1
Tham luận
ĐỔI MỚI AN SINH XÃ HỘI THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM
Lê Ngọc Hùng
1
Tóm tắt
Ở Việt Nam “an sinh xã hội” chủ yếu được hiểu là “bảo hiểm xã hội”. Đó là
sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị
giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
thất nghiệp, hưu trí hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội dưới hình
thức bắt buộc hoặc tự nguyện. Trong khi đó, Việt Nam đang đổi mới “an sinh xã
hội” từ mô hình “bao cấp” phù hợp với cơ cấu xã hội “2 giai cấp, 1 tầng lớp” sang
mô hình “xã hội hóa” phù hợp với cơ cấu xã hội gồm nhiều giai cấp và tầng lớp với
rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, chưa nhiều nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Do
vậy, dựa vào kết quả điều tra hiện có, tham luận này tập trung phân tích những biến
đổi mới trong cơ cấu xã hội để chỉ ra những vấn đề đặt ra đối với an sinh xã hội như
phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng giới, bất bình đẳng xã hội giữa các dân tộc
trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế. Tham luận cũng trình bày mặt mạnh, mặt yếu
của hệ thống an sinh xã hội trong quá trình đổi mới, thích nghi với những biến đổi
của cơ cấu xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ
đó gợi ra suy nghĩ góp phần đổi mới công tác xã hội và chính sách xã hội ở Việt
Nam.
Abstract
Renovating social security for adaptation to changes in social structure in
Vietnam
In Vietnam “social security” is mainly understood as “social insurance”. It
Đặt vấn đề
Trên thế giới, chương trình “an sinh xã hội” (social security) lần đầu tiên
được thực hiện ở Đức vào năm 1883. Đến nay, tất cả các nước phát triển và ở nhiều
nước khác đều có các chương trình an sinh xã hội nhằm đảm bảo an ninh kinh tế và
phúc lợi xã hội cho các cá nhân và gia đình của họ, nhất là trong trường hợp họ bị
mất nguồn thu nhập do thất nghiệp, tai nạn lao động, thai sản, bệnh tật, tuổi già và
tử vong. An sinh xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội và các dịch vụ y tế, duy trì thu
nhập và phúc lợi xã hội dành cho các đối tượng thụ hưởng thông qua các dịch vụ xã
hội. Các quốc gia có các định nghĩa khác nhau về an sinh xã hội nhưng đều giống
1
GS,TS. Viện Xã hội học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
3
nhau ở chỗ nhà nước ban hành pháp luật, chính sách và thực hiện các chương trình
an sinh xã hội dưới hình thức chuyển khoản và hiện vật nhằm bù đắp một phần
thiếu hụt hay mất mát về thu nhập cho người thụ hưởng phúc lợi xã hội.
Khác với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang đổi mới và phát triển hệ
thống an sinh xã hội theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà những
biểu hiện rõ nhất là xã hội hóa công tác xóa đói giảm nghèo, xã hội hóa giáo dục, xã
hội hóa y tế. Tuy vậy, việc nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong an sinh xã hội vẫn
chưa đủ và cả việc thu hút sự tham gia của các cá nhân và các tổ chức, cơ quan
trong việc đóng góp vào các quỹ an sinh xã hội cũng chưa đủ. Một mặt, cần phải áp
dụng cách tiếp cận “phát triển con người” để coi an sinh xã hội là một lĩnh vực của
đầu tư nhằm phát triển con người do vậy cần được mở rộng, tăng cường đầu tư chứ
không phải coi an sinh xã hội là lĩnh vực của chi phí cần phải thu hẹp, giảm bớt.
Mặt khác, cần làm rõ và thực hiện đúng đắn sự phân công lao động giữa nhà nước,
thị trường và các tổ chức xã hội gồm cả gia đình và cá nhân trong việc cung cấp các
dịch vụ xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội, phát triển con người. Việc tính đến sự
phân tầng xã hội và biến đổi cơ cấu xã hội là rất quan trọng và cần thiết để vừa thu
cho có thể đảm bảo tất cả mọi người thực hiện được quyền được sống an toàn,
quyền tự do, quyền lựa chọn và có các cơ hội, khả năng để tham gia theo phương
châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” các hoạt động ảnh hưởng tới cuộc
sống của họ. Hệ thống an sinh xã hội cần được phát triển để bao quát được tất cả
mọi người dân chứ không phải chỉ nhằm vào một số nhóm đối tượng của chính sách
xã hội; Đồng thời hệ thống an sinh xã hội cần được hoàn thiện theo hướng cung cấp
các dịch vụ xã hội toàn diện về giáo dục, y tế đảm bảo công bằng xã hội, bình đẳng
xã hội, bình đẳng giới nhằm mục tiêu phát triển con người chứ không phải chỉ nhằm
bù đắp chi phí, bù đắp thu nhập bởi vì ngay cả những người có hoàn cảnh khó khăn
cũng cần nhiều điều kiện và cơ hội để phát triển và thể hiện các năng lực, nhu cầu
của họ.
Từ khái niệm an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội đến dự án luật An sinh
xã hội
Công ước an sinh xã hội (các tiêu chuẩn tối thiểu) của Tổ chức Lao động
Quốc tế (ILO) (Công ước số 102 năm 1952) xác định rằng an sinh xã hội là việc
một quốc gia thành viên cam kết đảm bảo cung cấp những lợi ích cho các cá nhân
được bảo vệ trong những điều kiện nhất định. Lợi ích được cung cấp bao gồm lợi
ích trực tiếp dành cho người được bảo vệ hoặc lợi ích gián tiếp dưới hình thức bù
đắp những chi phí phát sinh cho cá nhân liên quan. Công ước này xác định rõ chín
lĩnh vực an sinh xã hội mà mỗi quốc gia cam kết đảm bảo: (1) chăm sóc y tế; (2) trợ
cấp ốm đau; (3) trợ cấp thất nghiệp; (4) trợ cấp tuổi già; (5) trợ cấp tai nạn việc làm;
(6) trợ cấp gia đình; (7) trợ cấp thai sản; (8) trợ cấp tàn tật); (9) trợ cấp tiền tuất.
5
Tuy nhiên, vào thời điểm năm 1952, Công ước này đề ra một số tiêu chuẩn tối thiểu
về an sinh xã hội, cụ thể là đòi hỏi mỗi quốc gia đảm bảo thực hiện tối thiểu 3 trong
số 9 lĩnh vực an sinh xã hội và từng bước mở rộng an sinh xã hội sang các lĩnh vực
còn lại. Một khía cạnh nữa của “tiêu chuẩn tối thiểu” thể hiện ở các mục tiêu tối
thiểu liên quan tới tỉ lệ dân số được bảo vệ bởi chế độ an sinh xã hội, mức độ tối
thiểu của lợi ích được đảm bảo cho những người được bảo vệ cũng như mức độ độ
6
sau đây: một là các tiêu chuẩn tối thiểu về an sinh xã hội của ILO (1952) không đề
cập lĩnh vực giáo dục. Luật Bảo hiểm xã hội (2006) của Việt Nam có chế độ hỗ trợ
học nghề nhưng chỉ nhằm thực hiện bảo hiểm đối tượng thất nghiệp.
Hai là, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo
các chế độ an sinh xã hội đối với các nhóm đối tượng, ví dụ luật Người khuyết tật
đảm bảo chế độ trợ cấp đối với người khuyết tật, Pháp lệnh Ưu đãi người có công
với cách mạng đảm bảo các chế độ ưu đãi đối với những người có công với cách
mạng và thân nhân của những người có công với cách mạng, luật Lao động dành cả
một chương quy định các chế độ ưu đãi đối với lao động nữ. Điều này cho thấy an
sinh xã hội là một lĩnh vực phức tạp và trên thực tế đang trở nên phức tạp hơn do bị
điều chỉnh bởi nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng không ít những
nguy cơ gây trùng lặp, chồng chéo cần được tháo gỡ. Tình hình này đặt ra yêu cầu
phát triển dự án luật An sinh xã hội đảm bảo bao quát không chỉ chín lĩnh vực mà
Công ước 102 của ILO đã đưa ra năm 1952 mà còn mở rộng sang những lĩnh vực
khác nhất là lĩnh vực giáo dục. Đặc biệt dự án luật An sinh xã hội cần đảm bảo cung
cấp các dịnh vụ xã hội nhằm đảm bảo các điều kiện vật chất như chế độ bù đắp chi
phí, thu nhập và cả các điều kiện tiếp cận các cơ hội phát triển năng lực nhất là giáo
dục, chăm sóc sức khỏe và tham gia lập kế hoạch, giám sát các hoạt động phát triển
kinh tế - xã hội. Nói ngắn gọn, dự án luật An sinh xã hội cần đảm bảo sự “phân
công lao động hợp lý” của nhà nước, tư nhân, gia đình và các tổ chức xã hội, cộng
đồng trong việc thực hiện thống nhất các chế độ an sinh xã hội, cung cấp các dịch
vụ xã hội tới tất cả mọi người dân, “tiếp cận toàn dân” và bao quát được toàn diện
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Vấn đề mất cân đối trong cấu trúc công – tư của hệ thống giáo dục: tỉ lệ học
sinh trong các trường công lập và trường tư thục phản ánh một phần sự phân công
lao động bất hợp lý giữa nhà nước và tư nhân trong cung cấp dịch vụ giáo dục nhằm
nâng cao năng lực an sinh xã hội của dân cư Việt Nam. Một số kết quả nghiên cứu
về vấn đề này cho biết
1
: tỉ lệ học sinh trường công các cấp đã giảm từ 88.16% năm
1
UNDP. Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011: Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người.
Hà Nội. 2012. Tr. 116
8
2000 xuống còn 84.94% năm 2008 và tỉ lệ học sinh trường tư thục đã tăng từ
11.84% lên 15.06% trong cùng thời thời kỳ này. Cấu trúc công – tư trong giáo dục
đang thay đổi theo xu hướng tăng tỉ lệ học sinh trường tư thục và giảm tỉ lệ học sinh
trường công lập. Tuy nhiên, vấn đề là sự phân công bất hợp lý ở một cấp học cụ thể
là: ở giáo dục mầm non, tỉ lệ học sinh công lập giảm từ 52.78% xuống còn 51.14%
và tỉ lệ học sinh trường tư thục tăng từ 47.22% lên 48.86%.
Với cấu trúc công – tư ở giáo dục mầm non như hiện nay có thể thấy rõ là
các gia đình và tư nhân đang chịu gánh nặng rất lớn trong việc cho trẻ em đến các
trường mầm non. Trước tình hình này, hệ thống an sinh xã hội hiện đại cần phải
được xây dựng, hoàn thiện để giành ưu thế và khẳng định tính ưu việt “định hướng
xã hội chủ nghĩa” ở việc thay đổi cấu trúc công – tư theo hướng giảm nhanh tỉ lệ
học sinh trường tư thục, tăng nhanh tỉ lệ học sinh trường công lập đồng thời với việc
nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục mầm non cho tất cả các trẻ em trong độ tuổi
đến trường mầm non. Ở giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tính ưu việt xã hội
chủ nghĩa đang được thể hiện rõ ở cấu trúc công – tư trong đó tỉ lệ học sinh trường
công chiếm khoảng trên 99%.
Tuy nhiên, các số liệu hiện có
cho thấy một phần tính chất ưu việt của các chế độ miễn, giảm học phí đối với học
sinh người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, lên đến cao đẳng và đại học, tỉ lệ chi tiêu
cho giáo dục của các hộ gia đình dân tộc thiểu số là 50% cũng gần bằng tỉ lệ chi tiêu
của hộ gia đình người Kinh và người Hoa (51.5%). Điều này cho thấy các hộ gia
đình người dân tộc thiểu số đang phải chịu gánh nặng rất lớn từ việc chi tiêu tới
50% cho giáo dục đại học, cao đẳng trong tổng chi tiêu bình quân đầu người. Tình
hình tương tự khi xem xét tỉ lệ chi tiêu của các hộ gia đình nghèo nhất và hộ gia
đình giàu nhất. Tỉ lệ chi tiêu cho giáo dục đại học, cao đẳng tính trên đầu sinh viên
trong tổng chi tiêu bình quân dầu người của hộ gia đình nghèo nhất là trên 41%,
nhiều hơn so với hộ gia đình giàu nhất với tỉ lệ 40% (xem bảng 2).
Bảng 2. Tỉ lệ phần trăm chi tiêu cho giáo dục tính trên đầu người học trong
tổng chi tiêu bình quân đầu người của các hộ gia đình, 2008 (%)
Tiểu
học
Trung học cơ sở Trung học phổ
thông
Cao đẳng và đại
học
Cả nước 9.8 13.2 22.2 51.4
Dân tộc Kinh và Hoa 11.0 14.4 23.4 51.5
Các dân tộc thiểu số 4.2 5.7 11.3 49.9
Nhóm nghèo nhất 9.0 12.6 24.4 41.4
Nhóm nghèo 9.1 13.1 23.9 78.5
Nhóm trung bình 10.5 12.7 22.4 63.5
Nhóm khá 9.4 13.2 21.7 57.0
Nhóm giàu nhất 12.4 14.5 19.7 40.0
Nguồn: Trích theo UNDP. Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011:
Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người. Hà Nội. 2012. Tr. 107.
10
Việc các hộ gia đình phải dành bình quân hơn một nửa tổng chi tiêu cho chi
1
theo UNDP. Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011: Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con
người. Hà Nội. 2012. Tr. 104.
11
Biểu: Cấu trúc chi tiêu công – tư cho giáo dục năm 2004 – 2008, %
Nguồn: Trích theo UNDP. Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011:
Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người. Hà Nội. 2012. Tr. 104.
Vấn đề bất bình đẳng xã hội trong giáo dục: Kết quả Tổng điều tra dân số và
nhà ở năm 2009 cho biết càng lên bậc học cao thì tỉ lệ dân số trong độ tuổi đến
trường nhưng không đến trường càng lớn. Nói cách khác mức độ bao phủ của dịch
vụ giáo dục giảm dần từ tiểu học đến đại học. Việt Nam đã phổ cập giáo dục tiểu
học với tỉ lệ đi học đúng tuổi là 95.5% và 4.5% trẻ em trong độ tuổi này không đến
trường. Nhưng ti lệ đi học đúng tuổi trung học cơ sở giảm xuống còn 82.6% và đến
bậc trung học phổ thông chỉ còn gần 57%. Điều này có nghĩa là 43% dân số tuổi từ
15- 17 tuổi không đến trường trung học phổ thông. Tỉ lệ đi học đúng tuổi cao đẳng
và đại học của Việt Nam chỉ đạt 16.3% trong đó 6.7% là cao đẳng và 9.6% là đại
học. So sánh giữa các nhóm dân tộc có thể thấy bất bình đẳng giáo dục tăng dần
theo cấp học và đạt mức rất cao ở bậc đại học, ví dụ tỉ lệ đi học đại học đúng tuổi
của dân tộc Kinh là 11.1% nhiều hơn hẳn các dân tộc thiểu số, ví dụ tỉ lệ đi học
đúng tuổi đại học của dân tộc Thái hay dân tộc Khmer chỉ đạt 1.1%. Bất bình đẳng
về tỉ lệ đi học đúng tuổi đại học thể hiện đặc biệt rõ giữa nhóm hộ gia đình giàu
nhất và hộ gia đình nghèo nhất. Năm 2009 tỉ lệ đi học đúng tuổi đại học của nhóm
gia đình giàu nhất đạt 26.3%, nhiều gấp 87 lần tỉ lệ 0.3% đi học đúng tuổi đại học
của nhóm hộ gia đình nghèo nhất (bảng 3). Trong khi đó về thu nhập bình quân đầu
12
người của nhóm hộ gia đình giàu nhất chỉ nhiều gấp 9.2 lần so với nhóm hộ gia đình
nghèo nhất. Trong tình hình này có thể nói các chính sách đầu tư nâng cao chất
9.6
Dân tộc Kinh 97.0 86.7 61.8 7.7 11.1
Dân tộc Tày 97.5 87.6 55.5 3.0 3.2
Dân tộc Thái 92.7 73.3 29.9 1.6 1.1
Dân tộc Mường
95.7 83.3 41.4 1.3 1.7
Dân tộc Khmer 86.4 46.3 15.4 0.9 1.1
H’Mông 72.6 34.1 6.6 0.2 0.2
Nhóm Nghèo
nhất
88.9 59.0 23.2 0.3 0.3
Nhóm Nghèo 95.3 78.7 44.2 1.8 1.0
Nhóm Trung
bình
97.0 86.7 56.1 7.8 5.5
Nhóm Giàu 97.5 89.6 64.6 8.6 10.6
Nhóm Giàu
nhất
98.3 94.9 82.3 11.6 26.3
Nguồn: Tổng cục Thống kê. Giáo dục Việt Nam: Phân tích các chỉ số chủ yếu. Hà
Nội. 2011. Biểu 4.2. Tr. 36.
Hệ thống cung cấp dịch vụ giáo dục chưa bao phủ được 100% dân số trong
độ tuổi đến trường và do vậy đã làm cho gần một nửa dân số không đi học đúng
tuổi trung học phổ thông và đại đa số dân cư không đi học đúng tuổi cao đẳng và
đại học. Không chỉ còn yếu về khả năng tạo cơ hội đến trường ở bậc trung học phổ
thông và cao đẳng, đại học mà hệ thống giáo dục hiện nay vẫn chưa đảm bảo được
chất lượng phục vụ đáp ứng mong đợi của người dân. Khi tìm hiểu về mức độ hài
lòng của người dân với các dịch vụ xã hội cơ bản là giáo dục, các nhà điều tra mức
Tốt
nghi
ệp
tiểu
học
Tốt
nghi
ệp
THC
S
Tổt
nghi
ệp
THP
T
Sơ
cấp
nghề
Trun
g
cấp
nghề
Cao
đ
ẳng
nghề
14.5
24.0
28.7
12.6
- - -
3.3
4.3 4.4
0.1
-
2010
100.0
6.0
14.3
22.7
27.1
14.0
3.5
- -
2010
100.
0 15.9
22.3
27.0
24.8
8.0
0.8
0.3
0.1
-
0.5 0.3
- 0.0
Nhóm 2
- -
2006 100. 10.0
12.0
1.8
1.0
0.1
-
1.4 0.8
- 0.0
Nhóm 3
- -
2006
100.
0 6.9
15.7
25.7
32.2
12.0
-
- - 3.0
2006
100.
0 4.8
12.7
23.9
28.7
14.9
-
- - 4.6
6.0 4.4
- -
2010
100.
0 2.5
10.6
20.9
28.4
16.6
0.5 0.1
2010
100.
0 1.3
6.7
14.7
21.8
18.0
5.6
3.7
0.6
-
6.9 19.7
1.0 0.1
Nguồn: Tổng cục thống kê. Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2010. Hà
Nội. 2011.
Tóm lại, tình hình giáo dục của Việt Nam là một trường hợp nghiên cứu phù