
7
kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên
nhiên…) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái
và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp
thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường
sạch.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về PTBV đã được kết tinh và phản ánh
đầy đủ nhất trong Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam: “Mục tiêu tổng quát của
PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình
đẳng của công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa của con người và tự
nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển
kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”.
Từ những cơ sở lý luận nên trên, tác giả cho rằng: Phát triển bền vững có nội
dung lớn và phong phú, không chỉ hàm nghĩa phát triển kinh tế bền vững mà còn bao
hàm nội dung phát triển xã hội bền vững và gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường
sinh thái. Trong mỗi nội dung có thành tố riêng nhưng chúng luôn thống nhất biện
chứng và quan hệ hữu cơ với nhau tạo lên sự phát triển bền vững.
Như vậy, việc quán triệt và nhận thức đúng đắn nội hàm của PTBV là
phương pháp luận tốt khi thực hiện PTNNBV phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện
nay.
1.1.1.2. Phát triển nông nghiệp
Nền nông nghiệp của mỗi quốc gia cũng đều phải trải qua giai đoạn phát triển
từ thấp đến cao, gắn liền với sự tiến hóa của loài người và sự gia tăng dân số. Trong
xã hội cộng sản nguyên thủy, nền nông nghiệp chủ yếu là săn bắt, hái lượm. Khi loài
người tích lũy được kinh nghiệm, công cụ sản xuất ra đời, nền nông nghiệp được phát
triển sang trồng trọt và chăn nuôi theo hướng du canh hay du mục. Canh tác du canh,
du cư gắn liền với nền canh tác đốt rẫy. Sau đó, do sức ép về dân số và đất đai, nông
nghiệp du canh, du cư vẫn tồn tại đến ngày nay ở một số vùng do một số cộng đồng
đồng bào dân tộc ít người thực hiện. Từ nền nông nghiệp truyền thống sang nông
9
10
nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp
nhận về phương diện xã hội. Định nghĩa này đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi của
PTNNBV trên cả ba phương diện là sự phát triển hài hòa ba nhóm mục tiêu: Kinh
tế, xã hội và môi trường đồng thời chỉ rõ cách thức thực hiện để hướng đến phát
triển nông nghiệp bền vững.
Theo Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu
nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (TAC/CGIRC) định nghĩa: Nông nghiệp bền vững
là nền nông nghiệp phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên thiên nhiên
nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và
gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên [39, tr.12]. Quan niệm này thiên về giải pháp
quản lý để PTNNBV, còn trên phương diện xây dựng nền nông nghiệp bền vững thì
chưa được đề cập đầy đủ.
Tổ chức về môi trường sinh thái thế giới (WCED) đưa ra định nghĩa: Nông
nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được các nhu cầu của thế hệ hiện nay
mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau. Định nghĩa trên chỉ đề
cập khái quát tới vấn đề PTNNBV nói chung chưa đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể.
Ở nước ta, vấn đề PTNNBV là một trong những nội dung được đề cập ở
quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tương chính phủ về
“Định hướng phát triển ở Việt Nam” Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam chỉ rõ:
“Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình sản xuất ngày càng nhiều hàng hóa
theo yêu cầu của thị trường, phải đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn và
phát triển được các nguồn tài nguyên như đất, nước, không khí, rừng và đa dạng
sinh học [35, tr.10].
Các định nghĩa trên đã đề cập đến những giác độ khác nhau, rất lý thú và
sâu sắc về phát triển nông nghiệp bền vững. Rõ ràng là các mục tiêu đặt ra của một
nền nông nghiệp bền vững rất tuyệt vời và xứng đáng. Tuy nhiên để làm tốt các
mục tiêu đó không phải là chuyện dễ dàng. Ngay cả những nước phát triển ở châu
Mỹ, châu Âu cũng cần phấn đấu để dần có được một nền nông nghiệp bền vững
bền vững trong nông nghiệp cần phải căn cứ vào nội dung CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về “ Đẩy mạnh CNH, HĐH nông
12
nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 -2010”, vào chiến lược phát triển KT - XH (2006 -
2010) của Đại hội X; chiến lược phát triển KT - XH (2011 - 2020) của Đại hội XI và
căn cứ vào định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình
nghị sự 21 của Việt Nam) cũng như đặc điểm riêng có của từng địa phương. Vận
dụng vào điều kiện thực tế ở tỉnh Thái Bình, tiêu chí phát triển bền vững trong nông
nghiệp được xác định cụ thể như sau:
1.1.2.1. Tiêu chí bền vững về kinh tế nông nghiệp
Một là, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng liên tục, ổn định và hiệu quả.
Tăng trưởng là mục tiêu theo đuổi của tất cả các ngành trong nền kinh tế
quốc dân. Bất cứ một ngành nào, một lĩnh vực nào nếu không có sự tăng trưởng sẽ
gây trở ngại đối với tiến trình phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, nhất là
những nước thuần nông như nước ta nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng; đồng
thời tăng trưởng kinh tế phải gắn với phát triển KT - XH trong đó xác lập được sự
cân đối giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các nguồn lực con người,
tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công
nghệ thân thiện với môi trường.
Hai là, áp dụng cơ giới hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, chế
biến nông sản, nhất là công nghệ sinh học.
Đối với nền nông nghiệp truyền thống, năng suất lao động thấp, không ổn
định, đôi khi còn ảnh hưởng nhiều của các yếu tố thời tiết, thiên tai. Mặt khác, năng
suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao, chi phí đầu vào lớn. Việc tiếp tục
duy trì nền nông nghiệp truyền thống sẽ đẩy lùi sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân. Đồng thời, với phương thức canh tác thủ công, độc canh, khai thác, sử
dụng bừa bãi tài nguyên đất, tài nguyên nước môi trướng sẽ bị tàn phá nghiêm
trọng, điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người lao động trong nông
nghiệp và dân cư nông thôn. Vì vậy để phát triển bền vững về kinh tế nông nghiệp
bền vững sẽ đảm bảo được các mục tiêu tăng trưởng ổn định và hiệu quả. Thực hiện
các mục tiêu trên sẽ là cơ sở giải quyết vấn đề thất nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội về
công ăn việc làm, ổn định đời sống cho người lao động từng bước nâng cao thu
nhập và chất lượng đời sống cho nhân dân trong khu vực nông thôn. Khi các mục
14
tiêu trên được thực hiện sẽ là cơ sở, tiền đề vật chất góp phần thúc đẩy nhanh quá
trình xóa đói giảm nghèo.
Tiêu chí phát triển bền vững về xã hội trong nông nghiệp phải tạo điều kiện
cho mọi người, nhất là những người trong hoàn cảnh khó khăn đều có cơ hội tiếp
cận công bằng các dịch vụ cơ bản về giáo dục, y tế, thông tin…mang tính an sinh xã
hội luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội ở nước
ta hiện nay.
1.1.2.3. Tiêu chí bền vững về môi trường trong nông nghiệp
Trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân thì nông nghiệp là ngành
liên quan trực tiếp tới các điều kiện tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái.
Bằng hoạt động lao động của mình con người tác động đến các yếu tố tự nhiên
trong đất để nuôi dưỡng cây trồng, gia súc, từ đó tạo ra các sản phẩm cần thiết cho
xã hội. Vì vậy bảo vệ nguồn tài nguyên đất, nước…là một nhiệm vụ cấp bách, nó
không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp
bảo vệ tài nguyên và môi trường trong tương lai và lâu dài, vì đó là sự sống còn của
chính chúng ta và thế hệ tương lai. Do đó phát triển bền vững về môi trường nông
nghiệp phải gắn với bảo vệ đất, sử dụng tiết kiệm đất và sử dụng các nguồn nước,
sử dụng tiết kiệm nguồn nước.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp phải giữ cho môi trường trong lành, sạch
đẹp, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, khắc
phục ô nhiễm suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học.
Để thực hiện được các tiêu chí trên cần tập trung vào ba nội dung sau:
Thứ nhất, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên hiện có để thỏa
mãn nhu cầu con người. Do đó trong khai thác tài nguyên thiên nhiên vào sản xuất
chủ trương, đường lối, chính sách đó dù có đúng nhưng khâu thực hiện không tốt thì
cũng chỉ dừng lại ở góc độ lý luận mà thôi; đó là chưa tính đến thực hiện sai có thể
dẫn đến sự phá hoại vững mạnh của hệ thống chính trị ở nông thôn là yếu tố chính
trị, xã hội bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện phát triển nông nghiệp bền vững đạt
được mục đích.
1.1.3.2. Các nguồn lực cơ bản
16
Nguồn lực của mỗi quốc gia là tổng thể các điều kiện tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc dân, dân cư, nguồn lao động cùng với các đường
lối chính sách liên quan đến phát triển KT - XH của quốc gia đó. Các nguồn lực có
mối quan hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Đến lượt mình mỗi nguồn lực
lại có vai trò riêng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn lực tự nhiên giữ vai trò là cơ sở để phát triển KT - XH, chúng ta
không thể phát triển kinh tế nông nghiệp nếu như thiếu cơ sở tài nguyên. Vấn đề là
ở chỗ bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái, phát huy tối
đa thế mạnh và khắc phục những hạn chế của từng vùng, từng địa phương cụ thể.
Dân cư và lao động có vai trò then chốt đối với phát triển kinh tế nông
nghiệp đặc biệt là đội ngũ lao động nông nghiệp có trình độ khoa học, kỹ thuật. Mọi
của cải xã hội đều do con người làm ra và quay trở lại phục vụ cho nhu cầu chính
bản thân con người, con người là động lực của sản xuất bởi họ là yếu tố trực tiếp
sản xuất ra của cải vật chất xã hội, vừa là yếu tố tiêu thụ những sản phẩm do chính
mình tạo ra. Con người có khả năng áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật để
cải tạo tự nhiên phục vụ cho lao động sản xuất để nâng cao đời sống. Đây là nguồn
lực quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội.
Ngoài các nguồn lực nói trên thì phải kể đến nguồn lực không kém phần quan
trọng góp phần cơ bản cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp đó là cơ sở vật chất kỹ
thuật. Cơ sở vật chất có vai trò quyết định nó thể hiện ở chỗ tạo điều kiện thuận lợi
hay gây khó khăn cho sự phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.
Trước hết về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho ngành kinh tế nông nghiệp