ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
***
NGUYỄN MẠNH CƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY
XUYÊN QUỐC GIA Ở VIỆT NAM Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
1.2.2 NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG
NGHỆ 27
1.2.3 THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 29
1.2.4 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ TẠO VIỆC LÀM 31
1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA CHÂU Á TRONG
VIỆC THU HÚT, SỬ DỤNG CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA 33
1.3.1 VỀ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NHẰM THU HÚT VÀ
SỬ DỤNG TNCS 33
1.3.2 VỀ XÂY DỰNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ 37
1.3.3 VỀ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG 39
1.3.4 XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ 40
1.3.5 VỀ CÔNG TÁC XÚC TIẾN ĐẦU TƯ 41
139
1.3.6 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG TNCS 42
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY
XUYÊN QUỐC GIA Ở VIỆT NAM 45
2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TNCS HOẠT ĐỘNG Ở VIỆT NAM 45
2.1.1 CÁC TNCS CHỦ YẾU ĐẦU TƯ TỪ CHÂU Á 45
2.1.2 CÁC TNCS CHỦ YẾU CÓ QUY MÔ VỪA VÀ NHỎ 47
2.1.3 CÁC TNCS ĐANG CÓ SỰ CHUYỂN ĐỔI RÕ RỆT VỀ HÌNH
THỨC ĐẦU TƯ 48
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TNCS Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA 49
2.2.1 TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP - XÂY DỰNG 53
2.2.2 TRONG LĨNH VỰC NÔNG-LÂM-NGƯ NGHIỆP 58
2.2.3 TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ 61
3.2.3 THÚC ĐẨY HỢP TÁC VỚI CÁC TNCS TRÊN NGUYÊN TẮC
GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, CÙNG CÓ LỢI 108
3.2.4 SỬ DỤNG TỐI ĐA SỨC MẠNH NGOẠI LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI
HOÁ NỘI LỰC 109
3.2.5 TIẾP TỤC DUY TRÌ SỰ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI 110
3.3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT VÀ SỬ DỤNG TNCS TRONG
THỜI GIAN TỚI 112
3.3.1 TẠO LẬP CÁC ĐIỀU KIỆN THU HÚT TNCS 113
3.3.1.1 HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ 113
3.3.1.2 TẠO DỰNG NHỮNG ĐỐI TÁC VIỆT NAM CÓ TIỀM LỰC
MẠNH 120
3.3.2 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC, QUY HOẠCH VÀ KẾ HOẠCH
THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÁC TNCS. 124
3.3.3 ĐẨY MẠNH VẬN ĐỘNG XÚC TIẾN ĐẦU TƯ 125
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, vừa thúc đẩy vừa
hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh
tế. Trong tiến trình đó, các Hiệp định song phương, đa phương về thương mại và
đầu tư giữa các quốc gia không ngừng và ngày càng trở nên phổ biến và chính
các TNCs là lực lượng chủ yếu đưa các Hiệp định đó vào thực tế. Hơn nữa, để né
tránh các rào cản thương mại do nước khác lập ra nhằm bảo vệ các ngành trong
nước họ, các công ty xuyên quốc gia đã tìm cách thay đổi chiến lược, chuyển từ
xuất khẩu hàng hoá sang đầu tư trực tiếp, lập ra các công ty con ở các nước khác,
hình thành mạng lưới sản xuất toàn cầu. Đến nay, sự hiện diện của các TNCs
kinh tế đánh giá là chưa thực sự hiệu quả và chưa tương xứng với tiềm năng
phát triển của đất nước.
Chính vì lẽ đó việc nghiên cứu “Hoạt động của các công ty xuyên quốc
gia ở Việt Nam” là nhu cầu cấp thiết. Qua đó, chúng ta có thể định vị Việt Nam
một cách rõ nét hơn trong việc thu hút và sử dụng các TNCs. Từ đây, chúng ta sẽ
có câu trả lời cho việc phải thu hút và sử dụng các TNCs như thế nào để hiệu
quả, tránh để tuột mất cơ hội nhằm sớm đưa đất nước trở thành nước công
nghiệp, nhất là trong bối cảnh nước ta đã trở thành thành viên chính thức của
WTO.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu các TNCs không còn là vấn đề mới mẻ, nhưng chính
những biểu hiện mới có tính chất phức tạp của chúng trong nền kinh tế thế giới
khiến cho các nhà nghiên cứu vẫn phải mất nhiều công sức tìm hiểu về chúng.
Ngày nay khi mà xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, chính các công ty
xuyên quốc gia trở thành hiện tượng mang tính phổ biến và có ý nghĩa quyết
định cho sự vận động của nền kinh tế thế giới. Chúng đang ngày càng thâm nhập
sâu vào đời sống kinh tế của tất cả các quốc gia dân tộc, thậm chí ảnh hưởng trực
tiếp đến từng cá nhân trong xã hội. Chính vì lẽ đó việc nghiên cứu về các TNCs
luôn là đề tài mang tính thời sự.
Các nhà nghiên cứu luôn dõi theo tiến trình phát triển của các TNCs để
giúp Chính phủ các nước có những chiến lược đối phó và hợp tác có lợi nhất cho
quốc gia mình. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về các TNCs, có thể kể
đến một số tác giả như: Axele Giroud với “Transnational Corporations,
Technology and Economic Development”; Robert B.Stauffer với “Transnational
corporations and host nations: Attitude, idealogies and behaviours”,
“Transnational corporationss and the political economy of development the
3
TNCs ở Việt Nam hiện nay. Qua đó đề xuất một số giải pháp thu hút và sử dụng
các TNCs một cách hiệu quả góp phần đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH đất nước.
4
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên tác giả đề ra 3 nhiệm vụ sau:
- Trên cơ sở thực tiễn của một số nước châu Á phải rút ra được bài học
kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc thu hút và sử dụng các TNCs.
- Phân tích được tình hình hoạt động của các TNCs ở Việt Nam, đánh giá
những tác động từ hoạt động đó đến kinh tế Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thu hút và sử dụng các TNCs.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quá trình hoạt động của các TNCs ở Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Số liệu sử dụng để phân tích trong bài viết được tập hợp từ năm
1988 đến nay – thời điểm Việt Nam ban hành Luật đầu tư nước ngoài và bắt đầu
tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Về không gian và nội dung: Một là, xuyên suốt luận văn, tác giả bám theo 2
yếu tố cốt lõi là điều kiện và vai trò quản lý của Nhà nước trong việc thu hút và
sử dụng các TNCs. Hai là, luận văn giới hạn trong việc khảo sát hoạt động đầu
tư trực tiếp của các TNCs ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giả đã vận dụng nguyên lý của kinh tế
chính trị, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lê Nin. Đồng thời tác
giả cũng sử dụng phương pháp lôgích kết hợp lịch sử, trừu tượng hoá khoa học,
phân tích, so sánh, bảng biểu, tổng hợp số liệu, tư liệu nhằm làm rõ những luận
điểm được nêu ra trong luận văn.
Sự phát triển liên tục của TNCs về quy mô, cơ cấu tổ chức, phương thức
sở hữu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay đã làm nảy sinh rất nhiều
quan niệm và định nghĩa khác nhau về TNCs. Mặc dù đều thừa nhận rằng, các
TNCs phải là những công ty độc quyền lớn, hoạt động trên phạm vi quốc tế và
có thể gọi là công ty đa quốc gia hay công ty xuyên quốc gia, tuỳ theo tiến trình
phát triển nhận thức chung về loại hình công ty này, nhưng chúng ta có thể nhận
thấy về cơ bản có hai loại quan niệm chính như sau:
Thứ nhất: Quan niệm về công ty quốc tế (International Corporation), trong
đó bao gồm cả công ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia,
công ty siêu quốc gia. Những người theo quan niệm này không quan tâm đến
nguồn gốc tư bản sở hữu, cũng như tính quốc tịch của công ty, không chú ý đến
bản chất quan hệ sản xuất của quốc gia có công ty đó hay các chi nhánh của nó.
Nói chung, họ chỉ quan tâm đến mặt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương
6
mại-đầu tư quốc tế của các TNCs. Nghĩa là họ chỉ chú ý đến mặt quốc tế hoá
hoạt động kinh doanh của các công ty mà thôi.
Thứ hai: Quan niệm về công ty xuyên quốc gia (Transnational
Corporations), là công ty tư bản độc quyền, có tư bản thuộc về chủ tư bản của
một nước nhất định nào đó. Ở đây, người ta chú ý đến tính chất sở hữu và tính
quốc tịch của tư bản: vốn đầu tư kinh doanh là của ai, ở đâu. Chủ tư bản ở một
nước cụ thể nào đó có công ty mẹ đóng tại nước đó và thực hiện kinh doanh
trong và ngoài nước, bằng cách lập các công ty con ở nước ngoài là hình thức
điển hình của loại hình này. Ví dụ, công ty Sony của Nhật Bản, công ty Ford của
Mỹ trong quá trình sản xuất, kinh doanh đã dần dần trở thành những công ty
khổng lồ của thế giới (tài sản tương ứng của 2 công ty này là: Sony 85 tỷ USD
và Ford 304 tỷ USD, chúng đã thiết lập các chi nhánh ở nhiều nơi trên thế giới,
kể cả ở Việt Nam và đều là những công ty xuyên quốc gia theo loại hình này
thể kinh tế khác ở nước ngoài, thường được thực hiện thông qua việc góp vốn tư
bản cổ phần của chúng. Mức góp vốn cổ phần với 10% hoặc cao hơn, các loại cổ
phiếu thường hoặc cổ phiếu có quyền biểu quyết đối với loại công ty TNHH,
hoặc tương đương với công ty trách nhiệm vô hạn, thường được xem như là
ngưỡng đối với quyền kiểm soát tài sản của các công ty khác.
Các chi nhánh nước ngoài (cũng được gọi là công ty con) là các công ty
TNHH hoặc vô hạn, trong đó chủ đầu tư là người sống ở nước khác, có mức góp
vốn cho phép có được lợi ích lâu dài trong việc quản lý công ty đó (mức góp vốn
cổ phần 10% đối với công ty TNHH hoặc tương đương đối với công ty trách
nhệm vô hạn). Trong “Báo cáo Đầu tư Thế giới” của Liên Hiệp Quốc, công ty
con (Subsidiary Enterprise), công ty liên kết (Associate Enterprise), công ty
nhánh (Branches) đều được gọi chung là chi nhánh nước ngoài (Foreign
Affiliates), hay các chi nhánh (Afiliates).
Mặc dù được gọi chung như nhau, đều là chi nhánh nước ngoài, nhưng
mỗi loại trên đây được “Báo cáo Đầu tư Thế giới” định nghĩa cụ thể như sau:
- Công ty con (Subsidiary Enterprise) là công ty TNHH ở nước chủ nhà
(Host Country), (là nước có công ty con của TNCs hoạt động), trong đó các thực
thể kinh tế khác trực tiếp có quyền sở hữu trên một nửa quyền biểu quyết của các
cổ đông và có quyền đình chỉ hay bãi miễn phần lớn thành viên của ban giám
đốc, ban quản lý hay thanh tra.
- Các công ty liên kết (Associate Enterprise) là công ty TNHH ở nước chủ
nhà, trong đó nhà đầu tư có sở hữu ít nhất là 10%, nhưng không lớn hơn một nửa
quyền biểu quyết của các cổ đông.
- Công ty nhánh (Branch Enterprise) là công ty trách nhiệm vô hạn có
toàn bộ vốn hoặc góp vốn ở nước chủ nhà với một trong những hình thức sau:
8
+ Được thành lập một cách lâu dài, hoặc là văn phòng của nhà đầu tư
ra mạnh mẽ hiện nay, và phản ánh đúng tính chất hoạt động của công ty trong
9
thực tế, mà còn thể hiện rõ bản chất cốt lõi của nền sản xuất xã hội. Đó là quyền
sở hữu thuộc về ai và ai là người quyết định, chi phối toàn bộ giá trị tư bản được
sở hữu đó, được tập trung lại đó (cũng như số lợi nhuận được sinh ra từ nguồn tư
bản đó). Chỉ có công ty mẹ có “quốc tịch” rõ ràng chi phối tổng số tư bản khổng
lồ được tập trung trong công ty, còn các công ty con, các cổ đông đông đảo ở
khắp nơi trên thế giới chỉ là những người góp vốn kinh doanh kiếm lời, không có
tiếng nói quyết định về phương hướng hoạt động chiến lược của công ty. Tính
xuyên suốt của việc chi phối quyền sở hữu công ty, thể hiện hợp lý bản chất nội
dung phạm trù xuyên quốc gia trong định nghĩa về công ty xuyên quốc gia. Tuy
nhiên, để nêu được một khái niệm bao quát cả về nguồn gốc và bản chất của
TNCs, phải xuất phát từ sự vận động lịch sử của hình thái tế bào của quan hệ sản
xuất TBCN trong giai đoạn hiện nay được thể hiện ở TNCs. Do đó, công ty
xuyên quốc gia được hiểu là một cơ cấu tổ chức kinh doanh quốc tế, dựa trên cơ
sở kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mô lớn của nhiều thực thể kinh doanh
quốc tế, với quá trình phân phối và khai thác thị trường quốc tế đạt hiệu quả tối
ưu nhằm thu được lợi nhuận độc quyền cao.
1.1.2 Nguồn gốc hình thành các công ty xuyên quốc gia
Có người coi lịch sử của TNCs cũng lâu đời như lịch sử quốc tế hoá sản
xuất, nhưng TNCs hiện nay chỉ được phát triển nhanh chóng cùng với quá trình
toàn cầu hoá kinh tế sau thế chiến II. Cuối những năm 50, các công ty lớn của
Mỹ đi đầu trong việc vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thực hiện kinh doanh
xuyên quốc gia, trở thành công ty xuyên quốc gia. Sau đó các công ty lớn của
Tây Âu cũng bắt đầu trở thành công ty xuyên quốc gia. Cuối những năm 70, các
“thương xã tổng hợp” của Nhật Bản cũng “đi” ra thế giới. Những năm 80 một số
công ty lớn của các nước và khu vực mới công nghiệp hoá và một số nước đang
kinh doanh quốc tế ngày càng được phát triển. Khi nghiên cứu về CNTB tự do
cạnh tranh Các Mác và Ph.Angghen đã dự đoán rằng, tích tụ và tập trung tư bản
tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của các xí nghiệp TBCN có quy mô lớn. Sự cạnh
tranh và tín dụng là 2 đòn bẩy mạnh nhất của tập trung tư bản.
Sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp tất yếu sẽ dẫn đến 2 xu hướng: Một là,
các nhà tư bản có lực lượng kinh tế mạnh, trình độ kỹ thuật quản lý cao sẽ giành
phần thắng, ngược lại, các nhà tư bản nhỏ bị thua lỗ phá sản, bị “thôn tính” vào
các xí nghiệp lớn làm cho quy mô sản xuất và quy mô tư bản ngày càng mở rộng
nhanh chóng; Hai là, trong cuộc cạnh tranh gay gắt, khó phân thắng bại, sẽ nảy
sinh xu hướng các đối thủ cạnh tranh phải bắt tay, liên hiệp với nhau, góp vốn để
sản xuất kinh doanh chung. Các nhà tư bản liên kết với nhau thông qua việc ký
kết hợp đồng để hình thành các xí nghiệp liên hiệp-hình thức đầu tiên của công
ty cổ phần, làm cho quy mô sản xuất và quy mô tư bản ngày càng mở rộng.
11
Sự phát triển của hệ thống tín dụng và nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất
đã tạo ra cơ sở cho sự chuyển hoá dần dần những xí nghiệp TBCN thành những
công ty cổ phần TBCN, một hình thức tập trung tư bản dưới CNTB. Tín dụng trở
thành công cụ tích tụ, tập trung vốn của nhà tư bản thông qua phát hành cổ phiếu
để thực hiện đổi mới tài sản cố định, ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công
nghệ tiên tiến. Như vậy, chế độ tín dụng đẩy nhanh tốc độ phát triển các lực
lượng sản xuất vật chất và sự hình thành thị trường thế giới. Kế thừa và phát
triển học thuyết của Các Mác và Ph.Ăngghen, Lênin cho rằng, việc CNTB mới –
chủ nghĩa đế quốc, trong đó độc quyền giữ vị trí thống trị thay thế CNTB cũ, chế
độ tự do cạnh tranh thống trị, là đặc trưng cơ bản nhất của giai đoạn phát triển
hiện đại của CNTB. Nó nói lên bản chất kinh tế của CNTB trong giai đoạn phát
triển mới, trong đó quan hệ sản xuất TBCN vận động dưới hình thức mới, trong
cái vỏ vật chất của nó là tổ chức độc quyền.
chủ nghĩa đế quốc, mà từ thế kỷ XIX trở về trước chưa từng có, là ở chỗ các
Trust quốc tế phân chia thế giới với nhau về mặt kinh tế, ký hiệp ước với nhau
để phân chia các nước được coi là khu vực tiêu thụ hàng hoá. Vì vậy khi nghiên
cứu sự hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế nói chung và các tổ chức độc
quyền quốc tế xuyên quốc gia nói riêng phải xuất phát từ sự tích tụ và tập trung
sản xuất. Tích tụ và tập trung sản xuất đạt đến một mức độ nhất định làm cho các
nhà độc quyền quốc gia vươn ra khỏi biên giới quốc gia, hoạt động trên phạm vi
quốc tế, thực hiện phân chia thế giới về mặt kinh tế (thị trường).
Ngày nay quá trình tích tụ và tập trung sản xuất với nhiều biểu hiện mới,
điểm nổi bật là từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay đã xuất hiện quá trình
tích tụ và tập trung sản xuất cao độ, hình thành các công ty cực lớn thống trị
trong các ngành, đồng thời, xuất hiện quá trình liên hợp hoá và sự hình thành các
concern đa ngành. Cùng với quá trình đó là quá trình chuyên môn hoá với tính
cách là kết quả của sự phát triển phân công lao động xã hội, quá trình này diễn ra
thông qua toàn bộ lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nhưng chỉ đến giai
đoạn độc quyền, sự chuyên môn hoá mới có vai trò mới, tạo ra những điều kiện
cho sự phát triển của các công ty độc quyền chủ chốt. Chúng thâu tóm hàng
ngàn, hàng vạn xí nghiệp vừa và nhỏ bao quanh chúng, về hình thức vẫn giữ tính
độc lập về mặt pháp lý nhưng đã trở thành một khâu chức năng trong kinh doanh
của công ty độc quyền. Các đơn vị nhỏ này trước hết phải chịu hậu quả của
những biến động kinh tế và những rủi ro của việc phân công chuyên môn hoá.
Sau nữa, sự tồn tại của chúng cho phép giới độc quyền nhà nước huy động được
toàn bộ lực lượng lao động và mọi tiềm năng của xã hội vào quá trình sản xuất,
tạo ra sự hỗ trợ trong việc cải tổ cơ cấu sản xuất, kỹ thuật trong nước. Cuối cùng,
sự khác biệt về chế độ tiền lương và bảo hiểm của chúng tạo điều kiện cho các
13
công ty chủ đạo kiếm thêm giá trị thặng dư. Cùng với quá trình tích tụ và hình
14
chức, thành phân công trong nội bộ xí nghiệp, để khắc phục sự mất hiệu quả thị
trường do dùng kỹ thuật mới, hoặc sản xuất sản phẩm mới gây nên.
Từ đó cuộc cách mạng quản lý trong các xí nghiệp Mỹ đã diễn ra. Do liên
kết theo chiều dọc nên phạm vi phân công trong nội bộ xí nghiệp công thương
hiện đại đã bao gồm cả việc sản xuất và thu mua nguyên liệu, sản xuất gia công
các bộ phận rời, sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh và cả phân phối, tiêu thụ. Để
đảm bảo cho xí nghiệp phát triển lâu dài, chúng còn phải quy hoạch dài hạn và bố
trí nguồn vốn trong nội bộ xí nghiệp, phải đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa
học, công nghệ mới (R&D). Do đó, các xí nghiệp công thương hiện đại cần phải
tiến hành cải cách thể chế và phương pháp quản lý xí nghiệp. Chính điều này đã
dẫn tới việc hình thành, phát triển và chín muồi chế độ quản lý theo cấp bậc.
Chế độ quản lý theo cấp bậc đã phân định rõ việc hoạch định chính sách
và quản lý trong nội bộ xí nghiệp, làm cho xí nghiệp có thể quản lý, điều tiết
nhịp nhàng quá trình phân công, trao đổi theo hướng ngày càng phức tạp, làm
cho quy mô, năng lực và hiệu suất của nội bộ xí nghiệp cao hơn. Do đó, chế độ
quản lý theo cấp bậc đã làm hoàn thiện chế độ xí nghiệp hiện đại và cuối cùng
“bàn tay hữu hình” từng bước được thay thế bởi “bàn tay vô hình” của thị
trường. Cùng với sự phát triển của các xí nghiệp công thương hiện đại, chế độ xí
nghiệp của Mỹ cũng đã được mở rộng sang Tây Âu và Nhật Bản. Cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX, trong các xí nghiệp của Tây Âu và Nhật Bản cũng xuất
hiện cao trào hợp nhất, nhưng do quy mô và cơ cấu thị trường, cũng như bối
cảnh chính trị, văn hoá và chế độ xã hội không giống nhau, nên xí nghiệp chưa
diễn ra sự thay đổi về bản chất. Sau chiến tranh thế giới thứ II, dưới sự tác động
của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự thách thức của xí nghiệp
Mỹ, buộc các xí nghiệp của Tây Âu và Nhật Bản phải có những cải thiện mạnh
mẽ để phát triển.
công trường thủ công, đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho tư bản sinh lợi.
Đồng thời, về mặt tổ chức sản xuất, đây cũng là hình thức tỏ ra có tính hiệu quả
cao, vì giảm được chi phí sản xuất, tận dụng được mọi khả năng, nguyên liệu, phát
huy tính năng động sáng tạo, , do đó làm tăng quy mô và tỷ suất lợi nhuận.
+ Hai là, quá trình tích tụ sản xuất cũng dẫn đến sự hình thành các tổ chức
độc quyền. Độc quyền hiện đại mang nhiều dấu ấn của thời đại cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại. Trước hết là sự liên hiệp hoá mà V.I.Lênin đã phân
tích đến nay có những biểu hiện sinh động. Sự liên kết theo chiều ngang và dọc
được đẩy mạnh hơn bao giờ hết, dẫn đến quá trình liên kết đa ngành, trong đó
lĩnh vực dịch vụ, ngân hàng được các tổ chức độc quyền quan tâm và bành
trướng quyền lực. Tình hình đó dẫn đến sự tập trung tư bản, tập trung sản xuất
kinh doanh hết sức to lớn.
16
+ Ba là, quá trình tích tụ sản xuất trong nông nghiệp ngày càng đẩy mạnh,
dẫn đến việc xuất hiện các hình thức công ty liên hợp nông–công nghiệp, nông–
thương nghiệp ở Mỹ, những năm 1980, liên hiệp nông–công nghiệp chiếm trên
30% sản lượng nông sản. Ở Nhật Bản, các liên hợp nông–thương nghiệp kiểm
soát 80–95% sản lượng ngũ cốc. Quá trình tích tụ sản xuất trong nông nghiệp,
cùng với sự tác động của cách mạng khoa học & công nghệ hiện đại đã dẫn đến
hiện tượng cấu tạo hữu cơ tăng lên và giảm ý nghĩa của địa tô tuyệt đối, tạo ra
mối liên hệ ngày càng tăng giữa công–nông nghiệp; đẩy mạnh xu hướng giảm tỷ
trọng nông nghiệp trong cơ cấu lao động cũng như trong tổng sản phẩm quốc
dân (hiện nay chỉ còn khoảng 2–10% ở các nước tư bản phát triển cao). Điều này
cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã tác động trở lại, thúc đẩy
nông nghiệp phát triển mạnh trong cạnh tranh, nền nông nghiệp cũng phải có khả
năng cạnh tranh cao.
Tóm lại, tích tụ tư bản và tập trung sản xuất lâu dài đã dẫn đến hình thành
lớn. Ví dụ như công ty Philips Electronic (Hà Lan) là một trong những công ty
điện tử hàng đầu thế giới với 263 chi nhánh đặt ở hơn 70 nước, nếu tính cả nước
mẹ thì có 378 chi nhánh. Công ty Heineken (Hà Lan) là công ty sản xuất bia đã
mua nhà máy bia của Italia, Hungari. Hãng Renaul SA (Pháp) chuyên về lĩnh
vực động cơ máy có 136 (trong số 207) chi nhánh ở nước ngoài như ở Đức, Tây
Ban Nha, Ba Lan, Tổ hợp dầu lửa Total (Pháp) với 602 chi nhánh có mặt ở
hơn 80 nước trên thế giới và các trọng điểm dầu khí như Trung Đông, Biển Bắc,
Mỹ – Latinh. Trong đó, có 150 cơ sở sản xuất ở 35 nước, Total có cổ phần trong
17 cơ sở lọc dầu ngoài nước Pháp và Hà Lan, Đức, Mỹ và Châu Phi. Mỗi năm
Total khoan thăm dò hoặc khoan cho sản xuất ở 20 nước trên một diện tích rộng
72 vạn m
2
. Khí đốt do Total sản xuất chủ yếu được khai thác ở Inđônêxia, Thái
Lan, Mianma, Arhentina và biển Bắc.
- Trong phần này, tác giả sẽ phân tích kỹ hơn về đặc trưng cắm nhánh
ngoại quốc – một đặc trưng cơ bản của các công ty xuyên quốc gia. Đó là việc
những xí nghiệp con, cháu và những liên hợp ở nước ngoài đặt dưới sự kiểm soát
của công ty mẹ. Ngày nay, các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia ít mang
tính cổ truyền, thực chất nó là các công ty xuyên quốc gia mà công ty mẹ thực
hiện phân công chuyên môn hoá đối với các chi nhánh. Để thực hiện cắm nhánh
ở nước ngoài, các TNCs cũng thực hiện một số hình thức cơ bản, như thiết lập
các xí nghiệp 100% vốn của mình và hình thức liên doanh, Đối với hình thức
100% vốn, là hình thức mà các TNCs sử dụng sớm nhất với việc các xuyên quốc
gia thực hiện mua lại xí nghiệp của nước chủ nhà - thường là các xí nghiệp kinh
doanh kém hiệu quả và có nguy cơ phá sản, hoặc đầu tư trực tiếp xây dựng xí
nghiệp mới. Đây cũng là cách thức khá phổ biến trong thời đại ngày nay, khi mà
18
Hình 1.1: Biểu diễn đặc trƣng cắm nhánh của các TNCs
- Về cơ cấu tổ chức, quản lý: các TNCs là những hình thức liên kết của
nhiều công ty hoạt động trong cùng một ngành, hay những ngành khác nhau
dưới sự điều tiết chung của một công ty mẹ đối với hệ thống các chi nhánh ở
nhiều nước. Trong thực tế, các TNCs trên thế giới thường áp dụng những mô
hình quản trị điều hành cơ bản sau:
+ Mô hình “kim tự tháp”, về thể chế quản lý tập trung quyền lực theo
chiều dọc, trực tuyến.
+ Mô hình “mạng lưới” (đa trung tâm), về thể chế quản lý phân tán quyền
lực cho các bộ phận chi nhánh.
+ Mô hình “hỗn hợp” (nhị nguyên), về thể chế quản lý phối hợp giữa tập
trung và phân tán quyền lực.
19
Tuy vậy, đối với từng nhóm nước lại áp dụng mô hình mang tính đặc thù
riêng tuỳ theo trình độ phát triển, văn hoá, tập quán, địa lý,
+ Đối với nhóm các TNCs Mỹ – Châu Âu: do chịu ảnh hưởng lâu dài của
hệ thống kinh tế thị trường nên các nước này luôn lấy mô hình “tự do cạnh
tranh” làm nội dung cơ bản của chế độ hoạt động của TNCs. Các TNCs Âu-Mỹ
có đặc trưng chủ yếu là quyền sở hữu tách khỏi quyền kinh doanh. Các cổ đông
là người sở hữu không trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh, mà tác động vào
các quyết định của công ty thông qua hội đồng quản trị do Đại hội cổ đông bầu
ra. Hội đồng quản trị thuê giám đốc chuyên nghiệp điều hành việc kinh doanh
của công ty. Giám đốc công ty là người làm thuê cho công ty, chịu mọi trách
nhiệm về hoạt động kinh doanh của công ty. Quan hệ trong tổ chức nội bộ của
+ Công ty xuyên quốc gia thương mại: gồm những công ty mà chi nhánh ở
nước ngoài là những chi nhánh chủ yếu thực hiện việc xuất nhập khẩu hàng hoá.
Ngoài ra việc sản xuất cũng có thể được thực hiện tại chỗ ở các chi nhánh này khi
việc thâm nhập thị trường trở nên khó khăn. Song việc sản xuất tại chỗ thường có
giới hạn, chỉ sản xuất một phần sản phẩm theo mẫu của công ty mẹ, hoặc chỉ thực
hiện việc lắp ráp một số bộ phận linh kiện để thực hiện xuất khẩu tại chỗ.
+ Công ty xuyên quốc gia sản xuất: Với loại hình này, quy trình sản xuất
một sản phẩm được phân chia theo những công đoạn nhất định và mỗi xí nghiệp
chi nhánh sẽ đảm nhiệm sản xuất một bộ phận hoặc một số chi tiết sản phẩm,
hoặc lắp ráp sản phẩm cuối cùng. Các bộ phận của sản phẩm được lưu thông
giữa các chi nhánh, trong nội bộ công ty, cuối cùng đến một chi nhánh, ở đó sản
phẩm được lắp ráp và mang nhãn hiệu của nước mẹ hoặc nước chủ nhà. Các
TNCs điển hình cho loại này như: Sony, IBM, Toyota, Honđa,
+ Công ty xuyên quốc gia tài chính, kỹ thuật: là những công ty có sức mạnh
về tài chính, kỹ thuật, hoạt động trong những ngành có hàm lượng khoa học cao
và làm nhiệm vụ cung cấp kỹ thuật, tài chính cho các công ty chi nhánh ở nước
ngoài. Qua con đường này, công ty mẹ kiểm soát, chi phối các hoạt động của các
công ty nhánh. Điển hình cho loại hình này: Exxon, Mc Donal Douglas, Mobil
Oil,
- Tuỳ theo tính chất phức tạp của sản xuất và hình thức tổ chức công ty
Theo Maicơn Z.Brucơ và H.Liremmơ có thể chia các công ty xuyên quốc
gia thành các loại công ty A, B, C, D. Trong đó công ty loại A chỉ sản xuất một
loại sản phẩm cá biệt; công ty loại B sản xuất những nhóm sản phẩm trong nước
và tổ chức việc tiêu thụ ở nước ngoài theo sự phân chia các khu vực địa lý, với
mục đích đẩy mạnh và tạo ra các điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoá;
công ty loại C cũng sản xuất các nhóm sản phẩm nhưng việc sản xuất ở nước
21
nghiệp với nhau, thông qua hợp nhất hay bị thôn tính. Việc điều hành sản xuất
kinh doanh hoàn toàn do Ban quản trị đảm nhiệm. Ví dụ, công ty General Motor