Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam - Pdf 28



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
***
ĐẬU VĂN DŨNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC CÔNG TY
XUYÊN QUỐC GIA Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành : KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số : 60 31 01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Vũ Văn Hiền HÀ NỘI - 2007 HÀ NỘI - 2007

MỤC LỤC Trang
Mở đầu:………………………………………………………………
1
Chƣơng 1. Công ty xuyên quốc gia (TNCs) và việc đầu tƣ trực tiếp
vào các nƣớc đang phát triển
6
1.1. Nhận dạng các công ty xuyên quốc gia ( TNCs).
6
1.2. Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và vai trò
của nó ở các nước đang phát triển.
13
1.3. Bài học kinh nghiệm thu hút FDI của TNCs ở các nước trong khu vực
24
Chƣơng 2. Thực trạng đầu tƣ trực tiếp của các công ty xuyên quốc
gia (TNCs) vào Việt Nam và những vấn đề đặt ra.
33

Khu vực mậu dịch tự do của Hiệp hội các nước Đông Nam á
APEC
:
Diễn đàn hợp tác kinh tế các nước Châu á Thái Bình Dương
ASEAN
:
Hiệp hội các nước Đông Nam á
ASEM
:
Hội nghị thượng đỉnh á - âu
BOT
:
Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao
BT
:
Xây dựng - Chuyển giao
BTA
:
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
BTO
:
Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh
CN
:
Công nghiệp
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐTNN
:

Mua lại và sát nhập
NIEs
:
Các nền công nghiệp mới
Nxb
:
Nhà xuất bản
ODA
:
Viện trợ phát triển chính thức
OECF
:
Quỹ hợp tác và phát triển kinh tế
TBNN
:
Tư bản nhà nước
TNCs
:
Các công ty xuyên quốc gia
USD
:
Đồng đô la Mỹ
VAT
:
Thuế giá trị gia tăng
WTO
:
Tổ chức thương mại thế giới 3
TNCs đã đem lại những tác động to lớn đối với nền kinh tế như: cung cấp
vốn, kỹ thuật công nghệ, kinh nghiệm quản lý Tuy nhiên, so với tiềm năng
và yêu cầu đặt ra đối với nước ta, đầu tư của TNCs vào Việt Nam vẫn chưa
thật mạnh. Hơn thế nữa, hoạt động của một số công ty còn gây ra các tác
động tiêu cực: làm phá sản xí nghiệp vừa và nhỏ, gây ô nhiễm môi trường
sinh thái, chuyển vào nước ta những công nghệ cũ lạc hậu, làm băng hoại
truyền thống văn hoá…
Từ thực trạng tình hình đó, tác giả chọn đề tài “Đầu tư trực tiếp của
các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam”. Để góp phần vào việc nâng cao
khả năng thu hút nhiều hơn với chất lượng tốt hơn của lĩnh vực đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học
cũng như các nhà quản lý kinh tế trong và ngoài nước nghiên cứu, như:
* Ở ngoài nước: Có nhiều công trình sách báo đề cập đến hoạt động
đầu tư ra nước ngoài của TNCs. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào
nghiên cứu riêng về Việt Nam.
* Ở trong nước:
- Mai Đức Lộc: Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh
tế Việt Nam, luận án phó tiến sĩ kinh tế chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí
Minh, 1994.
- Đề tài KHXH- 06- 05, Bản chất, đặc điểm và vai trò của các công ty
xuyên quốc gia và đa quốc gia trên thế giới - Chính sách của ta.
- Nguyễn Xuân Thiện: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam: vấn
đề và giải pháp, Tạp chí Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương, số1/2001.
- Hoàng Thị Bích Loan: Về hoạt động của các công ty xuyên quốc gia,
Tạp chí Lý luận chính trị, số 8/2004.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê tổng hợp.
- Phương pháp so sánh, phân tích. 5
- Phương pháp chuyên gia và một số phương pháp khác.
6. Những đóng góp của Luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về bản chất, đặc điểm và vai trò
của TNCs đối với phát triển kinh tế của các nước được đầu tư.
- Đánh giá thực trạng và kết quả của việc đầu tư của các TNCs 1988
đến nay; đồng thời nêu lên những tồn tại và hạn chế.
- Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút và sử
dụng có hiệu quả đầu tư trực tiếp của TNCs trong những năm tới.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung chính của Luận văn được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1: Vấn đề đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia
(TNCs) vào các nước đang phát triển.
Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia
(TNCs) vào Việt Nam và những vấn đề đặt ra.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao khả năng thu hút đầu tư
trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) vào Việt Nam.

Italia 13, Nga 1. Công ty đứng số 1 thế giới về tài sản ở nước ngoài trong
bảng danh sách của UNCTAD năm 2003 là General Electric (Mỹ) với tổng 7
số tài sản nước ngoài là 258.900 triệu USD, tổng doanh thu là 134.187 triệu
USD, số lượng công nhân là 305.000 ngàn người. Công ty đứng thứ 2 là
Vodafone Group Plc (Anh), tiếp theo sau là 3 công ty Ford Motor, General
Motors (Mỹ), British Petroleum Company của Anh. Đứng thứ 7 mới là công
ty Royal Dutch – Shell Group (Anh – Hà Lan) có tổng tài sản nước ngoài là
112.587 triệu USD (tổng tài sản là 168.091 triệu USD), lợi nhuận 8.887,1
triệu USD, tổng doanh thu 201.728 triệu USD và có số công nhân là 119.000
người. Các TNCs có phạm vi hoạt động rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm
vi một quốc gia, mà mở rộng ra phạm vi toàn cầu thông qua việc cắm nhánh
ra nước ngoài với số lượng lớn, kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, chiến
lược sản phẩm và hướng đầu tư luôn thay đổi cho phù hợp với sự phát triển
của tập đoàn và môi trường kinh doanh, nhưng mỗi ngành đều có định
hướng chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của
các TNCs như tập trung vào các ngành có hàm lượng khoa học cao (công
nghiệp chế biến, dịch vụ,…) và các nước tư bản phát triển. Chúng nắm
những phương tiện kỹ thuật hiện đại với những trung tâm nghiên cứu và
phát triển đồ sộ, mà khoản chi ngân sách bằng với ngân sách nghiên cứu và
phát triển của một nước lớn. Ví dụ như công ty Philips Electric (Hà Lan) là
một trong những công ty điện tử hàng đầu thế giới với 263 chi nhánh đặt ở
hơn 70 nước, nếu tính cả nước mẹ thì có 378 chi nhánh công ty Heineken
(Hà Lan) là một công ty sản xuất bia đã mua nhà máy bia của Italia,
Hungary. Hãng Renaul SA (Pháp) chuyển về lĩnh vực động cơ máy có 136
(trong số 207) chi nhánh ở nứơc ngoài như ở Đức, Tây Ban Nha, Ba Lan,…
Tổ hợp dầu lửa Total (Pháp) với 602 chi nhánh có mặt ở hơn 80 nứơc trên
thế giới và các trọng điểm dầu khí như Trung Đông, Biển Bắc, Mỹ – Latinh.


FDI
FDI
FDI FII FII

FDI QG5
QG4
QG6
QG1
QG2
QG3

9

10
các nhân tố tích cực trong cơ chế quản lý kinh doanh của các công ty hiện
đại của phương Tây. Nhật Bản là một xã hội đẳng cấp được xây dựng kết
cấu theo chiều dọc, giữa các TNCs cũng phân biệt đẳng cấp rõ rệt. Quan hệ
giữa các TNCs ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị xã hội của nhà kinh doanh và
công nhân viên trong tập đoàn. Với mục tiêu phát triển mạng lưới công ty
của Nhật Bản trên khắp thế giới, các TNCs Nhật Bản luôn để cho những
công ty vệ tinh của chúng có đựơc quyền tự do ở mức đáng kể. ở Nhật Bản,
các công ty, tập đoàn áp dụng “chế độ làm việc suốt đời”. Quan hệ giữa
công nhân viên với công ty là cố định, các nhà kinh doanh không tuỳ tiện sa
thải công nhân, việc trả lương và nâng bậc cho công nhân căn cứ vào tuổi
tác, học lực và thâm niên công tác liên tục. Chính vì lẽ đó nên mọi người
đều phải dốc sức phấn đấu cho sự sinh tồn và phát triển của công ty.
1.1.3. Các loại hình công ty xuyên quốc gia
Các chuyên gia kinh tế đã dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để thực
hiện hình thức tồn tại của các TNCs. Chẳng hạn:
- Căn cứ theo quá trình vận động và lĩnh vực hoạt động của các TNCs:
+ Công ty xuyên quốc gia sơ khai: là loại hình đầu tiên có từ thời kỳ
tư bản tự do cạnh tranh thống trị. Các công ty này thường hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp, khai khoáng với mục đích khai thác nguyên liệu, bóc
lột lao động làm thuê ở thuộc địa phục vụ cho quá trình tích luỹ tư bản để
công nghiệp hoá. Các công ty Đông Ấn của Hà Lan và Anh thế kỷ XVII –
XVIII là những ví dụ điển hình về loại hình TNCs này.
+ Công ty xuyên quốc gia thương mại: gồm những công ty mà chi
nhánh ở nước ngoài là những chi nhánh chủ yếu thực hiện việc xuất nhập
khảu hàng hoá. Ngoài ra việc sản xuất cũng có thể được thực hiện tại chỗ ở
các chi nhánh này khi việc thâm nhập thị trường trở nên khó khăn. Song việc
sản xuất tại chỗ thường có giới hạn, chỉ sản xuất một phần sản phảm theo
mẫu của công ty mẹ, hoặc chỉ thực hiện việc lắp ráp một số bộ phận linh

theo nhiều nhà nghiên cứu thì cách phân loại phổ biến hiện nay là phân loại
theo trình độ phát triển, biểu hiện ra là sự thay đổi về hình thức sở hữu tư
bản của các TNCs.
+ Cartel: loại hình liên kết giữa các công ty độc quyền trong cùng một
ngành, có thể liên kết với nhau bằng cách cùng nhau ký kết một hiệp định
lập ra thị trường tiêu thụ, xác định giá cả hàng hoá, số lượng sản phẩm bán
ra nhằm mục tiêu hạn chế cạnh tranh, từ đó phân chia lợi ích cụ thể với 12
nhau. Ví dụ OPEC là một Cartel có quy mô quốc tế, các thành viên của
OPEC thường thoả thuận với nhau về số lượng dầu cung cấp, cũng như giá
bán ra trên thế giới. Mặc dù vậy các công ty này vẫn là những công ty độc
lập về pháp lý trong sản xuất cũng như thương mại. Tại Hồng Kông, các
ngân hàng đã cấu kết với nhau thành một tổ chức Cartel, họ định lãi suất
thấp cho các tài khoản gửi nhưng cao cho các khoản vay ngân hàng, nhờ đó
các ngân hàng trong Cartel đã được lãi to: trên 645 triệu USD thu được trong
năm 1991 (bằng 0,8% GDP của Hồng Kông).
+ Syndicate: cũng là loại hình liên kết giữa các xí nghiệp tư bản chủ
nghĩa, các bên cùng ký kết hiệp định có liên quan đến số lượng hàng hoá
tiêu thụ chung, đến việc mua nguyên vật liệu, nhằm mua được nguyên vật
liệu với giá thấp, bán được sản phẩm với giá cao. Trong loại hình này, các xí
nghiệp vẫn độc lập về sản xuất, pháp lý, nhưng không còn độc lập về thương
mại nữa. Một điều đáng chú ý lá rất nhiều Syndicate là do Cartel phát triển
lên.
+ Trust: loại hình công ty được hình thành nên do sự liên hiệp hoá
theo chiều ngang, phát triển cao hơn về mặt tổ chức, trong đó nhiều xí
nghiệp sản xuất cùng một loại hàng hoá hoặc các xí nghiệp ở các ngành kế
cận nhau có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng hợp nhất lại thành một tổ chức
(kinh tế). Các xí nghiệp khi đã đựơc hợp nhất vào tổ chức kinh tế này không

cùng sử dụng về phát minh sáng chế, cùng tham gia nghiên cứu trong những
chương trình, đề án khoa học và ứng dụng công nghệ sản xuất; cùng hợp tác
sản xuất kinh doanh và sử dụng một hệ thống tài chính, tín dụng. Concern
thể hiện ở tính pháp nhân độc lập của các công ty thành viên. Tuy vậy, mối
quan hệ bền vững của Concern được thiết lập trong sự liên hệ chặt chẽ giữa
các cá nhân lãnh đạo chủ chốt với nhau và với các thành viên của Chính phủ
dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế. Đặc điểm nổi bật của công ty xuyên quốc gia
thuộc loại Concern là sự thống nhất giữa tư bản sở hữu và quyền kiểm soát.
Hình thức kiểm soát được xác lập từ công ty mẹ tới các công ty con, cháu
bằng chế độ điều hành trong hội đồng quản trị. Công ty mẹ chiếm một số cổ
ohiếu khống chế trong các công ty nhánh. Đứng đầu các công ty xuyên quốc
gia thuộc loại Concern là một Hội đồng quản trị thường bao gồm những
người có sở hữu cổ phiếu lớn nhất. Dưới Hội đồng quản trị là Hội đồng các
giám đốc (những người quản lý) trực thuộc Ban quản trị, có nhiệm vụ trực
tiếp chỉ đạo sản xuất và kinh doanh khác nhau, Ngày nay, với sự phát triển 14
hơn nữa của tích tụ sản xuất, xu hướng đa dạn hoá sản phẩm, đa dạng hoá
ngành đang trở thành xu hướng phổ biến và tổ chức Concern đã đáp ứng đòi
hỏi đó. Trong các Concern thường bao gồm các công ty hoạt động ở các
ngành kinh tế khác nhau, như công nghiệp, vận tải, thương nghiệp, ngân
hàng, bảo hiểm,… Người ta thấy rằng trong số 500 công ty lớn nhất của Mỹ,
thị phẩn của Concern đa ngành vào những năm 70 chiếm 94& so với 66%
năm 1949. Trong số các Concern thì Daimler Chrysler AG (DC) của Cộng
hoà Liên bang Đức và Mỹ là một Concern khá điển hình. Nó bao gồm nhiều
công ty thành viên trong nhiều ngành nghề khác nhau, trong đó có công ty
Motorentua Binen Union (MTU) sản xuất các loại động cơ; công ty Doocnie
sản xuất các mặt hàng thuộc ngành hàng không, còn công ty AEG sản xuất
các mặt hàng thuộc ngành kỹ thuật điện,… Do đó sản phảm của DC hết sức

những ngành công nghiệp thực phẩm và báo chí,…
Việc phân loại các công ty xuyên quốc gia theo các hình thức từ
Cartel đến Conglomerate là những nấc thang phản ánh sự giảm dần tính chất
sở hữu tư nhân thuần tuý và sự tăng lên của nhân tố “tập thể” trong sở hữu
tư bản – xét trong giới hạn quan hệ sản xuất TBCN. Mặt khác, việc phân loại
như trên đảm bảo tính logic trong nghiên cứu và cũng phù hợp với hiện thực
TBNC ở chỗ các công ty tư bản độc quyền vốn đã tồn tại trong những loại
hình cơ bản này ở phạm vi quốc gia, nhưng do quá trình phát triển buộc
chúng phải vượt ra khỏi biên giới quốc gia và hoạt động trên phạm vi quốc
tế mà thội. Trên thực tế dù hoạt động quốc tế nhưng nó vẫn mang những dấu
ấn quốc gia và chịu sự kiểm soát của công ty gốc ở chính quốc.
1.2. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) của TNCs và vai trò của nó
ở các nƣớc đang phát triển.
1.2.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Mặc dù còn nhiều khác biệt về quan niệm, nhìn chung ở các nước trên
thế giới, FDI được hiểu là một hoạt động kinh doanh mà trong đó có sự tách
biệt ở tầm vĩ mô về mặt chủ thể, nhưng lại có sự kết hợp ở tầm vi mô trong
sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại một quốc gia là việc nhà đầu tư
ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia đó 16
để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh
tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản
hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp
đồng và giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí
quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản chính (cổ phần, cổ phiếu, trái
phiếu, giấy ghi nợ…).

khắp trên phạm vi toàn thế giới, mà lực lượng chủ yếu tác động tới kinh tế
toàn cầu đó là các TNC. Sự hoạt động của các TNC thúc đẩy sự chuyên môn
hoá ngày càng sâu, rộng, biểu hiện ở chỗ các công ty mẹ và các công ty chi
nhánh ở các nước TBCN phát triển đảm nhiệm những khâu đòi hỏi trình độ
khoa học công nghệ cao, phức tạp của dây chuyền sản xuất. Còn các chi
nhánh cắm ở các nước đang phát triển tuỳ theo điều kiện của mình có thể
đảm nhận các khâu ít phức tạp hơn, những khâu mà lao động giản đơn cũng
có thể thao tác được. Chẳng hạn, Việc sản xuất máy tính điện tử hiện nay
của các TNC Nhật Bản, Mỹ, Cộng hoà Liên Bang Đức thì việc sản xuất
“phần mềm” “phần cứng” và việc lắp đặt các bộ phận đầu, cuối được thực
hiện theo sự phân công chuyên môn hoá theo cách thức công nghiệp hoá.
Việc thực hiện phân công chuyên môn hoá sản xuất trên phạm vi toàn
cầu là một bước tiến có tính chất lịch sử, nó cho phép khai thác được tiềm
năng và thế mạnh của từng nước, từng khu vực, tạo được các mối quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau và phản ánh quá trình tất yếu kinh tê- kỹ thuật. Thực
hiện sự phân công chuyên môn hoá tư bản chủ nghĩa trên phạm vi quốc tế thì
các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã khai thác được tiềm năng của các
nước đang phát triển về tài nguyên và sức lao động để làm tăng hiệu suất của
tư bản. Còn về phía các nước đang phát triển cũng có những lợi ích kinh tế
nhất định khi tham gia vào sự phân công lao động quốc tế như: giải quyết 18
được một phần lao động thất nghiệp, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, cải thiện
hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Chủ nghĩa tư bản với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận nên sự hoạt động
của các TNC không thể tránh khỏi những hậu quả mà chúng đưa đến cho các
nước chủ nhà cần phải khắc phục như: làm què quặt sự phát triển kinh tế
của một số nước, tạo ra sự phụ thuộc nặng nề của các nước này vào các nước
tư bản phát triển.v.v Do đó, vấn đề đặt ra là các nước tham gia vào quá

hoá, phương pháp điều khiển từ xa trong quản lý. Vì vậy nó tạo động lực
thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ trên phạm vi toàn cầu. Theo
tính toán của các chuyên gia Liên hợp quốc các TNC kiểm soát tới 80% các
phát minh sáng chế của thế giới. Các TNC khi đã nắm được lực lượng khoa
học - công nghệ của thế giới, chúng buộc phải thực hiện sự chuyển giao kỹ
thuật, công nghệ sang các nước khác, mà chủ yếu là sang các nước đang
phát triển. Đối với các nước kém phát triển, các TNC đã thực hiện chuyển
giao công nghệ từ công ty mẹ sang công ty chi nhánh cũng như từ nước mẹ
sang nước chủ nhà, thực hiện đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề
Do đó, các TNC trở thành lực lượng có vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới. Đồng thời chúng
chiếm giữ một vị tri to lớn trong việc thực hiện cách mạng khoa học và công
nghệ, thực hiện quá trình công nghiệp hoá ở các nước đang phát triển. Điều
đó đòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải có chiến lược kinh tế đúng đắn mới
có thể tận dụng được cơ hội để ứng dụng được các thành tựu khoa học -
công nghệ tiến tiến trên thế giới (các thành tựu khoa học - công nghệ mới
phần lớn nằm trong tay các TNC), mới có khả năng tránh được nguy cơ tụt
hậu về kinh tế. 20
Thứ tư, tăng nguồn vốn ngoại lực cho các nước đang phát triển, là lực
lượng chủ yếu thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
Cần hiểu thêm rằng, nguồn vốn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
không chỉ là bằng tiền mà nó còn bao hàm cả công nghệ, trình độ quản lý, cổ
phiếu, trái phiếu v.v vốn không phải chỉ của riêng một nhà kinh doanh hay
một nước mà là vốn quốc tế nói chung - quốc tế hoá nguồn vốn. Hiện nay,
thương mại nội bộ các TNC và thương mại giữa các TNC với nhau chiếm
khoảng 2/3 thương mại thế giới, trên 4/5 đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên

mạnh mẽ, do đó thúc đẩy quá trình cải cách về mọi mặt ở các nước đang
phát triển để phát triển.
Hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo cơ hội, nhưng cũng vừa là sức ép lớn
thúc đẩy các quốc gia phải đẩy mạnh cải cách về mọi mặt để phát triển trong
xu thế toàn cầu hoá. Hiện nay có nhiều quốc gia trên thế giới đã tận dụng tốt
các cơ hội để phát triển và sự có mặt của các TNC đã buộc các quốc gia phải
tham gia vào xu thế cạnh tranh toàn cầu, do đó đã thúc đẩy quá trình cải
cách để cùng phát triển.
Chẳng hạn, ở Trung Quốc, nhờ quá trình toàn cầu hoá kinh tế quốc tế
mà Trung Quốc đã tiến hành thực hiện cải cách một cách tích cực. Tính đến
cuối năm 2004 đã có 3000 văn bản pháp quy ở cấp Trung ương đã bị huỷ bỏ,
sửa đổi hoặc bổ sung thêm, trên 200000 văn bản của chính quyền địa
phưong cũng bị huỷ bỏ. Do vậy, nền kinh tế Trung quốc tiếp tục được tạo
những hành lang mới pháp lý để phát triển và ngày càng đạt được những
thành tựu to lớn. (4)
Thứ sáu, sự hoạt động của TNCs đã góp phần quan trọng trong việc tạo
việc làm trực tiếp và gián tiếp cho người lao động ở các nước đang phát
triển, qua đó góp phần làm tăng thu nhập tăng trưởng kinh tế. 22
Mục tiêu hoạt động phổ biến của các TNC trên phạm vi toàn cầu là
tranh thủ giá cả sức lao động rẻ ở các quốc gia đang phát triển. Do đó với số
lượng các TNC ngày càng lớn và sự có mặt của các TNC ở khắp các quốc
gia trên thế giới cho thấy quy mô và khả năng tạo việc làm của các TNC trên
phạm vi toàn cầu.
Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, năm 1995 với 100 TNC hàng đầu
thế giới và 50 TNC lớn nhất của các nước đang phát triển đã tạo ra được
5.800.000 và 470.000 việc làm ở các nước phát triển và đang phát triển.
Trong 100 TNC hàng đầu thế giới, bình quân mức tăng việc làm ở nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status