TRƯỜNG
KHOA…………… ………… o0o…………
ĐỀ ÁN
Đào tạo nghề với chuyển dịch
cơ cấu lao động ở Việt Nam
hiện nay Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền kinh tế tri thức đòi hỏi ngày càng
cao về số lượng đội ngũ công nhân kĩ thuật và nhân viên nghiệp vụ
.Việt Nam đang bước vào nền kinh tế thị trường, cơ cấu kinh tế đang
có sự chuyển dịch mạnh mẽ kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động,
sự chuyển dịch này đã đạt được một số thành tựu nhưng vẫn còn nhiều
bất cập chủ yếu là về nguồn nhân lực.
Nhận thực được vai trò quan trọng hàng đầu có tính quyết định
của yếu tố con người trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động để
phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Báo cáo
của ban chấp hành trung ương Đảng khoá XIII tại đại hội đại biểu toàn
Làm rõ thực trạng dạy nghề tình hình chuyển dịch cơ cấu lao
động giai đoạn 1996_2003 , phân tích những thành tựu , yếu kém và
nguyên nhân
- Trên cơ sở phân tích thực trạng này và dự báo nhu cầu lao động qua
đào tạo nghề đến 2010 để đưa ra những định hướng và giải pháp đến
năm 2010
3.Đôí tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào phân tích thực trạng dạy nghề và
chuyển dịch cơ cấu lao động , số liệu lấy trong giai đoạn 1996_2003
đề tài: Đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu lao động ở việt
nam hiện nay
4.Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu gồm 3 phần:
A.Đặt vấn đề
B.Nội dung
Chương I : Cơ sở lí luận về đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu lao
động
Chương II:Phân tích thực trạng đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu
lao động ở VN
Chương III: Một số giải pháp phát triển đào tạo nghề gắn với chuyển
dịch cơ cấu lao động đến năm 2010
C.Kết luận
TàI liệu tham khảo
Mặc dù đã có cố gắng để hoàn thiện nhưng không tránh khỏi sai sót
trong quá trình thực hiện rất mong được sự xem xét và bổ sung của
thầy giáo để đề tài hoàn thiện hơn .
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Mai Quốc Chánh đã giúp đỡ em
tận tình trong quá trình hoàn thành đề án này .
Hà Nội ngày 30/12/2003
Sinh viên :Đỗ Thanh Bình
lí cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các
công cụ sản xuất đơn giản nhất
(C.Mác Ph.ăng nghen. Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 trang 198)
Ở Việt Nam có tồn tại các khái niệm sau:
Theo giáo trình KTLĐ của trường ĐH KTQD thì kháI niệm đào
tạo nghề được tác giả trình bày là :” Đào tạo nguồn nhân lực là quá
trình trang bị kiến thực nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người
lao động,để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định”
Theo tàI liệu của bộ LĐTB và XH xuất bản năm 2002 thì kháI niệm
đào tạo nghề được hiểu :” Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị
cho người lao động nhừng kiến thức ,kĩ năng và tháI độ lao động cần
thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một
nghề trong xã hội”
Như vậy ,khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những
kiến thức kĩ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản
.Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa,đề cao
người lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi
lao động là một nguồn “Vốn nhân lực “,coi công nhân như cáI máy
3
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
sản xuất .Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỉ luật
lao động –một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất
vơí
công nghệ và kĩ thuật tiên tiến hiện nay
3.Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề
a.Tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Dạy nghề nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu công nhân kĩ thuật nhân
viên nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội .Do đó sự phát triển của công
tác dạy nghề gắn với sự phát triển kinh tế xã hội .Thực tế cũng cho
4
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
trong đội ngũ lao động ở nhiều nghành sản xuất.Quy mô đào tạo nghề
hiện nay vẫn còn quá bé nhỏ ,trình độ,thiết bị đào tạo lạc hậu không
đáp ứng được nhu cầu CNH HĐH “.Từ đó nghị quyết đã đưa ra chủ
trương là đảy mạnh đào tạo công nhân lành nghề ,tăng quy mô học
nghề, tăng cường đầu tư củng cố và phát triển các trường dạy nghề,xây
dung một số trường trọng đIúm, đào tạo công nhân lành nghề cho các
khu công nghiệp, khu chế xuất ,có tính đến nhu cầu xuất khẩu lao
động.
Như vậy ta thấy đầy là một sự ưu tiên rất lớn của Đảng và Nhà
nước trong công tác dạy nghề
d. Các yếu tố dân số
Quy mô và cơ cấu dân số quyết định đến số lượng ,quy mô và
cơ cấu của các trường dạy nghề .Nứoc có cơ cấu dân số trẻ thì mạng
lưới dạy nghề phảI lớn còn những nước có quy mô dân số vừa và nhỏ
thì phát triển những trường dạy nghề mang tính chuyên sâu
e. TháI độ xã hội về nghề và công tác đào tạo nghề
Xu hướng vào được ĐH mới có thể kiếm được một nghề ổn
định đang ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của công tác đào tạo
nghề trong các trường CNKT .Học sinh không muốn thi vào hoặc nếu
đỗ thì cũng tìm cách thi lên ĐH .ĐIều này làm cho đầu vào của các
trường dạy nghề có thể khá đông nhưng đầu ra lại ít .Tạo nên tình
trạng “thừa thầy thiếu thợ”
4.Sự cần thiết của công tác đào tạo nghề
Đào tạo nghề có thể cung cấp một đội ngũ lao động có trình độ
cho sự phát triển nền kinh tế đất nứơc.Họ là những người đưa lí thuyết
đến thực hành ,đưa khoa học công nghệ tới các vùng chậm phát triển
Cac Mac đã viết rằng :”Những người công nhân tiên tiến hoàn toàn
tế.
2.Nội dung chuyển dịch cơ cấu lao động:
- Chuyển dịch cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng kinh tế.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động theo độ tuổi lao động.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động theo chất lượng lao động .
3.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động:
a.Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Đây là đIều kiện tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu lao động.Sự
chuyển dịch cơ cấu lao động càng mạnh mẽ thì kéo theo sự chuyển
dịch cơ cấu lao động cũng càng nhanh .
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ làm xuất hiện cân đối mới về nhu
cầu lao động về cả số lượng lẫn chất lượng lao động.Quá trình công
nghiềp hoá hiện đại hoá sẽ làm xuất hiện các nghành mới trong cơ cấu
nghành kinh tế của vùng.Cùng với việc mở rộng khu vực công nghiệp
,xây dựng,dịch vụ se thu hút thêm lao động nhất là lao động có trình
độ chuyên môn kĩ thuật .ĐIều này làm cho cơ cấu lao động có sự
chuyển dịch từ nền kinh tế này sang nghành kinh tế khác và có sự
phân công lại lao động theo lãnh thổ
b.Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước
6
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
Khi nước ta còn ở trong thời kì bao cấp nền kinh tế chỉ tồn tại
thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tập thể thì lao động
tập trung chủ yếu ở các thành phần kinh tế này nhưng khi chuyển sang
thanh phần kinh tế thị trường với đủ các loại thành phần kinh tế thì lao
động sẽ chuyển một phần từ các thành phần kinh tế nhà nước và tập
thể sang các thành phần kinh tế khác
Các chính sách của Đảng và Nhà nước cũng ảnh hưởng rất lớn đến
7
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
Lao động của con người là một trong ba yếu tố đầu vào của sản
xuất ,hơn thế nữa lại là nhân tố thực hiện kết hợp các yếu tố khác để
tao ra sản phẩm .Khi cơ cấu kinh tế thay đổi thì kéo theo nhu cầu về
lao động cũng sẽ thay đổi để phù hợp với sản xuất .Tức là thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động .Vậy trước khi có sự chuyển
dịch này thì đã có sự dư thừa lao động ở các nghành ,vùng ,thành
phần kinh tế này nhưng lại có sự thiếu hụt ở nghành,vùng kinh tế khác
và số lao động dư thừa này sẽ phảI trảI qua một qua trình đào tạo lại để
phù hợp với nghành,vùng thành phần kinh tế khác.Và như vậy công
tác đào tạo nghề phảI nhanh chóng kịp thời để vừa đảm bảo sản xuất
vừa đảm bảo cuộc sống cho người lao động .
Chuyển dịch cơ cấu lao động có thể hiểu là quá trình tổ chức lại
lao động theo hướng hiện đại hơn ,tiên tiến hơn để tần dụng tối đa và
có hiệu quả mọi nguồn lực trong xã hội .Vì vậy người lao động luôn
phảI học hỏi kiến thức kĩ năng mới nên công tác đào tạo nghề luôn
phảI bám sát ,đón trước xu hướng vận động của nền kinh tế .
Khi có sự chuyển dịch cơ cấu lao động sang nghành mới áp
dụng những kiến thức khoa học cần có những lao động tay nghề cao
đIều này bắt buộc phảI mời những trường dạy nghề công nghệ cao thì
mới có lao động để phục vụ sản xuất .
Như vậy ta thấy đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động có
mối quan hệ mật thiết hợp rác và bổ sung cho nhau .Đào taọ nghề vừa
là nền tảng vừa động lực cho chuyển dịch cơ cấu lao động .Còn
chuyển dịch cơ cấu lao động lại quyết định trở lại về quy mô ,cơ cấu ,
và chất lượng cho đào tạo nghề.
8
rộng khắp ỏ tất cả các bộ nghành địa phương và cơ sở dạy nghề bên
cạnh xí nghiệp ,công nông lâm trường đáp ứng nhu cầu học nghề ở
trong cả nước.
Thời kì từ năm 1987 đến 1992 công tác quản lí dạy nghề do vụ
dạy nghề đảm nhiệm .Từ năm 1992 đến tháng 6/1998 công việc này
chỉ còn một phần trong vu trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đảm
nhiệm .Thời kì này công tác dạy nghề ít được quan tâm, đầu tư và phát
triển,hệ thống dạy nghề ngày càng thu hẹp lại cả về số lượng lẫn quy
9
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
mô đào tạo,năm 1998 số trường dạy nghề chỉ còn 129 trường (giảm
56% so với năm 1986)
Trước nhu cầu cấp bách phát triển nguồn nhân lực của công
cuộc đổi mới và bước vào giai đoạn đâỷ mạnh công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước,tổng cục dạy nghề được thành lập theo nghị quyết số
33/1998 ngày 23/5/1998 nhằm giúp bộ trưởng bộ LĐTB và XH quản
lí nhà nước về công tác đào tạo nghề trên phạm vi cả nước .Sau một
số năm thực hiện, tính đến cuối năm 2001 mạng lưới trưòng dạy nghề
đã được mở rộng và đa dạng hoá với nhiều hình thức,trong đó:
+ 137 trường trung hoc chuyên nghiệp và cao đẳng có chức năng
nghiệp vụ dạy nghề
+ 149 trung tâm dạy nghề trong đó có 78 trung tâm dạy nghề quận
,huyện
+ 150 trung tâm dich vụ việc làm có dạy nghề
+ Trên 300 trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp và
thị trường giáo dục thường xuyên tham gia đào tạo nghề ngắn hạn
+Hàng nghìn lớp dạy nghề của các doanh nghiệp các tổ chức và của
các nghành nghề .
trình công nghiệp và dịch vụ .
+Các khoản thu của cơ sở dạy nghề từ hội đồng tư vấn ,chuyển giao
công nghệ ,sản xuất dịch vụ.
+Các nguồn khác.
Trong thực tế những năm qua,ngân sách nhà nước cho đào tạo
nghề chủ yếu là nguồn kinh tế thường xuyên ,vốn đầu tư cơ bản xây
dựng ,thực chất gân sách nhà nước mới chỉ đảm bảo được một phần
rất nhỏ so với nhu cầu kinh phí cho đào tạo nghề ,phần lớn số kinh phí
cần thiết cho đào tạo dạy nghề là do cơ sở đào tạo tự lo liệu.Đây là một
hạn chế rất lớn đối với hoạt động đào tạo nghề và ít nhiều làm giảm
chất lượng đào tạo .
Như vậy có thể thấy hệ thống dạy nghề đang nổi lên một số bất
cập:
+Cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu, thiếu thốn nghiêm trọng cả
thiết bị dùng chung và thiết bị phục vụ giảng dạy .
+Chương trình giáo án lạc hậu .
+Đội ngũ giáo viên thiếu nghiêm trọng về số lượng và hạn chế về
chất lượng.
+Phần kinh phí ngân sách nhà nước dành cho đào tạo nghề còn hạn
hẹp
1.2. Quy mụ đào tạo nghề:
Tương ứng với số cơ sở dạy nghề trong mỗi thời kỡ, quy mụ
đào tạo nghề cũng có sự biến động tương đối đáng kể. Năm 1975 quy
mô đào tạo là 80.000 học sinh chưa kể CNKT được đào tạo tại các địa
phương .Tại miền Bắc chỉ tính số công nhân kĩ thuật trong khu vực
kinh tế quốc doanh và tập thể đó là 600.000 người .Số học sinh này đó
gúp một phần tương đối lớn trong sản xuất và xây dựng đất nước sau
chiến tranh ,trở thành những công nhân chủ chốt cho những giai đoạn
sau ,do vậy mà số công nhân kĩ thuật của chúng ta năm 1083 đó tăng
Chúng ta có số liệu về học sinh các trường chuyên nghiệp cả
nước trong những năm 1997-2000 như trong bảng dưới đây :
số học sinh (1000 người) Số học sinh tốt nghiệp (1000)
Năm
CNKT THCN CĐ,
ĐH
CNKT THCN CĐ, ĐH
1997 138,6 164,1 662,8 90,3 68,3 74,1
1998 144,7 177,6 682,3 93,2 52,1 103,1
1999 172,1 159,9 734,9 113,9 49,1 113,6
2000 370,8 250,9 795,6 174 71,9 149,8
12
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
(Thời báo kinh tế Việt Nam, Số 70 ngày 2/5/2003)
Qua những số liệu trờn ta thấy chỉ trong vũng 4 năm từ 1997
đến năm 2000 số học sinh cuả các trường CNKT đó tăng gấp 2.5 lần
từ 138,6 nghỡn lờn 370,8 nghỡn .Trong khi đó số học sinh ĐH,CĐ
tăng không đáng kể từ 662,8 nghỡn lờn 795,6 nghỡn .Nú thể hiện sự
chuyển hướng trong công tác đào tạo và phân luồng học sinh ngay
trong cấp cơ sở để khắc phục tỡnh trạng mất cõn đối trong đào tạo dẫn
đến thừa thầy thiếu thợ trong sản xuất.Thực tế sản xuất ở các khu
công nghiệp ,các khu chế xuất hay các doanh nghiệp liên doanh với
nước ngoài cho thấy rằng trỡnh độ lành nghề của công nhân tốt nghiệp
cũng chưa đáp ứng được ngay yêu cầu của sản xuất ,nhiều chủ doanh
nghiệp ngay sau khi tuyển dụng lại phải tiếp tục bỏ tiền ra đào tạo
công nhân .Như vậy thỡ con số về quy mụ đào tạo chưa thực sự phản
ánh được những thay đổi trong hoạt động của các trường dạy nghề
,cần thiết phải xem xét đến cả chất lượng của đào tạo ,chất lượng học
lượng học sinh ,sinh viên ra trường thường không đáp ứng được yêu
cầu của các nhà tuyển dụng về trỡnh độ cũng như khả năng cập nhật
thông tin mới.
Sở dĩ các học sinh, sinh viên thường không áp ứng được yêu
cầu của các nhà tuyển dụng vỡ những gỡ họ được học trong trường thỡ
thường khác xa hơn rất nhiều so với những gid mà người tuyển dụng
mông muốn mà một trong những nguyên nhân không nhỏ của vấn đề
này đó là việc chậm cập nhật thông tin cũng như đưa các thiết bị hiện
đại áp dụng vào việc học tập và giảng dạy trong các trường học nghề.
B, Đội ngũ giáo viên dạy nghề
Đội ngũ giáo viên dạy nghề trong thời gian qua đó được cũng cố
và phát triển.Các Bộ,nghành, địa phương đó thường xuyên tổ chức bồi
dưỡng chuyên môn ,nghiệp vụ sư phạm ,ngoại ngữ mtin học ở trong cả
nước và nước ngoài cho đội ngũ giáo viên.
Đội ngũ giáo viên dạy nghề trong các trường công lập được
nâng lên một bược ,năm 2001 số giỏo viờn cú trỡnh độ trên ĐH chiếm
2%; đại học ,cao đẳng chiếm 69% ,trung học chuyên nghiệp
25%,công nhân kỹ thuật 14% .Như vậy trỡnh độ giáo viên cũn ở mức
thấp ,cú tới 39% giỏo viờn dưới trỡnh độ ĐH ( vùng đồng bằng sông
Cửu Long lên tới 60%) .Trong khi đó các số liệu tương ứng vào năm
97 là 1,8%; 55,6%; 23,3%;19,1%.Sau 5 năm thực hiện những đường
lối chính sách mới về đào tạo nghề nhưng rừ ràng là chỳng ta vẫn chưa
đạt được kết quả như mong muốn trong việc nâng cao trỡnh độ cho
giáo viên dạy nghề.
Đơn vị : %
Năm
Trên ĐH ĐH-CĐ THCN CNKT
1997 1,8 55,6 23,3 19,1
2000 2 69 25 14
chính sách .
Khi có được những người thầy giỏi thỡ chỳng ta mới cú thể cú
được những công nhân giỏi,những người thợ giỏi tham gia vào công
cuộc xây dựng tổ quốc xó hội chủ nghĩa.Chỳng ta cần nghiờm tỳc
nhỡn nhận lại những bất cập hiện nay đang cũn tồn tại để sớm khắc
phục mới mong thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH
C,Cơ sở vật chất kỹ thuật ,trang thiết bị dạy nghề,
Trang thiết bị sử dụng cho luyện tập , kỹ năng thực hành ở các
trường thực hành nghề cũn thiếu cả về số lượng lần chất lượng.Có
khoảnh 19% số thiết bị là tương đối phù hợp với công nghệ sản xuất
hiện nay ,trong đó có tới 14% số thiết bị đó quỏ cũ và lạc hậu .9,75%
thiết bị sản xuất được sản xuất từ năm 1975-1985 , 36,14% số thiết bị
được sản xuất từ năm 1986-1995, 39% số thiết bị được sản xuất từ
năm 1996-2000
15
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
Mặc dù trong những năm gần đây đó cú một số trường và cơ sở
mới thành lập được trang bị máy mọc thiết bị đồng bộ tương đối hiện
đại phù hợp với công tác dạy nghề,sát với thực tế sản xuất , đặc biệt là
các cơ sở dự án được tài trợ hoặc giúp đỡ của nước ngoài và các tổ
chức quốc tế .Nhưng nhỡn chung về tổng thể trang thiết bị dạy nghề
của các cơ sở dạy nghề vẫn cũn thiếu về số lượng và lạc hậu so với kỹ
thuật ,công nghệ sản xuất.
Trong giai đoạn 1997-2000 kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách nhà nước cho đào tạo nghề tăng từ 240,8 tỷ đồng lên tới 530
tỷ đồng ;kinh phí chương trỡnh mục tiêu nâng cấp thiết bị dạy nghề
của Nhà nước tăng từ 30 tỷ đồng lên 90 tỷ đồng.Ngoài ra trong thời
gian qua kinh phí ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ sở
vật chất trang thiết bị dạy nghề của các Bộ ,nghành , địa phương, tổ
2.2. Chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ
Đơn vi : 1000
1990 % 1995 % 1998 %
Tổng số 33133,4 100 33468,1 100 35961,6 100
Vùng núi phía bắc 3988,7 12,03 4591,5 13,7 4515,4 13,67
KTTĐ bắc bộ 4355,2 13,14 4825,1 14,4 5033,7 13,9
KTTĐ miền trung 1704,9 5,14 1842,8 5,5 2027,5 5,64
Tây nguyên 1201,6 3,62 1444,2 4,31 1512,9 4,2
KTTĐ nam bộ 3056,8 9,2 3092,6 9,24 3158,9 8,78
ĐBSCL 6611,1 19,52 7342 21,94 7833,4 21,78
(Nguồn : Điều tra lao động việc làm 1990-1998, TCTK)
Quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời là quá trình
diễn ra sự tích tụ chuyên môn hoá sản xuất và chuyên môn hoá lao
động trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, các vùng
chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp, các khu đô thị mới xuất hiện
dẫn đến sự thay đổi về cơ cấu lao động giữa các vùng.
Trong thời gian qua trên phạm vi cả nước đã có những tiến bộ
trong việc phân bố lao động cho các vùng lãnh thổ theo chiều hướng
tích cực ở các vùng chậm phát triển khó khăn, dân cư thưa thớt, thiếu
lao động nhưng lại tài nguyên phong phú có chiều hướng tăng lên. Tỷ
trọng lao động của Tây nguyên tăng lên từ 3,62% năm 1990 lên 4,2
năm 1998. Còn các vùng động dân cư lại có xu hướng giảmnhw đồng
bằng sông hồng.
2.3. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo nghành
Đơn vị : 1000
1996 1998 2000
Tổng số
%
33819,9
17
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
(Nguồn : Niên giám thống kê 1996-2000, NXB Thông kê)
Qua biểu ta thấy cơ cấu lao động theo ghành kinh tế nước ta đã
có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực : Tỷ trọng nông nghiệp giảm
từ 69,8%(1996) xuống 63,1%(2000), lao động các nghành Công
nghiệp xây dựng, TMDV tăng lên trong đó nhanh nhất là lao động
dịch vụ từ 19,65%(1996) lên 23,9%(2000).
2.4. Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế
ơn vị : 1000 người
LĐ làm việc
nền KTQD
Khu vực nhà
nước
Khu vực ngoà
nhà nước
Số TĐ % Số TĐ % Số TĐ %
Năm 1995
1/4/1999
34606
36419
100
100
3011
4013
8,5
11
31595
17%(1999), còn vùng tây nguyên tăng từ 4,31% (1995) lên 5,36%
(1999). Như vậy ta thấy đào tạo nghề đã tạo ra 1 lực lượng lao động
lớn có trình độ (số lao động có chuyên môn kỹ thuật năm 2000 là
5992,5 nghìn người chiếm 15,51% tổng số lao động. Thành quả này
của đào tạo nghề đã giúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
nhanh hơn.
Tuy nhiên chuyển dịch cơ cấu lao động cũng tác động đến công
tác đào tạo nghề, sự chuyển dịch cơ cấu lao động nhanh và sâu sẽ tạo
ra một mạng lưới đào tạo nghề rộng khắp và ngày càng có chất lượng.
Tính hết năm 2001 nước ta đã có 248 trường tăng 119 trường so với
năm 1998, quy mô học sinh đào tạo nghề dài hạn tăng từ 57.000 người
năm 1997 lên 126.000 năm 2001( tăng bình quan là 22%/năm). Quy
mô đào tạo nghề ngắn hạn tăng từ 390.000 người (1997) lên 761.000
người (2001).
Ta thấy đào nghề có một vai trò rất quan trọng đối với chuyển
dịch cơ cấu lao động ở nước ta, nó thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ
cấu lao động diễn ra rộng và sâu hơn. Còn chuyển dịch cơ cấu lao
động sẽ tạo ra một nhu cầu về lao động có trình độ giúp tạo ra một
mạng lưới rộng khắp các trường đào tạo nghề với số lượng người tham
gia đông đảo.
Như vậy đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động có mối
quan hệ rất mật thiết và hợp tác lẫn nhau. Thiéu một cái thì cái kia khó
có thể đạt được kết quả như mong muốn.
,lành nghề trình độ cao ) ngay trong hệ thống dạy nghề và liên thông
giữa các cấp trình độ trong hệ thống đào tạo nhân lực nhằm tạo động
lực ,điều kiện ,con đường phấn đấu vươn lên của người học nghề.
II. Mục tiêu của đào tạo nghề :
- Về mục tiêu chung :
+Đào tào và bồi dưỡng nhân lực kỹ thuật với chất lượng cao,với quy
luật và cơ cấu nghành nghề hợp lí phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước và hội nhập .
20
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
+Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề gắn với đào tạo việc làm ,với sử
dụng phấn đấu đến năm 2010 sẽ có khoảng 80% lao động có việc làm
sau khi đào tạo .
+Cải tổ hệ thống giáo dục nghề nghiệp để (1) Hình thành mạng lưới
rộng khắp với quy mô và số cơ sở trọng điểm hợp lí nhằm vừa đáp ứng
nhu cầu đào tạo đại trà vừa đáp ứng nhu cầu đào tạo mũi nhọn .(2) Tổ
chức đào tạo đa dạng ,linh hoạt ,liên thông để đáp ứng nhu cầu học tập
suốt đời của người lao động .(3)Bộ máy quản lí được tổ chức năng
động ,đơn giản ,gọn nhẹ nhưng đủ mạnh để quản lí hệ thống và phải
dành quyền chủ động cho các cơ sở đào tạo trong điều kiện luôn biến
động của thị trường.
- Về mục tiêu cụ thể :
+Phấn đấu đến năm 2005 mỗi địa phương có ít nhất một trường dạy
nghề và đế năm 2010 mỗi quận huyện có ít nhất một trung tâm dạy
nghề trên địa bàn
+Đến năm 2005 phấn đấu có 20 trường trọng điểm và đến năm 2010
có 45 trường trọng điểm.
+Nâng tỷ lệ thu hút học sinh sau THCS vào học nghề từ 6% năm 2000
lên 15% năm 2010
động được đào tạo hàng năm.
- Cấp II:Lành nghề-đào tạodài hạn .Lao động được đào tạo ở cấp độ
này chủ yếu để phục vụ nhu cầu sử dụng cho các khu công nghiệp,khu
chế xuất ,những dây chuyền sản xuất sử dụng công nghệ cao ,phục vụ
nhu cầu xuất khẩu lao động và chuyên gia.
- Cấp III: Lành nghề trình độ cao -đào tạo kĩ sư thực hành ,kĩ thuật
viên cao đẳng,thợ cả .Theo yêu cầu phát triển của công nghệ sản xuất
,theo xu thế quốc tế ,để hội nhập ,cạnh tranh trên thị trường lao động
trong và ngoài nước,trong một số lĩnh vực có trình độ tay nghề cao
cùng với chuyên môn kỹ thuật ở bậc trung cấp và cao đẳng .Vì vậy hệ
thống đào tạo nghề cần sớm tổ chức đào tạo lao động ở cấp trình độ
này.Lao động được đào tạo ở cấp trình độ này có khả năng vận hành
các thiết bị tiên tiến, hiện đại và có năng lực xử lí các tình huống trong
sản xuất.
Theo hướng này các cơ sở đào tạo nghề sẽ bao gồm các trung
tâm ,các trường dạy nghề và một số trường trung học kĩ thuật ,cao
đẳng công nghệ đào tạo lao động kỹ thuật đa hệ.
b.Quy hoạch mạng lưới :
Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển theo hướng xã hội hoá,đa
dạng hoá ,linh hoạt ,năng động thiết thực ,thích ứng với cơ chế thị
trường và bao gồm các cơ sở đào tạo công lập ,ngắn hạn và dài hạn
.Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề không chỉ đảm bảo tính hợp lí về quy
mô đào tạo, nghành nghề đào tạo ,trình độ đào tạo mà còn phải đáp
ứng nhu cầu theo vùng ,phát triển với một quy mô và tốc độ hợp lí
nhằm thực hiện mục tiêu phân luồng sau THCS và THPT,đáp ứng nhu
cầu đào tạo và đào tạo lại của người lao động.Lựa chọn và xây dựng
một số trọng điểm.Hình thành và phát triển đào tạo công nhân kỹ thuật
lành nghề trình độ cao theo yêu cầu phát triển của một số nghành ,theo
chuẩn mực chung của khu vực và quốc tế.Đồng thời cũng cần xây
dựng nguyên tắc đầu tư phát triển mạng lưới dạy nghề phù hợp với
hiện.
Phát triển đào tạo thông qua hợp tác quốc tế: Mở rộng hợp tác
quốc tế trong việc xây dựng các trờng trọng điểm chất lợng cao ; đào
tạo công nhân kĩ thuật, nhân viên nghiệp vụ cho một số nghành mũi
nhọn;đào tạo giáo viên;trao đổi chuyên gia,cán bộ quản lí ;gửi học sinh
đi đào tạo ở nớc ngoài
Hoàn thiện hệ thống chính sách và các văn bản pháp quy
* Chính sách đầu t cho đào tạo nghề:Hoàn thiện chính sách đầu t cho
đào tạo nghề nhằm khắc phục tình trạng phân tán ,dàn trải kém hiệu
quả nh hiện nay,đảm bảo thực hiện quy hoạch kế hoạch phát triển đào
23
Đề án KTLD Đỗ Thanh Bình
tạo nghề đã đợc phê duyệt .Xây dựng các chính sách cơ chế khuyến
khích thu hút đầu tu trong và ngoài nuớc cho lĩnh vục dạy nghề.
Hoàn thiện và đổi mới các chính sách về đãi ngộ ,đào tạo và bồi
duỡng cho giáo viên .Hoàn chỉnh nhũng quy định về chơng trình giáo
trình theo hớng tạo thế chủ động cho cơ sở đào tạo ,gắn đào tạo với
nhu cầu.Xây dựng chính sách về quy định trách nhiệm nghĩa vụ và
quyền lợi của các đơn vị sản xuất kinh doanh, ngời sủ dụng lao động
đối với đào tạo nghề .
*Chính sách tạo động lực cho ngời học :Xây dựng và ban hành chính
sách thu hút học sinh vào học nghề đặc biệt là những nghề nặng nhọc
và độc hại.
*Xuất phát từ những nhu cầu đặt thù của đào tạo nghề ,để hệ thống
đào tạo nghề vận hành và phát triển đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng
cần thiết phải tiến hành xây dựng và ban hành luật dạy nghề.
Xây dựng năng lực đào tạo và quản lí hệ thống
- Đào tạo và bồi dỡng đội ngũ giáo viên : đào tạo và bồi dỡng đội ngũ