Luật thuế giái trị gia tăng và việc thực hiện Luật thuế giái trị gia tăng ở Việt nam giai đoạn 1999 - 2000 - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mở đầu
Bất cứ một Nhà nớc nào muốn hoạt động đợc thì phải có một nguồn tài
chính đảm bảo là ngân sách Nhà nớc. Đặc biệt là với Việt nam, ngân sách
Nhà nớc đóng một vai trò cực kỳ quan trọng bởi chúng ta là nớc đang phát
triển, còn dựa nhiều vào sự giúp đỡ của nớc ngoài. Để nền kinh tế có thể tăng
trởng bền vững đòi hỏi phải phát huy nội lực trong nớc vợt qua những khó
khăn thách thức trong giai đoạn mới. Ngân sách Nhà nớc góp phần tích cực
thực hiện tốt mục tiêu tổng quát về kinh tế - xã hội đã đợc Nghị quyết Đảng
và các hội nghị trung ơng đề ra, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, giữ vững ổn định kinh tế - xã
hội, tập trung phát triển các ngành, các lĩnh vực, các sản phẩm có lợi thế,
nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các bớc
phát triển tiếp theo.
Nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nớc chính là thuế, đó là khoản tài
chính chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách. Năm 1986, nớc ta tiến hành
đổi mới chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng theo
định hớng XHCN, cùng với việc Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nguồn viện trợ
bị cắt giảm đáng kể thì việc thu ngân sách từ thuế càng trở nên quan trọng
hơn, nó thể hiện tinh thần tự lực tự cờng của dân tộc. Từ năm 1990, chúng ta
đã tiến hành cải cách hệ thống thuế và đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể, và
thuế đã thực sự là nguồn thu chủ lực của ngân sách Nhà nớc.
Trớc năm 1999, thuế đánh vào hàng hoá tiêu dùng của chúng ta còn
nhiều điều không hợp lý, nhất là việc đánh thuế trùng đối với các loại hàng
hoá, dịch vụ. Khắc phục tình trạng đó, bắt đầu từ năm 1999 chúng ta đã đa
Luật thuế giá trị gia tăng để thay thế cho thuế doanh thu. Bớc đầu thực hiện
Luật thuế này còn rất nhiều điều cần bàn tới, đặc biệt là vai trò của nó đối với
các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, em đã chọn
đề tài Luật thuế GTGT và việc thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng ở Việt
Nam giai đoạn 1999 - 2000
Bài viết gồm 2 phần:

chuyển sang nhà máy cán thì nó lại bị đánh thuế, tiếp tục thép đã cán khi
chuyển sang nhà máy sản xuất vỏ ô tô thì nó lại bị đánh thuế một lần nữa
kết quả là cơ sở tính thuế là một bội số của GNP, đo đó, chỉ với thuế suất
thấp cũng tạo ra số thu cao. Với cách đánh thuế doanh thu nh vậy đã tạo ra sự
liên kết theo chiều dọc của tổ chức sản xuất để tránh thuế và thủ tiêu sự cạnh
tranh. Nh vậy, việc Nhà nớc áp dụng thuế GTGT nhằm mục đích: khắc phục
những nhợc điểm của thuế doanh thu và áp dụng một cơ chế thu hiện đại hơn
nhằm đảm bảo kích thích sản xuất kinh doanh, tăng cờng đầu t, đổi mới tài
sản cố định và đảm bảo số thu kịp thời, thờng xuyên cho ngân sách Nhà nớc.
1. Lịch sử phát triển của thuế GTGT
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Việc nghiên cứu thuế GTGT đợc tiến hành bắt đầu sau những năm chiến
tranh thế giới thứ nhất do nhà kinh tế học ngời Đức Carlp Rilordrich Sienvens
đề xuất vào năm 1918 nhng không đợc Chính phủ Đức duyệt. Đến năm 1947
thuế GTGT lại đợc đề cập đến trong tác phẩm về cải tổ hệ thống thuế của
nhà kinh tế học ngời Mỹ tên là Chao. ở Nhật Bản một dự án về thuế này đợc
đệ trình ra Quốc hội 1953 nhng không đợc thông qua.
Năm 1954 Pháp là nớc đầu tiên thực hiện thuế GTGT, nhng chỉ mới áp
dụng ở khâu sản xuất. Đến năm 1968 mới mở rộng diện áp dụng. Nếu năm
1988 chỉ có 47 nớc áp dụng thuế GTGT thì đến nay đã có hơn 120 nớc áp
dụng loại thuế này với nhiều tên gọi khác nhau: thuế hàng hoá, dịch vụ
(Canada, Niudilân,) thuế tiêu dùng (Nhật Bản).
Châu Âu là nơi áp dụng sớm nhất và rộng rãi nhất thuế GTGT (tất cả
các nớc EU) nên gọi là thuế của Châu Âu. Sau đến châu Mỹ la tinh cũng
ngày càng nhận thấy vai trò lớn lao của loại thuế này. ở châu á, ngày càng có
nhiều nớc chuyển sang áp dụng thuế GTGT: Triều Tiên (1977), Inđônêxia
(1985), Đài Loan (1986), Philipine (1988), Nhật Bản (1989), Thái Lan
(1991), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994), Singapo (1994)
2. Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT

hoá, dịch vụ bán ra
-
Tổng giá trị hàng hoá,
dịch vụ mua vào
GTGT cho phép cơ sở kinh doanh trả công cho 4 tác nhân chủ yếu đã
tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Đó là:
- Trả tiền lơng, tiền công cho công nhân, nhân viên.
- Trả tiền lãi vay cho ngời vay vốn.
- Nộp thuế cho Nhà nớc.
- Lợi nhuận của chủ sở hữu cơ sở đợc hởng.
Vì tổng GTGT ở tất cả các giai đoạn luân chuyển có giá trị bằng giá bán
của sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng nên việc thu thuế trên GTGT ở từng giai
đoạn đảm bảo cho tổng số thuế thu đợc tơng đơng với số thuế tính trên giá
bán ở giai đoạn cuối.
II. Nội dung cơ bản của thuế GTGT
1. Đối tợng chịu thuế
Luật thuế GTGT và các văn bản hớng dẫn thi hành luật thuế GTGT của
Nhà nớc qui định đối tợng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng sản
xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt nam
Hàng hoá chịu thuế GTGT bao gồm:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Hàng hoá, dịch vụ đợc sản xuất và tiêu dùng trong nớc.
- Hàng hoá, dịch vụ đợc nhập khẩu để tiêu dùng trong nớc.
- Hàng hoá, dịch vụ đợc sản xuất và tiêu dùng nội bộ.
- Hàng hoá, dịch vụ đợc mua, bán dới mọi hình thức, bao gồm cả trao
đổi bằng hiện vật (không thanh toán bằng tiền).
Mặc dù thuế là một khoản thu bắt buộc, nhng với chức năng là công cụ
điều tiết thị trờng của Nhà nớc, thuế còn có khả năng kích thích sản xuất, tạo
môi trờng thuận lợi nên Nhà nớc luôn có chính sách sao cho sử dụng công cụ

- Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu, cộng với
thuế nhập khẩu;
Ví dụ: Cơ sở nhập khẩu ti vi nguyên chiếc, giá tính thuế nhập là
2.000.000 đồng/chiếc. Thuế suất thuế nhập khẩu là 30%, thuế suất thuế
GTGT là 10%.
Thuế nhập khẩu phải nộp là 2.000.000đ x 30% = 600.000đ
Giá tính thuế GTGT là: 2.000.000đ + 600.000đ = 2.600.000đ
Thuế GTGT phải nộp là: 2.600.000đ x 10% = 260.000đ
Trờng hợp hàng hoá nhập khẩu đợc miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá
tính thuế GTGT là giá hàng hoá nhập khẩu cộng thuế nhập khẩu xác định
theo mức thuế đã đợc miễn, giảm.
Đối với dịch vụ do phía nớc ngoài cung ứng cho các đối tợng tiêu dùng
ở Việt nam, giá cha có thuế đợc xác định theo hợp đồng không xác định cụ
thể số thuế GTGT thì giá tính thuế GTGT là giá dịch vụ phải thanh toán trả
cho phía nớc ngoài.
Ví dụ: Công ty A ở Việt nam thuê một công ty ở nớc ngoài thiết kế xây
dựng, giá thanh toán theo hợp đồng phải trả cho công ty nớc ngoài là 100
triệu đ thì công ty A phải tính và nộp thuế GTGT 10% trên giá 100 triệu đ.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu tặng
là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tơng đơng tại
thời điểm phát sinh các hoạt động này;
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ;
- Đối với hàng hoá bán theo phơng thức trả góp là giá bán của hàng hoá,
tính theo giá bán trả một lầm, không tính theo số tiền trả từng kỳ;
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Đối với gia công hàng hoá là giá gia công;
- Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do Chính phủ quy định;
Giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ qui định tại điều này bao
gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh đợc hởng;

4. Phơng pháp tính thuế
Thuế GTGT mà cơ sở kinh doanh phải nộp đợc tính theo một trong hai
phơng pháp: phơng pháp khấu trừ và phơng pháp tính trực tiếp trên GTGT.
4.1. Phơng pháp khấu trừ thuế
4.1.1. Đối tợng áp dụng
Các đơn vị, tổ chức kinh doanh chấp hành tốt công tác hạch toán kinh tế
và chế độ sử dụng hoá đơn chứng từ.
Ưu điểm của phơng pháp khấu trừ thuế:
- Đơn giản hoá đợc quá trình tính và thu thuế bằng cách chỉ cần tập hợp
các hoá đơn bán và mua hàng đã tính sẵn số thuế đầu ra và số thuế đầu vào
trên đó.
- Đảm bảo thu đợc đủ số thuế cần điều tiết ở ngời mua hàng cuối cùng
là vì đây thực chất là phơng pháp lùi số đã nộp để xác định số phải nộp. (Việc
tính theo phơng pháp trực tiếp có thể kết quả sẽ không khớp nếu tính GTGT ở
các khâu không chính xác).
4.1.2. Xác định thuế GTGT phải nộp
Thuế GTGT
phải nộp
=
Thuế GTGT
đầu ra
-
Thuế GTGT
đầu vào
Xác định thuế GTGT đầu ra theo công thức:
Thuế GTGT
đầu ra
=
Giá tính thuế hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế bán ra

dịch vụ bán ra
-
Giá thanh toán của
hàng hoá, dịch vụ mua
vào tơng đơng
5. Quy định về hoá đơn, chứng từ mua bán hàng hoá, dịch vụ
- Việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ đều phải có hoá đơn, chứng từ theo
qui định của pháp luật.
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế phải sử dụng
hoá đơn GTGT và phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố qui định, trong đó ghi rõ giá
bán, khoản phụ thu, phí thu thêm, khoản thuế GTGT, giá thanh toán.
Trong trờng hợp hoá đơn không ghi khoản thuế giá trị gia tăng thì thuế
GTGT đợc xác định bằng giá thanh toán theo hoá đơn nhân với thuế suất thuế
GTGT.
- Đối với các loại tem, vé đợc coi là chứng từ thanh toán đã in sẵn giá
thanh toán thì giá thanh toán tem, vé đó đã bao gồm thuế GTGT.
6. Hoàn thuế GTGT
6.1. Đối tợng và các trờng hợp đợc hoàn thuế GTGT
a. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ
thuế đợc xét hoàn thuế nếu có số thuế đầu vào đợc khấu trừ của 3 tháng liên
tục lớn hơn số thuế đầu ra. Những cơ sở kinh doanh xuất khẩu mặt hàng theo
thời vụ hoặc theo từng kỳ với số lợng lớn, nếu phát sinh số thuế GTGT đầu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vào của hàng hoá xuất khẩu lớn so với số thuế đầu ra thì đợc xét hoàn thuế
GTGT từng kỳ.
b. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ
thuế, có đầu t mua sắm tài sản cố định, có số thuế GTGT đầu vào đợc khấu
trừ lớn:
- Đối với cơ sở đầu t mới đã đăng ký nộp thuế nhng cha có doanh thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status