Báo cáo văn học Tiếng vang và cái bóng Khảo luận nhan đề Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (qua ngữ liệu chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ) - Pdf 28

TIẾNG VANG VÀ CÁI BÓNG: KHẢO LUẬN NHAN ĐỀ
VANG BÓNG MỘT THỜI CỦA NGUYỄN TUÂN
(qua ngữ liệu chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ)
1ThS. Nguyễn Tuấn Cường
Khoa Văn học, Trường ĐH KHXH&NV

I. Nhìn lại các quan điểm về “vang bóng”
Tác phẩm Vang bóng một thời (1940) của Nguyễn Tuân (1910-1987) khiến người ta
phải chú ý từ cái nhan đề trở đi. Chẳng vậy mà đã có nhiều lời bàn đi luận lại lại về cách
hiểu nhan đề này, tập trung chủ yếu vào giải nghĩa từ tổ “vang bóng”. Tựu trung có hai
quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: “vang bóng” là từ tổ danh từ ghép đẳng lập giữa hai danh từ
“vang” (tiếng vang) và “bóng” (cái bóng). Nhiều độc giả của Nguyễn Tuân giữ quan điểm
này, như trong các câu hỏi của độc giả cho mục “Chuyện Đông chuyện Tây” trên tờ Kiến
thức ngày nay (An Chi, 2005).
Xin lưu ý, ngoài trường hợp mà Nguyễn Tuân dùng “vang bóng” làm nhan đề tác
phẩm, còn ít nhất ba trường hợp khác cũng dùng “vang, bóng” mà nhiều người đã chỉ ra:
Nguyễn Tuân viết “vang và bóng ngày kí vãng” (Một chuyến đi, 1938); Vũ Ngọc Phan
viết: “cái tiếng vang của thời đã qua, cái bóng của thời đã qua” (Nhà văn hiện đại, 1942-
1945); Vương Trí Nhàn viết: “tìm lại vang và bóng” (Vang và bóng, biết tìm đâu, 1997)
2
.
Ba trường hợp trên đây đều sử dụng “vang” và “bóng” với tư cách danh từ, tất nhiên trong
hai trường hợp dưới thì Vũ Ngọc Phan và Vương Trí Nhàn đều chịu ảnh hưởng của cách
dùng từ của Nguyễn Tuân.
Quan điểm thứ hai: “vang bóng” là từ tổ vị từ (động từ) ghép chính phụ giữa một vị
từ (vang) và một danh từ (bóng), về mặt thành phần cú pháp thì “vang bóng” cũng có cấu
trúc giống hệt “nổi tiếng”. Học giả An Chi là người chủ trương quan điểm này một cách

cũng không thể nào tạo ra một từ tổ ‘đẳng lập’ mà lại gồm có một vị từ (vang) và
một danh từ (bóng), nghĩa là gồm có hai tiếng thuộc hai từ loại khác nhau vì hiện
tượng này trái hẳn với quy tắc của tiếng Việt” (2005, tr. 81).
- “Vậy chẳng có lẽ Nguyễn Tuân lại không có quyền nói ‘vang bóng’ để dùng vị từ
vang theo ẩn dụ mà chỉ sự diễn tiến kéo dài và lan rộng của sự việc này sự việc
khác trong thời gian và trong không gian, nhất là khi mà ông lại là nhà văn nổi tiếng
về cách dùng từ độc đáo” (2005, tr. 63).
- “Xin thưa rằng lỗi ở đây không tại người đọc mà tại chính nhà văn vì ông đã dùng
từ ngữ không đúng với quy tắc của ngữ pháp”. “… chỉ xin nhấn mạnh rằng riêng
trong trường hợp này
5
thì Nguyễn Tuân đã viết sai ngữ pháp còn Vũ Ngọc Phan thì
lại bất chấp ngữ pháp khi diễn ý như trên
6
” (2005, tr. 116).
- “Vậy vang bóng một thời là đã từng có một thời vàng son huy hoàng nay đã qua đi”
(2005, tr. 117).
Phần trích dẫn trên có lẽ hơi dài dòng, nhưng mục đích là để nhấn mạnh tới những
lập luận rành mạch và cả quyết của tác giả An Chi. Tóm lại, quan điểm của An Chi có thể
lược thuật như sau:
- “Vang bóng” là sáng tạo của Nguyễn Tuân về cách dùng từ tiếng Việt. Đây thật ra
là một quan điểm chung của nhiều người, chứ không riêng gì An Chi.
- “Vang bóng” là từ tổ vị từ + danh từ, “vang” chưa bao giờ là danh từ.
- “Vang bóng một thời” nghĩa là đã từng có một thời vàng son huy hoàng nay đã qua
đi.
Hai bên tranh luận hầu như chỉ dựa vào cảm nhận ngôn ngữ của người ngày nay để
luận giải nhan đề Vang bóng một thời, tác phẩm tính đến nay đã có 70 năm tuổi đời; thảng
hoặc cũng có người trích được đôi ba văn cảnh của bản thân Nguyễn Tuân hay một vài
người cùng hoặc sau thời ông (Vũ Ngọc Phan, Vương Trí Nhàn) có sử dụng “vang, bóng”
nhưng dường như còn chưa đủ để giải nghĩa nhan đề này, bởi trong lập luận của họ, tính

ghi lại bằng chữ Nôm trong văn bản này phản ánh tiếng Việt quãng thế kỉ XVI-XVII, tức
là cách ngày nay trên dưới 400 năm. Theo sở kiến, đây là cứ liệu sớm nhất xuất hiện “bóng
vang” (mà biến thể hoán vị của nó là “vang bóng”, như sẽ chứng minh ở phần sau) trong
tiếng Việt, nó được dùng để dịch từ tổ “ảnh hưởng” trong Hán văn. Ngoài ra, trong văn bản
còn có 2 lần dịch từ “hưởng” thành “tiếng vang”:
- Quyển IV, trang 20a, cột 5-6: “
因 果 之 來 必 爾 形 聲 影 響 - 因
緣 果 報 蒸 吏 乙 丕 如 形





” (Nhân quả chi lai tất nhĩ
hình thanh ảnh hưởng - Nhân duyên quả báo chưng lại ắt vậy như hình tiếng bóng
vang) (Xem Phụ lục Hình 1).
- Quyển III, trang 34b, cột 3-4: “
輒 祈 輒 應 靈 答 如 響 - 率 求 率
應  把 朋



” (Triếp kì triếp ứng, linh đáp như hưởng - Thoắt cầu
thoắt ứng, thiêng trả bằng tiếng vang) (Xem Phụ lục Hình 2)
- Quyển IV, trang 14a, cột 3-4: “
四 方 豪 傑 遠 近 響 應 -  方 几
賢 午 賒  應 朋






(Thượng hành hạ hiệu tiệp ư ảnh hưởng - Người trên làm, kẻ dưới bắt
chước, nhanh hơn bóng vang) (Xem Phụ lục Hình 4)
3. Tam thiên tự giải âm
三千字解音
, Hoàng triều Tân Mão niên (1831), Phú Văn
đường tàng bản, kí hiệu Thư viện Quốc gia R.468. Văn bản này dịch “ảnh” thành “bóng


”, dịch “hưởng” thành “vang


”:
- “Giác sừng – Đề móng – Ảnh bóng – Hình hình…” (tr. 7a)
- “Ba sóng – Hưởng vang – Thê thang – Kỉ ghế…” (tr. 5b)
Trang 7a, cột 1, chữ thứ 8:

Trang 5b, cột 6, chữ thứ 4: 影



(ảnh: bóng)



(hưởng: vang)

Bóng theo hình, vang thuận tiếng. Nghĩa bóng là nói cái gì vô hình mà chuyển động
biến hóa đến cái khác: Người Việt Nam vẫn chịu cái ảnh hưởng văn minh của Tàu”
7. Đào Duy Anh, Giản yếu Hán Việt từ điển (quyển thượng), Imprimerie TIENG DAN,
Huế, 1932, tr. 11, cột 1:
“Ảnh hưởng: Bóng và tiếng vang. Hình sinh ra ảnh, thanh sinh ra hưởng – Nch Quan
liên với nhau, cảm ứng với nhau – Không có thực tại, hư không. Vd. ảnh hưởng chi
đàm”
7
.
8. Ngô Quang Châu, Phải bạo dùng tiếng Việt, in trong tạp chí Tiên Phong (tạp chí của
Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam), số 8 ra ngày 1/4/1946, tr. 20-24
8
:
“Ảnh hưởng. - Ảnh nghĩa là bóng, hình; Hưởng nghĩa là tiếng vang. Nói: ‘Ảnh
hưởng của công cuộc cải cách xã hội’, nói vậy cũng tức như nói: ‘Vang bóng của
công cuộc cải cách xã hội’”.
9. Hoàng Thúc Trâm, Hán Việt tân từ điển, Nhà sách Vĩnh Bảo Sài Gòn, 1951, tr. 22, cột
1:
“Ảnh hưởng: (Ngch) Bóng và vang (bóng theo hình, vang theo tiếng. (Ngr) Việc dấy
lên ở một chỗ, rồi ba cập đến cả xung quanh. Ảnh hưởng văn hóa Đông phương”
9
.
III. Luận giải về “vang bóng”
Từ những ngữ liệu trưng dẫn trên, sau đây xin từng bước cắt nghĩa “vang bóng” từ
các bình diện ngữ nguyên, ngữ pháp và ngữ nghĩa.
1. Về ngữ nguyên: Những ngữ liệu trên cho thấy một sự thực đã kéo dài trên dưới
400 năm qua trong tiếng Việt: từ tổ “bóng vang” (mà biến thể hoán vị là “vang bóng”)
trong tiếng Việt được dùng để dịch từ “ảnh hưởng” (影響) trong Hán văn. “Bóng vang” đã
tồn tại liên tục trong tiếng Việt suốt từ thời Truyền kì mạn lục giải âm cho tới khoảng đầu
thế kỉ XX. Đến năm 1931, tức 9 năm trước Vang bóng một thời

là danh từ; nhưng với những dẫn liệu trên, thiết nghĩ quan điểm của An Chi cần được xem
xét lại. Cấu tạo từ của “ảnh hưởng” trong những văn cảnh của Truyền kì mạn lục giải âm,
Đại học giảng nghĩa, Phải bạo dùng tiếng Việt (đã dẫn) đều là danh ngữ ghép đẳng lập,
vậy không có cớ gì để ép chúng ta phải hiểu “vang bóng” (vốn được dịch từ “ảnh hưởng”)
là từ tổ vị từ.
Chính cái khả năng linh động về trật tự từ giữa “bóng vang” với “vang bóng” cũng
góp phần chứng tỏ “vang bóng” và tất nhiên là cả “bóng vang” không thể là từ tổ vị từ
ghép chính phụ, mà chỉ có thể là từ tổ danh từ ghép đẳng lập, bởi theo nhiều nhà ngữ pháp
học tiếng Việt, nếu là từ tổ vị từ ghép chính phụ thì không thể thay đổi trật tự từ, còn ghép
đẳng lập thì nhiều trường hợp có thể thay đổi trật tự từ
11
. Có thể kể ra rất nhiều ví dụ về
hiện tượng hoán vị trong từ ghép đẳng lập: nhà cửa – cửa nhà, vàng bạc – bạc vàng, bạn
bè – bè bạn, trời đất – đất trời, thề hẹn – hẹn thề, than thở – thở than, mắng nhiếc – nhiếc
mắng, đấu tranh – tranh đấu, đón đưa – đưa đón, khờ dại – dại khờ, giản đơn – đơn giản,
mạnh khỏe – khỏe mạnh… Những trường hợp này xét về bình diện thay đổi trật tự từ thì
không khác gì vang bóng – bóng vang.
Cái kết luận của An Chi rằng “từ ‘vang’ chưa bao giờ là một danh từ” thật ra đã
đúng… một nửa, bởi các ngữ liệu trong Truyền kì mạn lục giải âm, Đại học giảng nghĩa,
Phải bạo dùng tiếng Việt đã chỉ ra một ngoại lệ của kết luận ấy: “vang” sẽ là danh từ nếu
nó đi cùng với “bóng”! Còn bản thân người viết bài này cho đến nay cũng chưa tìm được
trường hợp nào dùng “vang” (độc lập với “bóng”) mà lại có từ loại là danh từ, ngay cả
những ngữ liệu trong Truyền kì mạn lục giải âm cũng dịch “hưởng” (khi dùng độc lập với
“ảnh”) thành “tiếng vang” (đã dẫn) chứ không phải “vang”. Tuy nhiên, “vang bóng” nếu đi
kèm với nhau thì luôn là từ tổ danh từ ghép đẳng lập giữa hai danh từ “vang” (tiếng vang)
và “bóng” (cái bóng).
3. Về ngữ nghĩa: Ngôn ngữ có tính lịch sử của nó, và điều này cần được tôn trọng,
nhất là khi hậu nhân đã có một độ lùi lịch sử đủ xa để có thể dễ dàng hiểu sai lệch cách
dùng từ của tiền nhân. Đối với tiếng Việt, từ đầu thế kỉ XX đến đầu thế kỉ XXI mặc dù thời
gian mới có khoảng 100 năm, nhưng mức độ thay đổi của ngôn ngữ thì không thể xem nhẹ.

Hai cuốn từ điển tiếng Việt hiện đại này đã cắt nghĩa “ảnh hưởng” theo kiểu mới,
“hàn lâm” hơn, tách khỏi truyền thống lí giải xưa (ảnh = bóng, hưởng = vang) như trong
các tư liệu đã dẫn (Tam thiên tự giải âm, Tam thiên tự giải dịch quốc ngữ, Huỳnh Tịnh
Của, hội Khai Trí Tiến Đức, Đào Duy Anh, Ngô Quang Châu, Hoàng Thúc Trâm). Đây
chính là nguyên nhân khiến cho độc giả ngày nay của Nguyễn Tuân khó mà tưởng tưởng ra
mối liên hệ giữa “vang bóng” với “ảnh hưởng”, ngay cả hai nhóm chuyên gia biên soạn từ
điển tiếng Việt hiện đại trên có thể cũng không chú ý đến mối quan liên giữa “ảnh hưởng”
với “vang bóng” để dẫn giải trong từ điển của họ.
Tóm lại, về mặt ngữ nghĩa, để hiểu cách nói “vang bóng” của Nguyễn Tuân, thiết
nghĩ cần phải căn cứ vào cách lí giải của những người cùng thời với ông, cùng sử dụng vốn
từ chung như ông, cần xem họ cắt nghĩa “ảnh hưởng” hoặc “vang bóng” thế nào. Những
người cùng thời ấy chính là Đào Duy Anh, Ngô Quang Châu, Hoàng Thúc Trâm và hội
Khai Trí Tiến Đức (đã dẫn). Qua cách cắt nghĩa của họ, đặc biệt là của nhà từ điển học Đào
Duy Anh, có thể hình dung rằng: từ tổ danh từ ghép đẳng lập “vang bóng” có nguyên ngữ
Hán văn là “ảnh hưởng” (影響), “ảnh” nghĩa là cái bóng, “hưởng” nghĩa là tiếng vang.
“Vang bóng một thời” tức là “ảnh hưởng một thời”, nghĩa đen là “tiếng vang và cái bóng
của một thời”, nghĩa bóng là sự nối dài về cả thời gian (đặc điểm của vang) và không gian
(đặc điểm của bóng), hay sự cảm ứng lan tỏa từ một thời đã qua tới thời hiện tại, thể hiện
qua những dấu ấn văn hóa của ngày xưa còn đọng lại với ngày nay như một niềm “hoài cổ”
và “ôn cố” của một bậc thức giả sống trong thời kì văn hóa dân tộc đang chuyển hình từ cổ
đại sang hiện đại.
Hà Nội, nóng tháng 6/2010
Nguyễn Tuấn Cường
DANH MỤC TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. An Chi, Chuyện Đông chuyện Tây (tập III), NXB Trẻ, 2005.
2. Đại học giảng nghĩa 大學講義 (sách chép tay không ghi niên đại, ước đoán cuối thế kỉ XIX –
đầu thế kỉ XX), kí hiệu sách tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm AB.277.
3. Đái Xuân Ninh, Hoạt động của từ tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, 1978.
4. Đào Duy Anh, Giản yếu Hán Việt từ điển (quyển thượng), Imprimerie TIENG DAN, Huế,
1932.

因 緣 果 報 蒸 吏
乙 丕 如 形




Nhân duyên quả
báo chưng lại ắt vậy
như hình tiếng bóng
vang
III34b:
輒 祈 輒 應 靈 答
如 響 Triếp kì
triếp ứng, linh đáp
như hưởng
率 求 率 應  把




Thoắt cầu
thoắt ứng, thiêng trả
bằng tiếng vang
IV14a:
四 方 豪 傑 遠 近
響 應 Tứ phương
hào kiệt viễn cận
hưởng ứng
 方 几 賢 午 賒
 應 朋

Người trên làm, kẻ
dưới bắt chước,
nhanh hơn bóng
vang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status