Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình - Pdf 28


1
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT ……………………………………………………….3
DANH MỤC BẢNG BIỂU.…………………………………………………… 4
DANH MỤC HÌNH ẢNH……………………………………………………… 5
MỞ ĐẦU 6
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 9
1.1. Tổng quan về tính dễ bị tổn thƣơng 9
1.1.1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng 9
1.1.2. Các nghiên cứu trên Thế Giới 9
1.1.3. Các nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Ninh Bình 15
1.2.1. Hiện trạng phát triển nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Ninh Bình 15
1.2.2. Điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ phát triển nuôi trồng thủy sản 18
1.2.3. Tình hình môi trƣờng và dịch bệnh 20
1.2.4. Lao động trong nuôi trồng thủy sản 20
1.2.5. Hiện trạng áp dụng khoa học công nghệ trong NTTS 21
1.3. Đánh giá chung về hiện trạng nuôi trồng thủy sản 22
1.3.1. Kết quả đạt đƣợc 22
1.3.2. Những khó khăn hạn chế 23
1.4. Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản ở Ninh Bình 24
1.4.1. Quan điểm về phát triển nuôi trồng thủy sản 24
1.4.2. Nội dung quy hoạch phát triển 25
1.4.3. Các chƣơng trình, dự án hỗ trợ NTTS 36
1.5. Tình hình biến đổi khí hậu tại tỉnh Ninh Bình 37
1.5.1. Biểu hiện của BĐKH trong những năm gần đây 37
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN SỐ LIỆU 41
2.1. Phƣơng pháp đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng 41
2.1.1. Phƣơng pháp luận 41
2.1.2. Xây dựng chỉ số độ phơi nhiễm (E) 43

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BĐKH
Biến đổi khí hậu
BM1
Đê Bình Minh 1
BM2
Đê Bình Minh 2
BM3
Đê Bình Minh 3
BTC
Bán thâm canh
DT
Diện tích
ĐVT
Đơn vị tính
IPCC
Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu
NN VÀ PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
QCCT
Quảng canh cải tiến
SL
Sản lƣợng
TC
Thâm canh
Bảng 3.5. Số liệu khả năng thích ứng (AC) 64
Bảng 3.6. Kết quả tính toán chỉ số thích ứng (AC) 66 5
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Xu thế chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng I và tháng VII của hai trạm
Nho Quan (a,c) và Ninh Bình (b,d) giai đoạn 1960 – 2010) 37
Hình 1.2. Xu thế biến động lƣợng mƣa mùa mƣa và mùa khô tại trạm Nho Quan
và Ninh Bình giai đoạn 1960 – 2010. 38
Hình 1.3. Bản đồ tần suất XTNĐ hoạt động (a), hình thành (b) ở Biển Đông và
ảnh hƣởng đến đất liền Việt Nam (c) 39
Hình 1.4. Diễn biến mực nƣớc nhiều năm tại Trạm Hòn Dấu 40
Hình 2.1. Phƣơng pháp đánh giá tính dễ tổn thƣơng. 42
Hình 2.2. Xác định các thành phần chỉ số 45
Hình 3.1. Bản đồ huyện Kim Sơn – Nguồn tỉnh Ninh Bình 52
Hình 3.2. Bản đồ phơi nhiễm của 3 xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông 59
Hình 3.3. Độ nhạy cảm của 3 xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông 62
Hình 3.4. Khả năng thích ứng của xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông 66
Hình 3.5. Đầm tôm tại xã Kim Đông 68
Hình 3.6. Đầm tôm tại xã Kim Trung 68

Sơn gắn liền với 9 lần quai đê lấn biển. Cho đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên
của huyện là 20.747 ha, trong đó vùng bãi bồi Kim Sơn có diện tích khoảng
6.660 ha.Toàn bộ khu vực bãi ngang gồm thị trấn Bình Minh, các xã: xã Kim
Đông, xã Kim Hải, xã Kim Trung, đảo Cồn Nổi và vùng biển Ninh Bình đã
đƣợc UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Tại đây thiên
nhiên, sự sống còn đa dạng và hoang sơ, thuận lợi phát triển loại hình du lịch
sinh thái đồng quê. Thắng cảnh khu vực ven biển Kim Sơn nằm trong quy hoạch
du lịch của tỉnh Ninh Bình bao gồm bãi biển, rừng phòng hộ, các đảo Cồn Nổi,
Cồn Mờ, cửa sông Đáy, cảnh quan đê biển, khu vực nuôi trồng và khai thác thủy
hải sản Trên cơ sở xác định vị trí, điều kiện tự nhiên có những thuận lợi nên
huyện Kim Sơn đã phát triển nuôi trồng thủy sản.
Kim Sơn là vùng đất mở ra đời từ công cuộc khẩn hoang vùng bãi biển
đầy lau sậy và sú vẹt dƣới sự tổ chức và điều hành của Doanh Điền sứ Nguyễn
Công Trứ năm Kỷ Tỵ, 1809. Vùng đất này, hàng năm tốc độ bồi tụ tiến ra biển
từ 80 – 100 m. Chính vì thế mà Kim Sơn gắn với lịch sử của những cuộc chinh
phục đất hoang bồi - quai đê lấn biển. Cây cói đã gắn bó với ngƣời dân Kim Sơn

7
cách đây gần 3 thế kỷ. Qua những lần quai đê lấn biển, Kim Sơn đã thực hiện tốt
phƣơng châm "lúa lấn cói, cói lấn biển", với diện tích lúc nhiều nhất lên đến hơn
1.000 ha, sản lƣợng đạt hơn 10.000 tấn cói chè. Các mặt hàng chiếu cói, sản
phẩm mỹ nghệ từ cói đã xuất khẩu đến nhiều thị trƣờng trên Thế giới. Nhƣng,
môi trƣờng ven biển khắc nghiệt nhƣ thiếu nƣớc ngọt không cấy lúa đƣợc, nhiều
nơi cây cói mọc đƣợc nhƣng vì đất bị phèn, chua và mặn dẫn đến năng suất thấp
và tình trạng lỗ vốn, nhiều diện tích bị bỏ hoang. Do ảnh hƣởng của gió bão, rét
đậm rét hại đã làm 242 ha rừng trồng ngập mặn ở ven biển Kim Sơn bị chết với
số lƣợng năm sau cao hơn năm trƣớc (Sở NN-PTNT Ninh Bình). Năm 2001, từ
chủ trƣơng cho phép chuyển đổi ruộng trồng lúa, cói sang nuôi trồng thủy sản, ở
đây hình thành nghề nuôi tôm sú và tập trung phần lớn là ở ba xã bãi ngang gồm
xã Kim Trung, xã Kim Ðông, xã Kim Hải giáp mặt với biển [30].

đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do của IPCC 2007.
Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu, nêu lên kết quả đạt đƣợc của luận văn. 9
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về tính dễ bị tổn thƣơng
1.1.1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng
Tính dễ bị tổn thƣơng(TDBTT) là mức độ tổn thất, suy thoái của hệ
thống, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của nó trƣớc các tác động từ bên
ngoài. Có một số định nghĩa phổ biến về Tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc đƣa ra nhƣ
sau:
Tính dễ bị tổn thƣơng là một hàm của 2 biến của mức độ tổn thất (do tai
biến, khả năng chống chịu và phục hồi(Clark, 1998) [21].
Tính dễ bị tổn thƣơng là tính nhạy cảm của tài nguyên (tài nguyên tự
nhiên, tài nguyên xã hội) trƣớc những tác động tiêu cực của tai biến (NOAA,
1999) [26].

BĐKH tác động đến đến nghề nuôi trồng thủy sản gồm: Nƣớc biển dâng, nhiệt
độ tăng, mƣa bất thƣờng và các yếu tố cực đoan nhƣ bão tố …[28].
Một nghiên cứu điển hình về đánh giá tác động của BĐKH đến nuôi trồng
thủy sản đó là nghiên cứu của Heather Cornell (2012) về việc xây dựng mô hình
đánh giá tác động của BĐKH đó là mô hình DPSIR ( Động lực - Driver; Áp lực
– Pressure; Hiện trạng – Status; Tác động – Impact; Ứng phó – Response) mô
hình đã đƣa ra cái nhìn tổng quát về BĐKH và các hoạt động ứng phó với
BĐKH của nghề nuôi trồng thủy sản tại biển Salish Canada.
Nghiên cứu tổng quan của De silva và Soto (2009), De silva, Cochrane và
đồng tác giả (2009), Badject và đồng tác giả (2009) về tác động tiềm tàng của
BĐKH lên ngành thủy sản cho thấy các nghiên cứu tác động của BĐKH lên
ngành thủy sản đều chứa đựng các yếu tố không chắc chắn, dựa trên các tính
chất đặc thù của giống loài và mối tƣơng quan với môi trƣờng tự nhiên để phán
đoán [19].
Trong nghiên cứu khả năng bị tổn thƣơng của các quốc gia đối với tác
động của BĐKH lên ngành thủy sản của Allison và các cộng sự ((2009). Trong
nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng phƣơng pháp đánh giá dựa vào chỉ số
xuất phát từ khái niệm của IPCC (2001), V = f(E,S,AC) và đề xuất hàm tác động

11
tiềm tàng là PI = (E,S), Allison và cộng sự đã tính toán khả năng tổn thƣơng
bằng hàm V = [PI (E,S) – AC] kết quả cho thấy, ngành thủy sản của các quốc
gia miền Trung và Tây Phi (Maliwi, Guinea, Senegal và Uganda), Peru và
Colombia và 4 quốc gia vùng nhiệt đới Châu Á là Bangladesh, Campuchia,
Pakistan và Yemen đƣợc nhận diện là dễ bị tổn thƣơng nhất trƣớc BĐKH [22].
Nghiên cứu của Kam S.P và các tác giả (2010) đánh giá tính dễ bị tổn
thƣơng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại đồng bằng sông Cửu Long của
Việt Nam qua việc áp dụng phƣơng pháp đánh giá của IPCC và áp dụng mô
hình tính toán của Allison kết quả cho thấy tỉnh Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên
Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang có mức độ tổn thƣơng cao nhất trong các

Nhiệt độ tăng: thay đổi về nhiệt độ môi trƣờng sống sẽ ảnh hƣởng đáng kể
tới sự trao đổi chất, tốc độ phát triển, sự sinh sản và tái sản xuất theo mùa vụ của
các sinh vật sống trong môi trƣờng nƣớc đó, đồng thời chúng sẽ dễ bị nhiễm
bệnh và các loại độc tố. Khi nhiệt độ tăng lên làm cho hàm lƣợng Ôxi trong
nƣớc trong giảm mạnh vào ban đêm, do sự tiêu thụ quá Ôxi làm ảnh hƣởng đến
sự sinh trƣởng và phát triển của loài nuôi, tôm cá có thể bị chết hoặc chậm lớn.
Điều này dễ nhận thấy qua hiện tƣợng phù dƣỡng của các ao nuôi; cá nổi đầu
vào buổi sáng trong các ao nuôi; thủy triều đỏ và tảo chết hàng hoạt ở các vùng
ven biển.
Lũ lụt: Đối với nghề nuôi thủy sản nƣớc mặn nƣớc lợ, độ mặn lại là yếu tố
ảnh hƣởng rất lớn đến sinh trƣởng và phát triển của loài nuôi. Khi xảy ra mƣa
lớn, độ mặn trong các ao nuôi giảm xuống đột ngột vƣợt ra khỏi ngƣỡng chịu
đựng làm cho tôm cá bị sốc, chết hoặc chậm lớn. Lũ xảy ra còn làm cho độ mặn
các vực nƣớc gần bờ nhƣ các cửa sông giảm xuống, nghề nuôi nhuyễn thể, tôm
cá, rong đều bị ảnh hƣởng nghiêm trọng.
Giông bão: Bão và áp thấp nhiệt đới gây ra mƣa to, gió lớn, sóng dữ dội
có thể tàn phá hoàn toàn hệ thống đê bao của các ao nuôi, lồng bè trên biển, vì
vậy tổn thất là điều khó tránh khỏi. Sự tàn phá của bão và áp thấp nhiệt đới còn
ảnh hƣởng đến hệ sinh thái của vùng nuôi – cần thời gian dài mới có thể phục
hồi.So với sự thay đổi nhiệt độ, bão và áp thấp nhiệt đới thƣờng khó có thể dự
đoán, ngƣợc lại mức độ ảnh hƣởng của nó ảnh hƣởng nghiêm trọng hơn rất
nhiều.

13
Mực nƣớc biển dâng: có những ảnh hƣởng khá lớn đến nuôi trồng thủy
sản nhƣng chủ yếu là nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng cửa sông. Khi mực
nƣớc biển dâng sẽ làm biến đổi cấu trúc hệ sinh thái, các vùng nuôi tôm cua ven
rừng ngập mặn; khu vực nuôi ngao trên bãi triều sẽ bị thu hẹp; khu vực nuôi
lồng bè, nuôi hầu ở khu vực cửa sông bị thu hẹp hoặc ảnh hƣởng đến sinh
trƣởng của loài nuôi.

Trong nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH có nghiên cứu “Tác động
của BĐKH đến nghề cá Việt Nam” của nhóm nghiên cứu gồm: TS. Nguyễn Viết
Thành, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh, TS. Ngô Thọ Hùng và TS. Dƣ Văn Toán.
Nghiên cứu này đánh giá tác động của BĐKH đến nghề cá Việt Nam.Hàm sản
xuất đƣợc sử dụng trong nghiên cứu để mô hình hóa tác động của BĐKH đối
với sản lƣợng khai thác.Kết quả cho thấy, lƣợng mƣa trung bình hàng năm khu
vực ven biển có tác động tiêu cực đến sản lƣợng khai thác thủy sản của Việt
Nam, tuy nhiên việc tăng lƣợng mƣa đối với khai thác là tƣơng đối nhỏ [6].
Nghiên cứu “Ảnh hƣởng của BĐKH đến nghề nuôi cá Tra ở Đồng bằng
sông Cửu Long” của nhóm tác giả TS.Trƣơng Hoàng Minh, KS. Đào Minh Hải
và GS.TS Nguyễn Thanh Phƣơng. Nghiên cứu này đã xác định đƣợc các tác
động đặc thù của BĐKH nhƣ gia tăng các kiểu thời tiết cực đoan, mực nƣớc
tăng lên ở các kênh rạch, gia tăng số ngày nóng và mùa nóng kéo dài, xâm nhập
mặn, tăng tần suất lũ và mùa mƣa đến sớm hơn, tăng cƣờng độ mƣa lớn… đến
hoạt động nuôi cá Tra của các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long,
Trà Vinh và Sóc Trăng [11].
Trong nghiên cứu “Nhận thức về tác động của BĐKH và biện pháp thích
ứng đối với nghề nuôi tôm vùng Đồng bằng sông Cửu Long” của nhóm tác giả
Ths. Vũ Vi An, TS. Nguyễn Văn Hảo, Ths Phạm Bá Vũ Tùng, Ths Đoàn Văn
Bảy, Ths Phan Thanh Lâm, TS. Patrick White, TS. Nagothu Udaya SeKhar, TS
Sirisuda Jumnongsong, TS. Vurunthat Dulyapurk, TS.Methee Kaewnern. Kết
quả nghiên cứu xác định đƣợc 5 yếu tố liên quan đến BĐKH có tác động đến
nghề nuôi tôm ở ĐBSCL, bao gồm: Nhiệt độ tăng, nƣớc biển dâng, mƣa to và
mƣa trái mùa, bão tố. Đối với ngƣời nuôi tôm nhiệt độ tăng đƣợc xem là yếu tố

15
tác động mạnh đến nghề nuôi tôm (32.2%), trong khi đó nghiên cứu chỉ ra là
mƣa to và mƣa trái mùa mới là yếu tố tác động mạnh nhất (48.4%) [17].
Nghiên cứu “Xây dựng khung đánh giá và công cụ tính toán chỉ số tình
trạng dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu: Nghiên cứu thí điểm cho sản xuất

2008
2009
I
Tổng diện tích nuôi
Ha
7.284
7.604
9.021
9.456
9.693
1
DT nuôi nƣớc ngọt
Ha
5.354
5.569
6.947
7.341
7.529
2
DT Nuôi mặn, lợ
Ha
1.930
2.035
2.074
2.115
2.164
II
Tổng sản lƣợng nuôi
tấn
10.817

5.354 ha, đến năm 2009 tổng diện tích nuôi nƣớc ngọt tăng lên 7.529 ha, đạt tốc
độ tăng trƣởng bình quân là 5,85%/năm. Sản lƣợng NTTS nƣớc ngọt năm 2004
là 8.495 tấn, tăng lên 16.158 tấn năm 2009 (đạt tốc độ tăng trƣởng bình quân về
sản lƣợng là 11,31%/năm).
Hình thức thức nuôi: Đã có sự chuyển biến mạnh từ hình thức nuôi quảng
canh (QC), quảng canh cải tiến (QCCT) sang hình thức nuôi bán thâm canh
(BTC), thâm canh (TC), các yếu tố kỹ thuật nhƣ cải tạo ao nuôi, kỹ thuật chăm
sóc, quản lý trong quá trình nuôi đã đƣợc ngƣời dân quan tâm, áp dụng vào
trong quá trình nuôi và việc đầu tƣ sử dụng các loại thức ăn tinh, thức ăn công
nghiệp đã góp phân nâng cao năng suất nuôi trồng thủy sản.

17
Hiện trạng sản xuất nuôi trồng thủy sản ao hồ nhỏ năm 2009: Tổng diện tích ao
hồ nhỏ đến năm 2009 là 2.007 ha, trong đó diện tích nuôi thủy sản trong ao hồ
nhỏ của Kim Sơn là 515 ha.
Hiện trạng sản xuất nuôi trồng thủy sản ruộng trũng năm 2009: Tổng diện
tích nuôi thủy sản ruộng trũng năm 2009 diện tích tăng đạt 5.432 ha. Trong đó
diện tích nuôi thủy sản ruộng trũng của Kim Sơn là 465ha.[10]
b. Nuôi trồng thủy sản nƣớc lợ, nƣớc mặn
Diện tích, sản lượng nuôi thủy sản mặn, lợ: Từ năm 2004 đến nay, nuôi
trồng thủy sản mặn lợ phát triển chậm. Diện tích nuôi thủy sản mặn lợ năm 2004
là 1.930 ha, đến năm 2009 diện tích tăng lên là 2.164ha (đạt tốc độ tăng bình
quân 1,93%/năm). Sản lƣợng thủy sản nuôi mặn lợ tăng từ 2.555 tấn (năm 2004)
tăng lên 3.392 tấn (năm 2009) đạt tốc độ tăng trƣởng bình quân về sản lƣợng là
4,17%/năm.
Các đối tượng nuôi chủ yếu: Các đối tƣợng đƣợc nuôi phổ biến ở vùng
nƣớc mặn lợ là: tôm sú, cua xanh, tôm rảo và ngao Năm 2009, diện tích nuôi
tôm sú vụ là 2.064 ha, diện tích nuôi cua vụ 2 là 1.850 ha, diện tích nuôi ngao là
47ha. Đây là những đối tƣợng đã đƣợc nuôi trong thời gian qua, góp phần tạo
công ăn việc làm cho nhiều lao động vùng nông thôn ven biển và tạo ra sản

-
Huyện Kim Sơn
ha
1.930
2.035
2.160
2.074
2.115
2.164
II
SL Nuôi mặn, lợ
tấn
2.555
2.900
2.210
2.900
2.930
3.394
-
Huyện Kim Sơn
tấn
2.555
2.900
2.210
2.900
2.930
3.394
Nguồn: Số liệu thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2009.
1.2.2. Điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ phát triển nuôi trồng thủy sản
Sản xuất và cung cấp giống

thức ăn công nghiệp rất ít, mỗi năm tiêu thụ khoảng 100-120 tấn/năm (các loại
thức ăn phổ biến là KP90, Long Sinh, Hải Long, CP, ). Nhu cầu sử dụng thuốc
thú y thuỷ sản rất ít, thuốc và hoá chất lƣu hành phổ biến là vôi bột, Dolomid,
KMnO
4
, Chlorin, Formalin, BKC,
Điều kiện cơ sở hạ tầng
Hạ tầng cơ sở chƣa hoàn chỉnh đồng bộ, đặc biệt là hệ thống thủy lợi
phục vụ cho nuôi trồng thủy sản nội đồng. Vốn đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng
chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của sản xuất, các công trình thuộc dự án thủy lợi
phục vụ NTTS đang thi công chƣa hoàn thiện. Hiện nay chƣa chủ động đƣợc
việc cung cấp nƣớc cho các vùng nuôi thủy sản, nguồn nƣớc còn phụ thuộc vào
tự nhiên, chất lƣợng nƣớc chƣa đảm bảo.
Dự án quy hoạch chi tiết tiểu vùng 3 (từ đê BM2 đến BM 3) đã đƣợc
UBND huyện phê duyệt nhƣng đến nay thi công chƣa xong nên ảnh hƣởng đến
sản xuất phát triển nuôi trồng thủy sản.
Do thời gian ký hợp đồng NTTS ngắn từ 1-5 năm, nên các hộ dân chƣa
mạnh dạn đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng, bờ ao bị dò rỉ làm mất nƣớc, làm ảnh
hƣởng đến hiệu quả sản xuất. Nhiều ao có mức nƣớc quá thấp, chỉ đạt từ 50-70
cm làm cho những ngày thời tiết có biến động lớn nhƣ nắng nóng, mƣa lớn đột
ngột làm ảnh hƣởng không nhỏ tới hiệu quả nuôi trồng thủy sản.
Hệ thống giao thông, hệ thống điện phục vụ cho phát triển nuôi trồng thủy
sản hiện nay còn gặp nhiều khó khăn [15].

20
1.2.3. Tình hình môi trƣờng và dịch bệnh
Môi trƣờng và dịch bệnh tại các vùng nuôi trồng thủy sản diễn biến phức
tạp. Trong quá trình nuôi, một số bệnh gây nguy hiểm thƣờng gặp ở các đối
tƣợng là: bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn, nấm, bệnh ký sinh trùng, bệnh
do dinh dƣỡng, bệnh do môi trƣờng, bệnh do chất lƣợng giống, các sinh vật hại.

trình độ nhận thức của ngƣời dân còn thấp nên việc áp dụng các kiến thức đã
học đƣợc của ngƣời dân vào thực tế còn nhiều hạn chế, việc áp dụng kỹ thuật
nuôi của ngƣời dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
Qua khảo sát cho thấy, nhu cầu sử dụng lao động cho hoạt động sản xuất
nuôi trồng thủy sản biến động khác nhau theo các phƣơng thức nuôi khác nhau.
Số lao động trung bình sử dụng cho nuôi QCCT trong nuôi nƣớc lợ là 2
ngƣời/ha/vụ nuôi, nuôi TC/BTC là 3-4 lao động/ha ao nuôi/vụ nuôi. Đối với
nuôi cá nƣớc ngọt trên diện tích chuyển đổi với phƣơng thức nuôi QCCT, các
gia đình thƣờng sử dụng trung bình 1 lao động chính kết hợp với lao động phụ
trong gia đình cho việc quản lý chăm sóc 1 ao nuôi diện tích trung bình 2000m
2

[14]
1.2.5. Hiện trạng áp dụng Khoa học công nghệ trong NTTS
Việc áp dụng Khoa học công nghệ trong NTTS đƣợc các Bộ, Ban, Ngành
và các cấp chính quyền địa phƣơng quan tâm. Có sự kết hợp địa phƣơng với các
Viện nghiên cứu NTTS (I, III), và các Công ty thức ăn, thuốc và hoá chất. Khoa
học và công nghệ nuôi trồng thủy sản đã hƣớng vào giải quyết yêu cầu đa dạng
hoá giống loài nuôi, hình thức nuôi; nâng cao chất lƣợng con giống, phòng trị
bệnh và bảo vệ môi trƣờng.
Hoạt động Khoa học công nghệ đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển nuôi trồng thủy sản, góp phần đáng kể trong việc đƣa ngành thủy sản
trở thành ngành có tốc độ phát triển cao, quy mô ngày càng lớn và giá trị ngày
càng tăng.
Sự đóng góp nổi bật nhất của Khoa học công nghệ trong lĩnh vực nuôi
trồng thủy sản phải nói đến trƣớc hết là công nghệ sản xuất giống. Trong sản
xuất giống đã ứng dụng tiến bộ Khoa học công nghệ cho sinh sản thành công
nhiều đối tƣợng có giá trị kinh tế nhƣ: tôm Sú, cua xanh, tôm Càng xanh, cá rô
phi đơn tính, cá chép lai 3 máu.


thông qua việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ nuôi và sản xuất giống, đã

23
hình thành một đội ngũ kỹ thuật có tay nghề trong cộng đồng ngƣời NTTS. các
vùng nuôi đã và đang có xu hƣớng hình thành các hiệp hội hợp tác nhằm tạo
đƣợc sự đồng thuận cao trong việc chuyển đổi các hình thức nuôi, chọn đối
tƣợng nuôi phù hợp, phòng chống dịch bệnh, ô nhiễm môi trƣờng và tiêu thụ sản
phẩm.
Vai trò tham mƣu, tổ chức thực hiện của cơ quan chuyên ngành thuỷ sản
bƣớc đầu đƣợc phát huy.
Thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm từ NTTS khá ổn định, đặc biệt là sản phẩm
tôm nuôi nƣớc lợ đây là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy nghề NTTS ở tỉnh
Ninh Bình phát triển mạnh hơn [14].
1.3.2. Những khó khăn hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc, nghề NTTS ở tỉnh Ninh Bình phải
đối mặt với không ít khó khăn và hạn chế nhƣ:
Môi trƣờng vùng NTTS ngày càng bị ô nhiễm, dịch bệnh ngày càng phát
triển và khó kiểm soát. Giải quyết các vấn đề về bệnh, quản lý – phòng và trị
bệnh có hiệu quả là thách thức lớn đối với nghề NTTS.
Công tác kiểm dịch, kiểm tra chất lƣợng giống thuỷ sản còn nhiều hạn chế
do thiếu máy móc, thiết bị các thông số kỹ thuật đƣợc xác định chủ yếu bằng
cảm quan và kinh nghiệm. Quản lý dịch vụ, thú y thuỷ sản còn yếu.
Cơ sở hạ tầng và hậu cần dịch vụ cho nuôi trồng thủy sản nhất là hệ thống thủy
lợi (cung cấp và tiêu thoát nƣớc) còn yếu kém, chƣa đáp ứng yêu cầu phát triển
nghề NTTS hiện nay.
Thời tiết không thuận lợi cho việc sản xuất giống một số đối tƣợng có giá
trị kinh tế cao, sản xuất không ổn định. Để có đƣợc con giống đạt chất lƣợng
cao, sạch bệnh và cung cấp đủ số lƣợng, kịp thời vụ cho các vùng nuôi trên địa
bàn tỉnh đang và sẽ là những khó khăn không dễ giải quyết.
Nghề nuôi phát triển manh mún, tự phát, không theo quy hoạch. Công tác

các đối tƣợng đặc sản có giá trị kinh tế cao
- Phát triển nuôi ở tất cả các loại hình mặt nƣớc nhằm đa dạng hoá hình
thức nuôi, đối tƣợng nuôi, đồng thời tập trung phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở
các vùng trọng điểm (vùng bãi bồi huyện Kim Sơn, vùng ruộng trũng, hồ thuỷ
lợi).

25
- Ƣu tiên phát triển các đối tƣợng có giá trị kinh tế cao, đƣợc thị trƣờng
tiêu thụ mạnh, mang lại hiệu quả cao và có khả năng xuất khẩu, song phải đảm
bảo đầy đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng, chất lƣợng môi trƣờng nƣớc, con giống
và chất lƣợng nguồn nhân lực.
Mục tiêu phát triển
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đến năm 2015 là 13.233 ha, đến năm
2020 là 16.473 ha, đạt tốc độ tăng trƣởng bình quân về diện tích trong giai đoạn
2010-2020 là 4,9%/năm.
Tổng sản lƣợng nuôi trồng thủy sản đến năm 2015 đạt 32.150 tấn, đến
năm 2020 đạt 49.980 tấn, đạt tốc độ tăng trƣởng bình quân về sản lƣợng nuôi
trồng thủy sản giai đoạn 2010-2020 là 8,91%/năm.
1.4.2. Nội dung quy hoạch phát triển
a. Quy hoach nuôi thủy sản nƣớc ngọt
Ninh Bình có điều kiện tự nhiên thuận lợi và có tiềm năng to lớn về phát
triển nuôi trồng thủy sản nƣớc ngọt.
Giai đoạn đầu thực hiện lấy mở rộng diện tích để tăng sản lƣợng và giá
trị, dần từng bƣớc phát triển theo hƣớng chuyển đổi hình thức canh tác và hỗ trợ
công nghệ, đầu tƣ hợp lý theo khả năng của dân và khả năng huy động vốn đầu
tƣ của nhà nƣớc, của các tổ chức
Diện tích NTTS nƣớc ngọt tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2010-2020 đạt
tốc độ tăng trƣởng bình quân về diện tích là 5,05%/năm, đến năm 2015 diện tích
nuôi thủy sản nƣớc ngọt là 10.450 ha, đến năm 2020 là 12.950 ha.
Giai đoạn 2010-2020, sản lƣợng nuôi thủy sản nƣớc ngọt đạt tốc độ tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status