ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ QUỲNH TRANG
VẤN ĐỀ KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
Ở PHỤ NỮ TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN SỸ PHÁN HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
VÀ NGUYÊN TẮC KẾ THỪA, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ ĐÓ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 7
1.1. Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam 7
1.1.1. Đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống - Mấy vấn đề lý luận 7
1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm đạo đức của người phụ
nữ Việt Nam 18
1.1.3. Những giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của phụ nữ Việt
Nam 26
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng và những nguyên tắc cơ bản của quá
trình kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống
của phụ nữ Việt Nam hiện nay 43
1.2.1. Kế thừa là quy luật tất yếu của việc giữ gìn và phát huy các giá
trị đạo đức truyền thống 43
1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình kế thừa và phát huy giá
BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐHĐB : Đại hội đại biểu
LHPN : Liên hiệp phụ nữ
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế chứng tỏ rằng, trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, phụ nữ bao giờ cũng
đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước, họ đã
góp phần sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần, đã tích cực tham gia các cuộc đấu
tranh chống áp bức bóc lột, nhất là đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đã đảm đang nuôi
dạy con cái, góp phần bảo vệ những truyền thống tốt đẹp của ông cha. Trong sự
nghiệp xây dựng CNXH, họ cũng là lực lượng xã hội có những đóng góp hết sức to
lớn. Tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình (ngày 10-10-
1959) Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không
giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng
phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” và ngày 19-10-1966, phát biểu tại
Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam, một lần nữa, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến
già, phụ nữ Việt Nam ta thật là anh hùng”.
Nhìn lại lịch sử từ xưa đến nay, phụ nữ Việt Nam luôn luôn giữ vị trí quan
Pháp, đuổi Nhật. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ anh dũng của dân
tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, các tổ chức tập hợp chị em phụ nữ thuộc các
tầng lớp, thành phần, dân tộc trong tỉnh lần lượt được ra đời. Trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, ngoài việc tham gia tích cực các phong trào hàng ngàn chị em
phụ nữ Thái Nguyên đã có mặt ở những nơi “đầu sóng, ngọn gió” trực tiếp chiến đấu
góp phần rất lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc Những điều đó đã ảnh hưởng
không nhỏ đến đời sống nhân dân Thái Nguyên sau này nói chung, người phụ nữ Thái
Nguyên nói riêng, nhất là việc kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống
trong điều kiện mới. Có thể nói trong xu thế hội nhập và giao lưu quốc tế, sự phát
triển của nền kinh tế thị trường với những mặt trái của nó đã tác động mạnh mẽ đến
các tầng lớp xã hội đặc biệt là phụ nữ. Vấn đề việc làm, sự đói nghèo, trình độ học
3
vấn, sự hưởng thụ văn hóa; tệ nạn xã hội, buôn lậu, ma túy, mại dâm, hiện tượng bạo
lực đối với phụ nữ đang là những vấn đề bức bách, nhất là ở những vùng trung du
miền núi phía bắc trong đó có Thái Nguyên. Một bộ phận phụ nữ có đạo đức, lối sống
không lành mạnh, thiếu thủy chung, vô trách nhiệm với gia đình, đi ngược lại giá trị
đạo đức truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Những tồn tại trên đã và đang làm
mai một dần giá trị đạo đức của phụ nữ Thái Nguyên nói riêng và đạo đức người phụ
nữ Việt Nam nói chung. Giải quyết vấn đề này là trách nhiệm của tất cả các cấp,
ngành, trách nhiệm của mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là của chính các thế hệ phụ nữ
Thái Nguyên hôm nay và mai sau. Do vậy nhận thức đúng đắn Vấn đề kế thừa và phát
huy giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam ở phụ nữ tỉnh Thái Nguyên
hiện nay là vấn đề cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với sự
nghiệp giải phóng phụ nữ, xây dựng người phụ nữ mới đáp ứng yêu cầu sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước trên quê hương Thái Nguyên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc nói chung, giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ nói riêng đã được nhiều học giả,
nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu. Trong đó, có thể kể đến các công
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu: Vấn đề kế
thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt nam ở phụ nữ tỉnh
Thái Nguyên hiện nay. Chính vì vậy, tôi lấy đó làm đề tài nghiên cứu cho bản luận
văn thạc sỹ của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn
Trên cơ sở phân tích thực trạng của việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo
đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam ở phụ nữ tỉnh Thái Nguyên, đề xuất một số giải
pháp có tính định hướng nhằm phát huy có hiệu quả các giá trị đạo đức truyền thống của
phụ nữ Việt Nam ở người phụ nữ tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
5
* Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam, tầm quan
trọng, nội dung, yêu cầu của việc phát huy chúng trong tình hình hiện nay.
- Làm sáng tỏ nét đặc thù cũng như tính tất yếu của việc kế thừa và phát huy
những giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam ở người phụ nữ tỉnh Thái
Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
- Phân tích thực trạng của việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của phụ
nữ Việt Nam ở người phụ nữ tỉnh Thái Nguyên và nguyên nhân của thực trạng trên; từ
đó rút ra những vấn đề cần giải quyết để thực hiện việc kế thừa và phát huy những giá
trị đạo đức truyền thống ở người phụ nữ Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức
truyền thống của phụ nữ Việt Nam ở người phụ nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt
Nam ở người phụ nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận
Chương 2: Vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của
phụ nữ Việt Nam ở phụ nữ tỉnh Thái nguyên hiện nay - Thực trạng và giải pháp.
7
Chương 1
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
VÀ NGUYÊN TẮC KẾ THỪA, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ ĐÓ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam
1.1.1. Đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống - Mấy vấn đề lý luận
+ Từ xưa đến nay, “đạo đức” luôn luôn thu hút sự quan tâm, chú ý của toàn
nhân loại. Dù là phương Đông hay phương Tây, dù cổ đại hay hiện đại, không bao giờ
và không lúc nào lại vắng bóng hay thiếu sự hiện diện của đạo đức. Với vị trí và tầm
quan trọng đó, đạo đức luôn luôn là tâm điểm của mọi nghiên cứu của khoa học xã hội
và nhân văn: Trong từ điển triết học do tập thể các nhà triết học Liên Xô (cũ) biên
soạn do M.RÔ-DEN-TAN và P.I-U-ĐIN chủ biên(bản tiếng Việt) có định nghĩa:
“Đạo đức là quy tắc của sinh hoạt chung trong xã hội và của hành vi của con người,
quy định những nghĩa vụ của người này đối với người khác và đối với xã hội”.
Trong từ điển Xã hội học (Nxb Thế giới, Hà Nội 1994) tác giả Nguyễn Khắc
Viện định nghĩa: “Đạo đức là bao gồm những chuẩn mực hành vi xã hội của con
người theo hướng thiện, tránh hướng ác. Đạo đức là thể chế xã hội không có quy tắc
bắt buộc và thường không có văn bản quy định. Các quan hệ đạo đức được điều tiết
bằng hai yếu tố: dư luận (khách quan) và lương tâm (chủ quan)” [64, tr.28].
Theo giáo trình đạo đức học “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,
bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc,
chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội. Nhờ đó, con người
tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người
và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá
nhân và xã hội” [29, tr.12]. G.Bandzeladze coi “đạo đức là hệ thống những chuẩn mực
quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin các nhân, bởi truyền thống dân
tộc và sức mạnh dư luận xã hội.
9
Như vậy trong quá trình phát triển, mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức
tạp, con người cần có những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi của mình
sao cho phù hợp với những yêu cầu của xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển trong sự
ổn định. Với tư cách là “hình thái ý thức xã hội” đạo đức thuộc về lĩnh vực tinh thần
của xã hội. Nhưng lĩnh vực tinh thần này lại phản ánh tồn tại xã hội về mặt đạo đức.
- Ở mức độ khái quát nhất, cấu trúc đạo đức bao gồm: Ý thức đạo đức và thực
tiễn đạo đức.
- Ý thức đạo đức được hình thành và xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại,
nó là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm: các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc
đạo đức, là sự thể hiện thái độ các trạng thái xúc cảm tâm lý chung của các cộng đồng
người về các giá trị và về các quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá
nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội.
- Ý thức đạo đức là sự phản ánh tồn tại xã hội về mặt đạo đức. Ph.Ăngghen cho
rằng: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản
phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”. Tình hình kinh tế xã hội như thế
nào thì thường thường ý thức đạo đức - cái phản ánh đời sống kinh tế xã hội cũng như
thế đó. Điều này đã được chứng minh bằng sự vận động và phát triển của ý thức đạo
đức của xã hội loài người, từ xã hội cộng sản nguyên thủy cho đến ngày nay. Tất cả
đó chứng tỏ rằng: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ
cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” (C.Mác).
Nếu xem xét ý thức đạo đức theo trình độ phát triển của nó có ý thức đạo đức
thông thường và có ý thức đạo đức lý luận.
Ý thức đạo đức thông thường là những tri thức, quan niệm, tình cảm đạo đức
hình thành trực tiếp từ cuộc sống hàng ngày của con người, chúng phản ánh sinh động
nhiều mặt và thường xuyên biến đổi của đời sống đạo đức xã hội.
Ý thức đạo đức lý luận là những tư tưởng, quan điểm đạo đức được hệ thống
hội phong kiến. Đến xã hội tư bản, định hướng giá trị đó đã thay đổi, những quy tắc
11
đạo đức cũng biến đổi phù hợp với những nguyên tắc trao đổi kiểu trao đổi hàng hóa
“tiền trao cháo múc”. Ngay trong quan niệm về cái thiện và cái ác cũng không ngừng
phát triển gắn liền với quan niệm về tiến bộ xã hội. Trong quan niệm biện chứng của
Hêghen, cái ác không đơn thuần là lực lượng phá hoại mà nó còn là hình thức biểu
hiện động lực phát triển của lịch sử. Điều đó cũng giúp ta cắt nghĩa mâu thuẫn của sự
phát triển đạo đức trong xã hội có đối kháng giai cấp là: tiến bộ của đạo đức, nói
chung thông qua những bước thụt lùi tương đối. Đương nhiên, các giá trị đạo đức phổ
biến của nhân loại vẫn không ngừng được sáng tạo và phát triển qua mọi thời đại. Nó
chỉ thể hiện đầy đủ và sẽ được kế thừa trong đạo đức cộng sản, một nền đạo đức mang
tính nhân loại phổ biến của xã hội tương lai.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, đạo đức mới phát triển mạnh mẽ trên cơ sở quan
hệ xã hội chủ nghĩa. Trong đó chủ nghĩa tập thể là nền tảng tư tưởng là nguyên tắc cơ
bản của đạo đức mới.
Đạo đức xã hội chủ nghĩa chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh nước lớn
và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bởi nó không chỉ làm tổn hại đến lợi ích của các dân tộc
khác mà còn đi ngược lại với lợi ích cơ bản của chính dân tộc mình.
Đạo đức là tiêu chuẩn trong các giá trị của đời sống con người. Thực hiện hành
vi đạo đức sẽ làm cho con người loại bỏ sự thấp hèn, vị kỷ, đê tiện, xấu xa, hướng con
người đi tới cái chân, thiện, mỹ.
Những người có đạo đức là những người sống vì xã hội, vì hạnh phúc của
người khác, sống để cống hiến và đem lại nhiều lợi ích cho xã hội trong đó có lợi ích
của bản thân. Đạo đức còn đem lại cho con người niềm lạc quan yêu đời, nó phát huy
và khơi dậy ở con người tính tích cực, tự giác, kiên nhẫn khắc phục khó khăn, khát
khao vươn tới cuộc sống cao thượng.
Từ xưa đến nay lịch sử đã chứng minh rằng đạo đức có vai trò to lớn trong đời
sống xã hội, nó là động lực thôi thúc con người đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu đi
ngược lại lợi ích xã hội, nó giữ gìn phát huy cái tốt, cái thiện, làm cho xã hội ngày
vừa là tiêu chuẩn chân lý về giá trị của khách thể” [31, tr.29]
13
Sự đánh giá đúng đắn của một giá trị không chỉ căn cứ vào nhu cầu, lợi ích của
chủ thể đánh giá mà còn phải căn cứ vào hiệu quả xã hội của họat động, của chủ thể
theo đuổi những giá trị nhất định.
Thứ năm, giá trị đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Nó là
cái mà con người dựa vào để xác định mục đích và phương hướng cho hoạt động của
mình, là cái mà con người mong muốn được theo đuổi. Giá trị là cơ sở của các chuẩn
mực, quy tắc xác định, cách thức hành động của con người. Nói cách khác, cách thức
và hành động của con người trong xã hội được chỉ đạo bởi các giá trị, người ta dựa
vào các giá trị được xã hội chấp nhận để lựa chọn cách thức suy nghĩ và hành động
phù hợp nhất. Giá trị là động cơ thúc đẩy hoạt động của con người vì các nguyện vọng
và mục đích của các cá nhân đều được đối chiếu với các giá trị nằm trong cấu trúc của
nhân cách. Các giá trị, nhất là các giá trị chung, phổ biến, được coi như phương tiện
cơ bản để tạo nên sự liên kết, hợp tác của mọi thành viên trong nhóm, cộng đồng.
Như vậy, “nói đến giá trị là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện,
nghĩa là bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp;
là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới” [4,
tr.16-19].
Trong việc nghiên cứu giá trị, tùy theo mục đích tiếp cận mà người ta phân loại
giá trị theo cách riêng của mình. Căn cứ vào sự thỏa mãn nhu cầu vật chất hay nhu
cầu tinh thần của con người, người ta chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
Những gì đáp ứng cuộc sống sinh thể và thực tại, bảo đảm nhu cầu vật chất cho
cuộc sống, tạo nên các giá trị vật chất. Tất nhiên trong nghĩa rộng, giá trị vật chất
trong nhiều trường hợp cũng tồn tại cả bên ngoài quan hệ sinh tồn và thực tại của con
người. Nhưng cái khác biệt ở con người so với muôn loài là không chỉ biết sống,
không chỉ sống cho hiện tại mà còn sống đẹp, sống cho ngày mai, sống vượt lên trên
nhu cầu vật chất- đó là cuộc sống tinh thần hết sức thiêng liêng. Những gì thỏa mãn
cho cuộc sống tinh thần đó, thỏa mãn những mong muốn, hy vọng về tương lai sẽ
bộc lộ một cách trực tiếp và rõ nét hơn giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức là cơ sở của
15
các chuẩn mực điều tiết hành vi của con người còn các giá trị thẩm mỹ thỏa mãn nhu
cầu hưởng thụ cái đẹp, đem lại cho con người những khoái cảm tinh thần, giá trị đạo
đức thể hiện rõ rệt trong các chuẩn mực đạo đức, còn các giá trị thẩm mỹ thể hiện tập
trung trong các hình tượng nghệ thuật… Tuy nhiên, giữa chúng có sự thống nhất với
nhau, vì chúng có chung nguồn gốc từ lao động, đều phản ánh tồn tại xã hội và có vai
trò to lớn trong việc hình thành nhân cách, lối sống, văn hóa, đạo đức của con người.
Bản thân giá trị đạo đức, xét về mặt thời gian có thể chia thành giá trị đạo đức
truyền thống và giá trị đạo đức hiện đại. Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình do
lịch sử tạo nên. Truyền thống là phức hợp những tình cảm, tư tưởng, tập quán, thói
quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử… của một cộng đồng người, của một dân
tộc được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, chúng được lưu truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác. Truyền thống có thể tích cực cũng có thể tiêu cực. Truyền thống
có cái tốt, cái xấu, vì thế C.Mác cho rằng: “Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết
đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống” [41, tr.145]. Còn Ph.Ăngghen
coi “Truyền thống (lạc hậu) còn là thế lực trong khoa học tự nhiên nữa” [25, tr.468].
Với Hồ Chí Minh, “Thói quen và truyền thống lạc hậu là kẻ địch to, nó ngấm ngầm
ngăn trở cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một
cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài” [45, tr.287]. Nhưng khi nói đến “Giá trị
truyền thống” người ta chỉ muốn nói đến cái tốt, bởi lẽ trong ý nghĩa đích thực của nó
chỉ những cái tốt, cái đẹp mới được gọi là giá trị truyền thống. Song, không phải mọi
cái tốt đều gọi là giá trị truyền thống mà phải là những cái phổ biến cơ bản có nhiều tác
dụng tích cực cho đạo đức luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn sự nhận định và hành
động của con người chúng được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân
tộc. Nó là yếu tố cốt lõi và chiếm vị trí nổi bật của hệ giá trị tinh thần truyền thống
Việt Nam, thể hiện nét đặc thù của đạo đức Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp đã
hình thành và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Các giá trị đạo đức truyền thống là kết quả
17
Và giáo sư khẳng định: Dù trải qua bao vật đổi sao dời, từ thời Văn Lang xa
xưa cho đến thời hiện đại, hễ nói đến giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là
nói: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người,vì nghĩa.
Theo giáo sư Nguyễn Hồng Phong, tính cách dân tộc gần như là tất cả nội dung
của giá trị đạo đức truyền thống, bao gồm: tính tập thể - cộng đồng; trọng đạo đức;
cần kiệm, giản dị, thực tiễn; tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hòa
bình, nhân đạo; lạc quan [53, tr.453-454].
Ngoài ra, giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cũng được đề cập nhiều trong các
tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số văn kiện của Đảng. Nghị quyết hội
nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có khẳng định: “Bản sắc dân
tộc bao gồm những giá trị bề vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, được vun đắp lên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường của dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý chí
cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung,
trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng
xử, tính giản dị trong lối sống…” [12, tr.56].
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, phụ nữ Việt Nam luôn thể
hiện những phẩm chất truyền thống tốt đẹp: lòng yêu nước, tinh thần quật cường
chống giặc ngoại xâm; cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất; có lòng
nhân hậu, giàu tình yêu thương và đức hy sinh.
Ngày nay, phụ nữ Việt Nam một mặt tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống
đạo đức quý báu, những giá trị văn hóa, tinh thần vô giá mà các thế hệ trước đã để lại,
mặt khác không ngừng hình thành, phát triển những phẩm chất tiên tiến phù hợp với
các yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, từng
bước góp phần tạo dựng hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện đại… Trong đó, yêu
nước là giá trị cốt lõi, giá trị hàng đầu của bậc thang giá trị đạo đức truyền thống dân
18
xuất, săn bắt, hái lượm; tuy nhiên săn bắt với kỹ thuật nguyên thủy không phù hợp với
phụ nữ nên hái lượm chủ yếu do những người phụ nữ đảm nhiệm còn săn bắt dần trở
thành chức nghiệp của đàn ông. Sự phân công lao động theo giới tính phát sinh và
phát triển dần trong lòng xã hội nguyên thủy.
Nghề săn bắt muông thú ngày càng gặp nhiều khó khăn, đôi khi người đàn ông
không tìm được thức ăn cho cộng đồng. Khi đó việc hái lượm lại do những người phụ
nữ đảm nhiệm nguồn thức ăn thường xuyên và quan trọng về số lượng cho các tập
đoàn người nguyên thủy. Ngay từ buổi đầu, vai trò này đã thể hiện tinh thần sẵn sàng
gánh vác công việc chung của người phụ nữ
Đồng thời họ còn thể hiện vai trò quan trọng của mình đối với sự sinh tồn của
cộng đồng người nguyên thủy trong việc phát sinh nghề đánh cá, nghề chăn nuôi,
nghề gốm và nghề nông nguyên thủy. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh,
Việt Nam là một trong những nơi có nghề trồng lúa nước sớm nhất. Khác với hái l-
ượm, nền nông nghiệp nguyên thủy là một nền kinh tế sản xuất, cung cấp nguồn thức
ăn thường xuyên và ổn định cho con người. Dưới con mắt và bàn tay chăm sóc, đảm
nhiệm của người phụ nữ nguyên thủy nông nghiệp dần dần phát triển. Đặc biệt, nghề
gốm ra đời đã đánh dấu bước phát triển, nhiều loại lúa hoang đã trở thành tổ tiên của
các giống lúa ngày nay, nó thể hiện sự khéo léo, sáng tạo của người phụ nữ Việt Nam.
Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, xã hội, nghệ thuật Và trong khi
nâng cao toàn bộ nền kinh tế nguyên thủy, văn hóa nguyên thủy, con người nguyên
thủy, nó cũng nâng cao vai trò, địa vị của người phụ nữ lên.
Vai trò của người phụ nữ Việt Nam càng quan trọng hơn trong nền kinh tế
nông nghiệp. Trồng lúa nước là một hoạt động sản xuất bao gồm nhiều lao động liên
hoàn, phức tạp, đòi hỏi nhiều nhân công, nhân lực, trong đó có những công việc đòi
hỏi sự mềm mại, dẻo dai cần cù, tỉ mỉ đặc biệt. Thể chất và thiên tính của người phụ
nữ có thể đáp ứng với những khâu lao động nông nghiệp trồng lúa đó. Những hoạt
động sản xuất và trồng trọt, từ việc vỡ đất đến việc đặt cây, gieo, tỉa, chăm sóc và thu
hoạch cũng có thể thích hợp với những bản năng về mặt lao động của phụ nữ. Thêm
20