Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC BẢNG, DANH MỤC HÌNH
IV
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
V
MỞ ĐẦU
VI
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1
1. Khái niệm ngân sách, chức năng, vai trò của ngân sách 1
1.1. Khái niệm NSNN và phân loại thu NSNN 1
1.2. Chức năng của thu ngân sách nhà nước 4
1.2.1 Chức năng phân bổ nguồn lực 4
1.2.2 Chức năng phân phối lại thu nhập 5
1.3 Vai trò của NSNN 7
2. Các nhân tố tác động đến Thu ngân sách 8
2.1. Thực trạng của nền kinh tế 8
2.2. Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thu NSNN 10
2.3. Tổ chức, quản lý thực hiện thu ngân sách 12
II. CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ THU NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
15
1. Khái quát quá trình xây dựng Luật ngân sách 15
2. Các quy định hiện hành trong lĩnh vực thu ngân sách 17
2.1 Luật ngân sách 2002 17
2.1.1 Quy định về các khoản thu ngân sách địa phương 17
2.1.2 Phân cấp quản lý thu ngân sách 19
2.2 Tổ chức bộ máy thu và phân cấp quản lý thu ngân sách của thành
tại và nguyên nhân chính
57
III. ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG CƯỜNG NGUỒN
THU CỦA HÀ NỘI
58
1. Nhân tố tăng trưởng kinh tế 58
2. Nhân tố cơ chế, chính sách 60
3. Nhân tố tổ chức thực hiện thu 62
Chương III: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC THU
NGÂN SÁCH GIAI ĐOẠN 2006-2010
66
I. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỦ ĐÔ, NHỮNG QUAN ĐIỂM,
ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU THU NGÂN SÁCH THÀNH PHỐ GIAI ĐOẠN
2006-2010
66
1.
Dự báo bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến sự phát triển của
Hà Nội
66
2. Kế hoạch phát triển kinh tế Thủ đô và các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu 68
II. NHỮNG THUẬN LỢI KHÓ KHĂN VÀ XU THẾ VẬN ĐỘNG CỦA CÁC
NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NGÂN SÁCH Ở HÀ NỘI GIAI ĐOẠN
2006-2010
74
III. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC THU NGÂN
SÁCH
76
1. Nuôi dưỡng nguồn thu 77
2. Kiện toàn hệ thống cơ chế, chính sách thu ngân sách 80
3. Các biện pháp hành thu nhằm xây dựng hệ thống quản lý thu thuế
Bảng 8: Thu NSNN trên địa bàn thành phố Hà Nội theo sắc thuế 52
Bảng 9: Tốc độ tăng thu NSNN trên địa bàn thành phố Hà Nội theo
sắc thuế
53
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Kết quả thu NSNN trên địa bàn Hà Nội 38
Hình 2:
Biểu đồ tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng thu ngân
sách
39
Hình 3: Cơ cấu nguồn thu ngân sách 41
Hình 4: Biểu đồ tốc độ tăng thu NS từ kinh tế ngoài nhà nước và 50
Lớp Kế hoạch 44
iii
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tốc độ tăng trưởng sản phẩm nội địa khu vực này
Lớp Kế hoạch 44
iv
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
NSNN Ngân sách nhà nước
NS Ngân sách
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
NN Nhà nước
TƯ Trung ương
ĐP Địa phương
VĐT Vốn đầu tư
nền kinh tế - xã hội. Vừa đảm bảo cho tăng trưởng, phát triển kinh tế cùng
nhiều mục tiêu khác, vừa đảm bảo nguồn thu ngân sách là nhiệm vụ vô cùng
nan giải và có nhiều điều đáng bàn. Thực hiện nhiệm vụ này phải bắt đầu từ
mỗi đơn vị thu ngân sách nhà nước, từ cấp tỉnh, thành phố.
Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị lớn của cả nước. Thành
phố có tốc độ phát triển kinh tế hàng năm cao, đạt 11-13%/năm, đóng góp vào
ngân sách nhà nước mỗi năm đạt khoảng 14-16%, là một trong những nguồn
thu lớn của NSNN. Là thành phố có cơ sở hạ tầng hiện đại bậc nhất cả nước,
Lớp Kế hoạch 44
vi
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
có điều kiện thuận lợi về nhiều mặt, Hà Nội luôn có trình độ phát triển kinh tế
- xã hội hàng đầu Việt Nam, là trung tâm kinh tế của vùng. Có thể nói nguồn
thu ngân sách trên địa bàn Hà Nội là tương đối lớn, tuy nhiên thực tế thu còn
chưa tương xứng. Với vai trò là Thủ đô, là trung tâm kinh tế lớn, trước nhiệm
vụ đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, Hà Nội cần phải tiên phong trong
việc cải cách, tăng cường công tác thu.
Với những lý do trên, tôi lựa chọn lĩnh vực thu ngân sách, lấy Hà Nội
làm địa bàn nghiên cứu, với đề tài: “Một số biện pháp tăng cường công tác
thu ngân sách của Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2006-2010”.
Sau một thời gian tìm hiểu công tác thu ngân sách của Thành phố, tôi
nhận thấy vấn đề bức xúc nóng bỏng trong thời gian qua là số thu chưa tương
xứng với tiềm năng. Nguyên nhân có rất nhiều, trong đó những nguyên nhân
chính nằm ở cơ chế chính sách, và tổ chức thực hiện thu còn nhiều bất cập,
dẫn đến tình trạng trốn thuế và gian lận thuế còn khá phổ biến. Qua đề tài này,
tôi muốn kiểm chứng lại những nhận định trên thông qua phân tích thực trạng
thu ngân sách của thành phố giai đoạn 2001-2005, từ đó đưa ra những biện
pháp để hoàn thiện công tác thu trong giai đoạn tới 2006-2010.
2. Phương pháp, phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu:
- Chương III: Giải pháp tăng cường công tác thu ngân sách giai đoạn
2006-2010.
Lớp Kế hoạch 44
viii
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm ngân sách, chức năng, vai trò của ngân sách
1.1. Khái niệm NSNN và phân loại thu NSNN
Từ “ngân sách” xuất phát từ một thuật ngữ tiếng Anh thời Trung cổ
“budjet” chỉ một chiếc túi của nhà vua, trong đó có chứa những khoản tiền
cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng như: đắp đê phòng chống lũ
lụt, xây dựng đường xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách
biệt nhau. Khi giai cấp tư sản lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và
đòi hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó nảy sinh khái niệm ngân
sách nhà nước.
Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi
của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Một bảng tính toán các chi phí
để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất
định của một chủ thể nào đó. Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là ngân
sách Nhà nước.
Từ điển tiếng Việt thông dụng định nghĩa: “Ngân sách: Tổng số thu và
chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định”.
Điều 1 của Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội khóa XI nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002
khẳng định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Như vậy, khái niệm ngân sách được hiểu khá nhất quán, chuyên đề sử
Thu trong nước và thu ngoài nước.
Thu trong nước là các khoản thu ngân sách phát sinh tại Việt Nam, gồm:
Thu từ các loại thuế như (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao...). Ngoài
ra còn có các khoản thu từ phí, lệ phí, tiền thu hồi vốn ngân sách, thu hồi tiền
cho vay (cả gốc và lãi), thu từ vốn góp của Nhà nước, thu sự nghiệp...
Thu ngoài nước là những khoản thu phát sinh không tại Việt Nam bao
gồm: các khoản đóng góp tự nguyện, viện trợ không hoàn lại của Chính phủ
các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho
Chính phủ Việt Nam.
Lớp Kế hoạch 44
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu chi, chính phủ có thể vay nợ trong nước,
ngoài nước thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay ODA,...
Việc phân loại theo các khoản thu ngân sách trên cho phép đánh giá
được mức độ huy động các nguồn thu ở các khu vực kinh tế khác nhau trong
nền kinh tế; cũng như tổng quan thu trong nước, ngoài nước. Từ đó có chính
sách, biện pháp khai thác các nguồn thu hợp lý ở các khu vực, cân đối trong
và ngoài nước.
- Căn cứ vào nội dung kinh tế, các khoản thu NSNN ở nước ta gồm:
+ Thuế, phí, lệ phí do tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật.
+ Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của
pháp luật (tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền
cho vay; thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế…).
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp; tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản
và đất công ích; Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; thu từ bán hoặc cho thuê
tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
+ Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, các cá nhân trong và
ngoài nước.
triển kinh tế - xã hội.
Trong đó, hình thành chức năng này của NSNN, quá trình thu đóng vai
trò huy động, tập trung một phần những nguồn lực mà xã hội sử dụng một
cách hợp lý có tính đến khả năng của các đối tượng huy động cũng như thể
hiện thái độ của Nhà nước với những thành phần đó.
Ở nước ta, trong những năm trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế vận
hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Nhà nước thực hiện chế độ bao cấp
nguồn tài chính từ ngân sách cho phần lớn các hoạt động kinh tế - xã hội. Bởi
vậy, ngân sách nhà nước được hiểu như là ngân sách của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân. Toàn bộ nguồn lực xã hội đều tập trung trong tay nhà nước, và việc
sử dụng các nguồn lực này không mang lại hiệu quả như mong muốn.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước xóa bỏ dần những can
thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế - xã hội, chủ yếu thực hiện chức năng
quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, việc bao cấp cho các hoạt động kinh
tế - xã hội cũng giảm dần. Bởi vậy, thể hiện chức năng phân bổ nguồn lực, thu
NSNN chỉ tập trung vào một phần những nguồn lực của xã hội để phục vụ
cho những mục tiêu trọng điểm, những gì mà thị trường còn chưa tính đến.
Kết quả trực tiếp của việc vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực là
các quỹ ngân sách được tạo lập, được phân phối và sử dụng. Việc tạo lập,
phân phối và sử dụng một cách đúng đắn, hợp lý các quỹ ngân sách đó chính
Lớp Kế hoạch 44
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
là sự phân bổ một cách tối ưu các nguồn lực tài chính thuộc quyền chi phối
của các chủ thể công, nó tác động mạnh mẽ tới việc sử dụng hiệu quả các
nguồn lực tài chính của toàn xã hội: thúc đẩy hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ
cấu kinh tế xã hội bằng việc tính toán, sắp xếp các tỷ lệ cân đối quan trọng
trong phân bổ các nguồn tài chính. Một sự phân bổ như thế sẽ là nhân tố quan
trọng ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững và ổn định của nền kinh tế.
Chức năng phân bổ của thu NSNN, thể hiện ở việc thu ngân sách phải
kinh tế hoặc của các cá nhân có sự chênh lệch. Sự chênh lệch thu nhập này
vượt quá giới hạn nào đó sẽ dẫn đến bất công bằng xã hội. Như vậy, mặc dù
đạt đến sự công bằng về mặt kinh tế thì vẫn có sự bất công bằng về mặt xã
hội. Yêu cầu công bằng xã hội là duy trì sự chênh lệch trong phạm vi hợp lý,
thích ứng với từng giai đoạn mà xã hội có thể chấp nhận được.
Trong lĩnh vực này, thu NSNN được sử dụng làm công cụ để điều
chỉnh lại thu nhập mà các chủ thể trong xã hội đang nắm giữ. Sự điều chỉnh
này được thực hiện theo hai hướng là điều tiết bớt các thu nhập cao và hỗ trợ
các thu nhập thấp. Đối với những thu nhập do thị trường hình thành như tiền
lương của người lao động, lợi nhuận doanh nghiệp, thu nhập về cho thuê, thu
nhập về tài sản, thu nhập về lợi tức cổ phần... thì chức năng của thu NSNN là
thông qua việc phân phối lại để điều tiết. Những nhu cầu như y tế, bảo vệ sức
khỏe, phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội... thì được đáp ứng thông qua phân phối
tập trung từ nguồn thu NSNN.
Trong việc điều tiết thu nhập, thu thuế là biện pháp chủ yếu. Thông qua
các thứ thuế gián thu để điều tiết tương đối giá cả của các loại hàng hóa, từ đó
điều tiết sự phân phối các yếu tố sản xuất của các chủ thể kinh tế. Thông qua
thuế thu nhập doanh nghiệp để điều tiết lợi nhuận của doanh nghiệp. Thông
qua thuế thu nhập cá nhân để điều tiết thu nhập lao động và thu nhập phi lao
động của cá nhân (thu nhập về tài sản, tiền cho thuê, lợi tức...). Thông qua
công cụ thuế, các thu nhập cao được điều tiết bớt một phần và được tập trung
vào NSNN.
Trong việc hỗ trợ thu nhập, chi tiêu công là biện pháp chủ yếu. NSNN
sử dụng các nguồn tài chính đã tập trung được, trong đó có một phần là nguồn
tài chính điều tiết từ các thu nhập cao, để chi cho các biện pháp văn hóa xã
hội kể trên nhằm hỗ trợ thu nhập cho những người có thu nhập thấp. Như vậy,
với tư cách là chủ thể của chức năng tái phân phối thu nhập, Nhà nước đóng
vai trò như người trung gian trong việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp
dân cư, hạ thấp bớt các thu nhập cao và nâng cao thêm các thu nhập thấp
nhằm rút ngắn độ chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân.
tự nguyện, trong đó bắt buộc là nét đặc trưng.
Vai trò trong hệ thống tài chính, và thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ
mô: Gắn liền với vai trò lãnh đạo của Nhà nước, thu NSNN chi phối hoạt
động của nền kinh tế. Thu ngân sách là một công cụ thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hoạt động thu
Lớp Kế hoạch 44
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cùng với chi như tấm gương phản ánh các định hướng phát triển đó. Ví dụ,
Nhà nước thông qua chính sách thu của mình thể hiện sự ưu đãi với các ngành
nghề cần bảo hộ hay khuyến khích phát triển, hoặc tỏ thái độ đối với những
ngành nghề gây thiệt hại lợi ích chung của toàn xã hội,… Thông qua công cụ
thuế, với các mức thuế suất, chính sách ưu đãi khác nhau, NSNN có vai trò
định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế theo các định hướng
phát triển của Nhà nước cả về cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ kích
thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh theo ngành hoặc theo sản phẩm... Hỗ
trợ tài chính cho các doanh nghiệp cần nâng đỡ, khuyến khích,... sẽ góp phần
tạo điều kiện sản xuất thuận lợi, hoàn thiện cơ cấu sản xuất, đảm bảo tính cân
đối của nền kinh tế, đảm bảo tăng trưởng và phát triển bền vững,...
Thu NSNN đóng vai trò tạo nguồn đảm bảo giải quyết các vấn đề xã
hội, thực hiện công bằng xã hội. Trong đó, thực hiện công bằng xã hội thể
hiện ở chức năng phân phối lại thu nhập. Điều tiết chênh lệch thu nhập của
các tầng lớp dân cư bằng cách đánh thuế thu nhập cao, giảm thuế tiêu thụ với
hàng hóa thiết yếu, trợ cấp,...
Thông qua NSNN chính phủ thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
Thể hiện rõ nhất qua việc điều chỉnh chi tiêu của Chính phủ, điều chỉnh mức
thuế, mức lãi suất để kiểm soát lạm phát và hoạt động đầu tư. Trong nền kinh
tế thị trường, những sự mất ổn định trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
là điều không tránh khỏi, do đó, tăng cường sự can thiệp và điều chỉnh của
Nhà nước trở nên cần thiết và tất yếu nhằm giữ vững sự ổn định của quá trình
quyền lực chính trị của Nhà nước, thể hiện tính cưỡng chế bằng hệ thống luật
lệ do Nhà nước quy định và mang tính không hoàn trả là chủ yếu. Mặc dù
vậy, do có sự tác động ngược trở lại nền kinh tế của việc thu NSNN, mà sự
cưỡng chế thu này phải đặt trong sự phù hợp với tăng trưởng phát triển, nhằm
mang lại hiệu quả cao nhất. Ý nghĩa thực tiễn của việc nhận thức đầy đủ đặc
điểm này là ở chỗ, việc sử dụng các hình thức và phương pháp động viên của
NSNN đòi hỏi phải xem xét đến tính chất đặc điểm của các hoạt động kinh tế
- xã hội và yêu cầu phát huy vai trò đòn bẩy của các công cụ tài chính trong
phân phối lại các nguồn tài chính phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng
thời kỳ phát triển xã hội.
Do đó, để tăng thu cho NSNN, về lâu dài, con đường chủ yếu là phải
nâng cao trình độ phát triển, tìm cách mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả
sản xuất của nền kinh tế.
Đối với công tác thu NSNN của một tỉnh, thành phố, nhân tố quyết
định tới nguồn thu NSNN trên địa bàn cơ bản vẫn là thực trạng phát triển của
kinh tế trong phạm vi lãnh thổ. Tuy nhiên, khác với NSNN, nguồn thu trên
Lớp Kế hoạch 44
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
địa bàn tỉnh còn chịu sự tác động của phạm vi địa giới, những chính sách, quy
định riêng và nhiều đặc điểm khác. Chẳng hạn, tuy sự hoạt động sản xuất kinh
doanh của một doanh nghiệp không nằm trên địa bàn, nhưng trụ sở doanh
nghiệp nằm trên phạm vi lãnh thổ tỉnh cũng mang lại nguồn thu theo quy
định, và do đó, nguồn thu này không gắn với sự tăng trưởng kinh tế trên địa
bàn. Vì lý do trên, khi xem xét sự tác động của nhân tố sự tăng trưởng nền
kinh tế trên địa bàn tới nguồn thu NSNN phải loại bỏ các tác nhân đó.
Có thể khẳng định, nhân tố sự tăng trưởng kinh tế vừa là nguồn để thu
NSNN lại vừa là đối tượng tác động của các chính sách thu. Nhận thức đầy đủ
sự ảnh hưởng của nhân tố này, trong công tác thu, phải tránh tình trạng thu theo
chủ quan, thu tách rời thực trạng tăng trưởng của nền kinh tế, phải đặt lợi ích