Thực trạng công tác đào tạo nghề cơ khí của khoa cơ điện trường trung cấp nghề dân tộc nội trú huyện Tri Tôn hiện nay - Pdf 28

MỤC LỤC

Trang
A. Mở đầu 2
B. Nội dung
Chương 1: Quan niệm về đào tạo nghề cơ khí và chủ trương đào tạo
nghề cơ khí ở trường dân tộc nội trú hiện nay
1.1. Quan niệm về đào tạo nghề cơ khí và sự cần thiết phải đào
tạo nghề cơ khí hiện nay.
a. Quan niệm về đoà tạo nghề cơ khí………………………………………
b. Sự cần thiết phải đào tạo nghề cơ khí ở các trường dân tộc nội trú hiện
nay………………………………………………………………………
1.2. Những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tác
đào tạo nghề cơ khí trong các trường dân tộc nội trú ở nước ta hiện nay
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề cơ khí của khoa cơ điện trường trung cấp
nghề dân tộc nội trú huyện Tri Tôn hiện nay
2.1. Khái quát đặc điểm chủ yếu về tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động đào
tạo nghề cơ khí của khoa cơ điểnường trung cấp nghề dân tộc nội trú huyện Tri Tôn
hiện nay.
a. Đặc điểm về sự hình thành, cơ cấu tổ chức bộ máy……………………
b. Đặc điểm về phương thức hoạt độngđào tạo nghề cơ khí ………….
-1-
2.2. Thực trạng công tác đào tạo nghề cơ khí của khoa cơ điện trường dân tộc nội
trú huyện tri Tôn từ năm ….đến nay
2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân.
a. Những kết quả đạt được…………………………………….
b. Những nguyên nhân đạt được…………………………
2.2.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân.
a. Những hạn chế, yếu kém………………………
b. Nguyên nhân hạn chế, yếu kém………………….
Chương 3: Mục tiêu, yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cơ khí

đồng bào dân tộc ít người sinh sống. Có thể nói đây là một chủ trương đúng đắn
mang đậm ý nghĩa nhân văn của Đảng và nhà nước ta. Hiện nay công tác đào tạo
nghề cơ khí tại trường trung cấp nghề Dân Tộc Nội Trú An Giang gặp rất nhiều khó
khăn, đó là vấn đề trăn trở của tôi bởi vì sau khi học xong ra trường các em phải có
đủ kiến thức, tay nghề tương đối ổn định để có thể tiếp cận với sự tiến bộ của khoa
-3-
học công nghệ hiện nay không? bởi vì sự tiến bộ của khoa học công nghệ nó thay đổi
hàng ngày, hàng giờ, mà vấn đề đào tạo nghề cơ khí tại trường trung cấp nghề Dân
Tộc Nội Trú An Giang gặp khó khăn về nhiều yếu tố như: về yếu tố con người, đa số
các kỹ sư cơ khí ra trường đi làm ở các công ty xí nghiệp có thu nhập rất cao còn lại
một số ít mới đi về các trường dạy nghề, trường trung cấp nghề Dân Tộc Nội Trú An
Giang cũng vậy hiện nay nhà trường rất thiếu đội ngũ giáo viên ở lĩnh vực cơ khí, còn
các thiết bị dạy nghề thì còn thiếu thốn rất nhiều vì trường vừa thành lập hơn một
năm, một số thiết bị dạy nghề được trang bị để dạy nghề thì được đầu tư không đồng
loạt có nghề cần thiết bị thì lại thiếu thốn còn những nghề chưa cần đào đạo lại dư
thừa thiết bị vì các thiết bị chủ yếu được cấp trên phân bổ về trường dẫn đến trang
thiết bị được trang bị để dạy nghề không đồng bộ, một yếu tố lớn nữa là đội ngũ giáo
viên còn hạn chế về trình độ, đa số giáo viên là từ lĩnh vự giáo dục phổ thông sang
công tác đào tạo nghề rất mới mẽ còn lại đa số giáo viên mới ra trường kinh nghiệm
giảng dạy lại không có, chưa được đào tạo chuyên sâu dẫn đến kết quả chất lượng đào
tạo nghề cơ khí của khoa cơ điện nói riêng và của cả trường nói chung còn non kém.
Xuất phát từ thực trạng trên nên tôi mạnh dạn viết đề tài này để nêu ra những hạn chế
và những biện pháp khắc phục để công tác đào tạo nghề cơ khí tại trường trung cấp
nghề Dân Tộc Nội Trú An Giang ngày càng có chất lượng hơn, góp phần giải quyết
việc làm của các em sau khi tốt nghiệp ra trường với kiến thức và kỹ năng nghề được
trang bị tại trường các em có thể tự tạo việc làm để tăng thu nhập cho gia đình hoặc
các em có đủ kiến thức để tiếp tục học ở trình độ cao hơn khi có điều kiện. Tuy nhiên
trong thời gian hoạt động rất ngắn không thể nào nói hết được những khó khăn và các
biện pháp khắc phục được đầy đủ mà lĩnh vực cơ khí đa dạng, trường mới thành lập
nên đề tài trong lĩnh vực cơ khí của khoa cơ điện chỉ giới hạn trong một nghề cơ khí

Về mặt lý thuyết, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững phải
dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản:
+ Áp dụng công nghệ mới.
+ Phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại.
+ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính
là những con người được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có kỹ năng nghề cao. Trong
bối cảnh các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực khác là hữu hạn và ngày càng có nguy
cơ cạn kiệt, thì nguồn nhân lực có chất lượng chính là vũ khí mạnh mẽ nhất để giành
thắng lợi trong cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Nguồn nhân lực chất lượng cao, là
những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh
nghiệm, năng lực sáng tạo. Năng lực thực hiện này chỉ có thể có được thông qua đào
tạo nghề và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, ngay cả việc
tích lũy kinh nghiệm này cũng dựa trên nền tảng là đào tạo nghề nghiệp cơ bản. Như
vậy, có thể thấy vai trò quyết định của đào tạo nghề đối với việc hình thành và phát
triển năng lực thực hiện của con người. Trên cơ sở năng lực này, người lao động có
khả năng thích ứng được với những thay đổi của công nghệ và nền kinh tế ( cả tích
cực và tiêu cực), điều này góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế
bền vững, từ đó tạo ra nền tảng vật chất cơ bản để thực hiện các chính sách an sinh xã
hội.
Vai trò của đào tạo nghề nghiệp đối với đảm bảo an sinh xã hội xuất phát từ
khía cạnh lợi ích cá nhân của con người. Lý thuyết về vốn nhân lực hiện đại cho rằng
“tất cả các hành vi của con người đều xuất phát từ những nhu cầu lợi ích kinh tế cho
chính các cá nhân hoạt động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh”, các cá
nhân đầu tư vào đào tạo nghề nhằm tích luỹ những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp,
những cái có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó và đó là nhân tố cơ bản cho sự phát
-6-
triển bền vững. Như vậy đầu tư cho đào tạo nghề chính là sự đầu tư cho từng cá nhân
và dưới gốc độ xã hội, tạo ra chất lượng nguồn nhân lực với các “tầng” khác nhau
(trình độ cao, trình độ phổ quát, đại trà) và do đó, mang lại không chỉ lợi ích kinh tế

Trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Việt nam 2011-2020, đã nêu rõ:
“Đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thể
giới;… lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã
hội”. Đây là một định hướng rất rõ ràng về phát triển kinh tế- xã hội đất nước, trong
đó khẳng định vai trò của đào tạo nghề đối với việc đảm bảo an sinh xã hội. Mục
tiêu tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề là tiền đề, là điều kiện và cơ hội
để người lao động có được công ăn, việc làm tử tế, có thu nhập ổn định. Khi người
lao động có kỹ năng nghề nghiệp thì họ có cơ hội tốt hơn tham gia vào thị trường lao
động và như vậy, làm tăng tỷ lệ người lao động có việc làm, điều này cũng đồng
nghĩa với tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ nghèo của lực lượng lao động giảm xuống. Đào tạo
nghề, như đã nêu trên, giúp cho những đối tượng yếu thế trong xã hội, nhất là những
người nghèo, đặc biệt là người nghèo ở nông thôn có được kỹ năng nghề nghiệp cần
thiết, từ đó vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo một cách bền vững.
Ở các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa, nhu cầu của nền kinh tế công
nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp
cao, có khả năng làm chủ được các phương tiện, máy móc, làm chủ được công nghệ.
Quá trình công nghiệp hóa dài hay ngắn, ngoài các yếu tố về cơ chế, chính sách và
thể chế, phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ lao động kỹ thuật này. Đây có thể nói là
nhu cầu khách quan của nền kinh tế, đòi hỏi Chính phủ các nước phải đầu tư cho đào
tạo nghề. Trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đòi hỏi quy mô và cơ cấu
giáo dục- đào tạo nghề và qua đó đòi hỏi quy mô và cơ cấu nhân lực kỹ thuật khác
nhau. Nếu như ở thời kỳ phát triển thấp, cơ cấu giáo dục – đào tạo theo trật tự ưu tiên
-8-
sẽ là giáo dục phổ thông- giáo dục nghề nghiêp và giáo dục đại học ( và cơ cấu nhân
lực sẽ là lao động phổ thông- công nhân kỹ thuật bậc thấp và bậc trung- lao động kỹ
thuật bậc cao và lao động quản lý); thì ở thời kỳ nền kinh tế phát triển cao ( nhất là
trong nền kinh tế tri thức) , cơ cấu trên sẽ là giáo dục đại học- giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục phổ thông ( và cơ cấu nhân lực sẽ là lao động kỹ thuật bậc cao và lao
động quản lý- công nhân kỹ thuật bậc trung và bậc thấp- lao động phổ thông) hoặc
trong thời kỳ….Ngược lại, đào tạo nghề lại là động lực thúc đẩy sự nghiệp công

người, ngành cơ khí có một lịch sử phát triển lâu đời nhất, cùng với sự phát triển của
loài người (ngay từ thuở bộ tộc, dùng những công cụ bằng đá, kim loại để kiếm sống)
đến một xã hội hiện nay (con người đã có những chuyến bay vào không gian). Tiếp
tục trong những thế kỷ tới, ngành cơ khí vẫn là ngành nghề cơ bản và mang tính sống
còn của loài người. Nhìn chung, theo xu hướng đào tạo chung của thế giới thì ngành
cơ khí được chia ra làm hai nhóm có quan hệ mật thiết với nhau:
Thứ 1. Nhóm ngành kỹ thuật Cơ khí và hệ thống: bao gồm các nhóm ngành
về thiết kế sản phẩm, dịch vụ liên quan đến Cơ khí; xây dựng các công cụ hỗ trợ sản
xuất; quản lý hệ thống một cách hiệu quả nhằm nâng cao năng lực sản xuất.
Thứ 2. Nhóm ngành công nghệ chế tạo: gồm các chuyên ngành về chế tạo,
lắp ráp, vận hành, bảo trì hệ thống sản xuất; robots phục vụ sản xuất, dịch vụ; thiết
kế, chế tạo phương tiện giao thông vận tải (ô tô, tàu thủy, máy bay, phi thuyền…),
quân sự, không gian; tự động hóa quá trình sản xuất. Hiện nay nhóm này đang mở
rộng thêm một số ngành về kỹ thuật y sinh, sản phẩm phục vụ cho công tác điều trị
tại các bệnh viện. Dù chia hai nhóm nhưng trong bất kỳ một công ty sản xuất sản
phẩm thì luôn phải có hiện diện của hai nhóm kỹ sư này kết hợp, hỗ trợ nhau hết sức
-10-
chặt chẽ.
b.Sự cần thiết phải đào tạo nghề cơ khí ở các trường Dân tộc nội trú hiện nay.
Kỹ thuật cơ khí là ngành phục vụ trong các lĩnh vực kỹ thuật và quản lý về sử
dụng, bảo trì, thiết kế, chế tạo, nghiên cứu các loại máy móc, thiết bị, dây chuyền
công nghệ phục vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau như chế biến lương thực, thực
phẩm, thủy hải sản, lâm sản; công nghiệp ô tô, xe máy; công nghiệp hóa chất, phân
bón Công nghệ cơ khí luôn là một trong những ngành then chốt đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội trên toàn thế giới. Ngày nay, tất cả các máy móc vận hành trong
các dây chuyền sản xuất, hoạt động ở mọi nơi (trên và dưới mặt đất, trên mặt biển,
dưới đáy biển, trên trời, ngoài vũ trụ…) đều có sự đóng góp lớn của các nhà khoa
học, các tổng công trình sư, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật , công nhân cơ khí.
Điều kiện làm việc và cơ hội nghề nghiệp: Những người được đào tạo về cơ khí có
thể làm việc ở mọi nơi trên đất nước họ và các nước khác trên thế giới trong mọi

nghệ ngày một tốt hơn. Họ cũng dành nhiều thời gian xuống phân xưởng để trực tiếp
quan sát, rút kinh nghiệm.
- Cán bộ tư vấn và chuyển giao công nghệ: Là những chuyên gia giàu kinh nghiệm,
trực tiếp tư vấn hoặc chuyển giao công nghệ cho các Bộ, ngành, cơ quan Nhà nước,
các công ty, nhà máy…, lựa chọn nhập khẩu các dây chuyền thiết bị chất lượng, đem
lại hiệu quả kinh tế tốt nhất.
1.2.Những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về
đào tạo nghề cơ khí trong các trường Dân tộc nội trú ở nước ta hiện nay.
-12-
- Theo Luật giáo dục 2005:
Điều 32. Giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp bao gồm:
1. Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có
bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt
nghiệp trung học phổ thông;
2. Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ
một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.
Điều 33. Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp
Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng
nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ
luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có
khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an
ninh.
Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực
hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng
dụng công nghệ vào công việc.
Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng
lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo.
Trong điều 7 của Luật dạy nghề được quốc hội khoá IX, kỳ họp lần thứ 10

lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phổ cập nghề cho người
-14-
lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm
nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội. Các mục tiêu cụ thể: nâng tỷ lệ lao động
qua đào tạo nghề đạt 40%, tương đương 23,5 triệu người vào năm 2015 và 55% vào
năm 2020, tương đương 34,4 triệu người.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CƠ KHÍ CỦA KHOA
CƠ ĐIỆN TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ HUYỆN TRI TÔN TỪ NĂM 2010 –
2012
2.1.Khái quát đặc điểm chủ yếu về tổ chức bộ máy và phương thức hoạt
động đào tạo nghề cơ khí của Khoa cơ điện trường Dân tộc nội trú huyện Tri
Tôn hiện nay
a.Đặc điểm về sự hình thành, cơ cấu tổ chức bộ máy.
Trường Trung cấp nghề Dân tộc Nội trú tỉnh An giang được thành lập theo
quyết định số 1886/QĐ-UBND và Quyết định sô 1738/QĐ-UBND của Ủy ban nhân
dân tỉnh An Giang về việc thành lập Trường Trung cấp nghề Dân tộc Nội trú tỉnh An
giang trên cơ sở nâng cấp từ Trung tâm dạy nghề của Huyện Tri Tôn, trụ sở chính của
trường đặt tại ấp Tô Hạ, Xã Núi Tô, Huyện Tri Tôn, Tỉnh An giang, đây là một xã rất
khó khăn về kinh tế. Trường Trung cấp nghề Dân tộc Nội trú tỉnh An giang được khởi
công xây dựng từ tháng 02 năm 2009 với tổng diện tích của trường là 31.275 m2 và
tổng mức đầu tư xây dựng theo dự án là 82,4 tỷ đồng. Đối với đồng bào dân tộc thiểu
số của hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên khi trường Trung cấp nghề Dân tộc Nội trú An
giang được Tỉnh và Trung ương tập trung đầu tư xây dựng, cùng với các chính sách
ưu đãi đặc thù sẽ thu hút, thúc đẩy công tác dạy và học nghề phát triển nhanh trong
thời gian tới của hai huyện Tri tôn và tịnh Biên nói riêng và người dân tộc thiểu số cả
tỉnh nói chung, Trường chỉ xét tuyển đầu vào ưu tiên cho các con em người dân tộc
không riêng gì về khơmer mà cả người dân tộc thiểu số Chăm … đang sinh sống ở
-15-
các huyện: Tri tôn, Tịnh Biên, Tân Châu, Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn.

bào thì khoong mở lớp được vì trường mới thành lập được sự hổ trợ 100% từ
ngân sách của nhà nước nên máy móc không được trang bị đầy đủ cho cả lĩnh
vực cơ khí.
Hình thức đào tạo của nhà trường là các em học sinh phải học song song
các môn văn hoá với các môn học- mô đun nghề , cho nên đây cũng là khó
khăn cho khoa cơ điện trong việc giảng dạy, bởi vì học sinh khi tiếp cận với với
các môn học nghề các em phải được trang bị một lượng kiến thức văn hoá
tương đối vững vàng mới có đủ điều kiện học được các môn học nghề, đồng
thời đối tượng đầu vào của trường chỉ là xét tuyển kiến thức văn hoá chưa
trang bị đầy đủ học sinh không thể tiếp thu các kiến thức khoa học xã hội và
mang tính thực tiển ứng dụng trong đời sống và trong sản xuất làm cho chất
lượng đào tạo của nghề Hàn gặp rất nhiều khó khăn.
Một vấn đề đặt ra nữa là đối tượng tuyển sinh của trường trung cấp nghề
Dân tộc Nội trú An giang là học sinh dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp trung học
phổ thông và tốt nghiệp trung học sơ sở điều được xét tuyển vào học tại trường
nhưng chỉ có 96% học sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông nên nhà trường
phải lựa chọn phương án đào tạo theo hệ trung học cơ sở như vậy các em đã tốt
ghiệp trung học phổ thông sau khi được trúng tuyển vào ngành nghề mình đã
chọn chỉ học 1 đến 3 môn học/ môđun nghề trong học kỳ, không tham gia học
văn hoá trong chương trình lớp 10,11,12 đây cũng là vấn đề gặp khó khăn
trong việc duy trì sĩ số của lớp hàn.
-17-
Ngày nay, có hàng ngàn loại máy móc thiết bị phục vụ cho nhiều mục
đích khác nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như nông nghiệp,
công nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc…như máy tiện, máy phay,
máy bào, máy đóng hộp, máy gặt đập liên hợp, xe tải, xe container, xe ô tô,
máy xúc, tàu thủy, máy bay Các loại máy móc, phương tiện trên là đối tượng
của nghề Hàn.
* Sự phù hợp nghề:
- Học ngành này trong quá trình thực tập thường xuyên phải tiếp xúc với dầu

- Kỹ năng xây dựng bản vẽ kỹ thuật cơ khí trên máy tính bằng phần mềm
AUTO CAD
- Kỹ năng xác định chức năng, định vị các chi tiết máy.
- Kỹ năng vận hành các máy : tính toán, xác định hỏng hóc, đề xuất cải tiến kỹ
thuật.
- Kỹ năng chuẩn đoán hệ thống điện điều khiển: kiểm tra, điều chỉnh, sửa chữa
hệ thống điện điều khiển động cơ, hệ thống truyền động.
- Kỹ năng tháo lắp, kiểm tra, sửa chữa, khảo nghiệm, vận hành các hệ thống
điện động cơ được trang bị trên các máy công cụ. Chẩn đoán, tìm pan và khắc
phục các hư hỏng cho hệ thống điện động cơ đạt yêu cầu kỹ thuật cao trong
thời gian ngắn nhất.
- Kỹ năng tháo lắp các máy móc thiết bị cơ khí.
Cơ hội nghề nghiệp:
Học sinh tốt nghiệp ngành này có thể đảm nhận công việc tại các vị trí :
- Vị trí vận hành, giám sát sản xuất phụ tùng, phụ kiện và lắp ráp máy móc
thuộc lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp…;
-19-
- Vị trí điều hành, giám sát tại các cơ sở sửa chữa ô tô-máy động lực;
- Vị trí kiểm định tại các trạm đăng kiểm;
- Vị trí kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực cơ khí, máy
động lực, phụ tùng.
2.2.Thực trạng công tác đào tạo nghề cơ khí của khoa cơ điện trường Dân
tộc nội trú huyện Tri Tôn từ năm 2010 – 2011.
2.2.1.Những kết quả đạt được và nguyên nhân.
a.Những kết quả đạt được.
- Về sĩ số:
Nghề
Thời gian
Hàn khoá 1 Hàn khoá 2 Ghi chú
Đầu khoá học 30 hs 30 hs

đo lường
Tỉ lệ
Giỏi / / /
Khá 7 5 7
Trung
bình
8 10 9
Yếu
Kém
1 1 /
Lớp Hàn khoá 2:

n
Vẽ kỹ thuật Tỉ lệ An toàn lao
động
Tỉ
lệ
Vật liệu Tỉ lệ
-21-
Loại
cơ khí Cơ khí
Giỏi 1 1 1
Khá 7 5 8
Trung
bình
10 12 9
Yếu
Kém
/ / / / / /
Nhận xét đánh giá:

- Trình độ văn hoá các em còn thấp,
- Tiếng việt của một số em sống trong phum, sóc phát âm tiếng việt chưa
chuẩn.
- Các em chưa trao đổi ngôn ngữ với nhau bằng tiếng việt nhiều, chủ yếu bằng
khơmer ngữ.
- Ý thức học tập chưa cao một số em không đi học tham gia gặt lúa, làm rẫy
giúp gia đình.
- Đa số học sinh có hoàn cảnh kinh tế gia đình nghèo khó, một số em không có
xe đi học phải nghĩ ở nhà.
-23-
- Đa số học sinh ở cách xa trường trên 10 km nên dẫn đến duy trì sĩ số gặp khó
khăn, nếu ở lại học các giờ buổi chiều thì các em không đủ tiền cho việc ăn uống
trong tháng đó vì mỗi tháng các em chỉ nhận khoảng vài trăm ngàn.
- Đội ngũ giáo viên còn non trẻ, kinh nghiệm truyền đạt kiến thức khoa học
đến học sinh chưa cao.
CHƯƠNG 3
MỤC TIÊU, YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CƠ KHÍ CỦA KHOA CƠ ĐIỆN TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI
TRÚ HUYỆN TRI TÔN ĐẾN NĂM 2015
3.1.Mục tiêu, yêu cầu của việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cơ khí
của Khoa cơ điện trường Dân tộc nội trú huyện Tri Tôn đến năm 2015
- Mục tiêu tổng quát………đến năm 2015.
Các học sinh ra trường phải có tay nghề bậc thợ tương đương bậc 1/7.
Đảm bảo 80% học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường có khả năng tự tạo việc
làm bằng cách mở các tiệm gia công nghề cơ khí Hàn hoặc có đủ khả năng chuyên
môn , tay nghề để tham gia học tiếp các lớp đào tạo liên thông lên cao đẳng, đại học
hoặc tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất tại các công ty, xí nghiệp hiện có trên
địa bàn huyện Tri Tôn, Tịnh Biên đảm bảo an sinh xã hội.
Có kế hoạch bổ xung kiến thức, tay nghề, ôn thi để 20% học sinh sau khi tốt
nghiệp ra trường có khả năng học tiếp tục ở bậc học cao đẳng, đại học nhằm nâng cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status