Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
***
NGUYỄN MAI HƢƠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS. LÊ DANH TỐN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2008 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 6
1.1. Lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế

6
1.1.1. Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội

38
2.2.2. Tình hình giáo dục và đào tạo
44
2.2.3. Thu nhập và mức sống
57
2.2.4. Sức khỏe và dinh dưỡng
62
2.2.5. Vấn đề việc làm
66
2.3. Đánh giá chung về phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam trong quá trình
2
hội nhập kinh tế quốc tế
68
2.3.1. Những thành tựu trong phát triển nguồn nhân lực và tác động của nó đến
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

68
2.3.2. Những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực
70
Chương 3. QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI 74
3.1. Bối cảnh mới và tác động của nó đến phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam
74

3.3.7. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển nguồn nhân
lực và hệ thống tổ chức quản lý phát triển nguồn nhân lực

93
KẾT LUẬN
97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực là một nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển lực lượng
sản xuất xã hội ở mọi thời đại. Ở nước ta, nguồn nhân lực là một tiềm năng dồi
dào để tăng trưởng kinh tế, song mặt khác, chính nguồn nhân lực đó chưa đáp
ứng yêu cầu của phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế. Điều đó bắt nguồn từ những hạn chế về chất lượng, cơ cấu lao
động, về thể chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn nhân lực. Hơn nữa,
trong xu thế hội nhập hiện nay, cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công
nghệ, tri thức ngày càng trở thành động lực phát triển mang tính chất quyết định
của nền kinh tế mới - kinh tế tri thức, các nhân tố sản xuất truyền thống như đất
đai, tiền vốn, nhà xưởng, máy móc là rất quan trọng nhưng đã tụt dần xuống
hàng thứ hai. Con người với khả năng nắm giữ kiến thức đang trở thành nhân tố
so sánh lớn nhất và yêu cầu họ không chỉ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
mà phải có sức khoẻ, ý thức tổ chức kỷ luật tốt và tác phong công nghiệp. Nhân
tố con người trở thành mũi nhọn quyết định sức mạnh cạnh tranh của mối quốc
gia trong nền kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy, việc làm rõ vấn đề con người có thể
đóng góp như thế nào cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và làm sao để con

- Vũ Bá Thể, Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Lao động - xã hội,
2005.
- Vũ Minh Mão, Hoàng Xuân Hoà, Dân số và chất lượng nguồn nhân lực
ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế, Tạp chí Cộng sản, số 10, tháng
5/2004. 5
- Geoffey Hainsworth, Phát triển nguồn nhân lực: đáp ứng thách thức của
quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ và một “nền kinh tế dựa trên những hiểu biết
mới”, NXB Thế giới, 2001.
- Asian Development Bank (1991), Human Resourse Policy & Ecconomic
Development (Selected country Studies), Printed in the Philipin.
- Toàn cầu hoá chuyển đổi và phát triển tiếp cận đa chiều, NXB Thế giới,
2005.
- Phạm Thái Hưng, Sức ép hội nhập và sự sẵn sàng hội nhập của Việt
Nam. NXB Thế giới, 2004.
- Ngô Doãn Vịnh (chủ biên), Chiến lược phát triển bàn về tư duy và hành
động có tính chiến lược, NXB Chính trị quốc gia, 2007.
- Lê Văn Toan, Lao động, việc làm trong xu thế toàn cầu hoá, NXB Lao
động - xã hội, 2007.
Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam là một vấn đề có nội dung và phạm vi rộng. Các công trình trên chỉ đề
cập các giác độ liên quan, chưa nghiên cứu vấn đề một cách tổng thể, hoặc các
tác giả đưa ra các giải pháp cho từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế -
xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này một cách hệ thống từ góc độ khoa học
kinh tế chính trị, đưa ra những định hướng và giải pháp thích hợp với tình hình
mới là hết sức cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 7
- Phân tích và đưa ra đánh giá khách quan về thực trạng phát triển nguồn
nhân lực ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua.
- Đưa ra các giải pháp thiết thực góp phần phát triển nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
trong thời gian tới. 8
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về phát
triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thời gian tới.

Có một cách hiểu hẹp hơn nữa về nguồn nhân lực là yếu tố của sự phát
triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động cuả xã hội bao gồm nhóm dân cư 10
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Cách nhìn này cho thấy nguồn
nhân lực chính là nguồn lao động và nguồn lao động sẽ bao gồm dân số trong độ
tuổi lao động.
Theo tổ chức lao động quốc tế: Lực lượng lao động là bộ phận dân số
trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp.
Các cách hiểu trên về nguồn nhân lực, nguồn lao động, lực lượng lao động
chỉ khác nhau về xác định quy mô nguồn lực con người, nhưng có một điểm
chung là đều nói lên khả năng lao động của xã hội. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu
một cách khái quát nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một
nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó.
Số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào quy mô dân số, tốc độ tăng, tỷ lệ
giảm dân số của một quốc gia, tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động, . Quy
mô nguồn nhân lực ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc
gia. Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể
hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn
nhân lực: thể lực, trí lực và tâm lực. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trình
độ phát triển kinh tế, phản ánh sự phát triển về mặt đời sống xã hội, chất lượng
nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là
nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội
nhất định.
• Phát triển nguồn nhân lực
Cho đến nay chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm phát triển nguồn
nhân lực. Tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà có thể có những nhận thức khác nhau để
đưa ra khái niệm về phát triển nguồn nhân lực. Cụ thể như:
Tổ chức UNESCO cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi
12
thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội (trí tuệ, thể chất, phẩm chất
tâm lý - xã hội) và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng
yêu cầu, đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng
giai đoạn phát triển. Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực luôn luôn là động
lực thúc đẩy sự phát triển và tác động đến toàn bộ đời sống xã hội. Kinh nghiệm
của nhiều nước công nghiệp hoá trước đây đã chỉ ra phần lớn thành quả phát
triển không phải nhờ nguồn tài chính kếch xù mà nhờ những hoàn thiện trong
năng lực của con người, sự tinh thông, bí quyết nghề nghiệp và quản lý. Đầu tư
cho phát triển con người là vấn đề liên ngành, đa lĩnh vực và tác động đến đời
sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng của họ và đến toàn bộ xã hội nói
chung.
1.1.1.2. Thước đo đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể
hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất của nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển
kinh tế, mà còn phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, nguồn nhân
lực của một quốc gia có chất lượng cao chứng tỏ quốc gia đó phát triển và thể
hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định.
Để có cơ sở phân tích sự phát triển nguồn nhân lực cần hiểu rõ một số chỉ
tiêu đánh giá nguồn nhân lực sau đây:
- Chỉ tiêu phản ánh tình hình sức khoẻ của dân cư:
Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài cơ
thể con người, giữa thể chất và tinh thần. Có rất nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạng
thái về sức khoẻ, Bộ y tế nước ta quy định có 3 loại như sau:
Loại A: thể lực tốt, không có bệnh tật gì
+ Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông;
+ Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng;
+ Trình độ tay nghề theo bậc thợ.
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường được kết hợp chặt chẽ với nhau,
thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không đào tạo trong từng tập thể
nguồn nhân lực.
- Chỉ số tổng hợp phát triển con người - HDI (Human Development
Index):
Chỉ số này xác định bởi các chỉ tiêu:
+ Tuổi thọ bình quân
+ Thu nhập bình quân trên đầu người (GDP/người)
+ Trình độ học vấn (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học trung bình của dân cư)
Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà
còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng, tiến bộ xã hội.
- Chỉ tiêu thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với giáo dục và đào tạo:
tỷ lệ % ngân sách giành cho giáo dục và đào tạo so với tổng ngân sách, tỷ lệ %
ngân sách giành cho giáo dục và đào tạo so với GDP.
1.1.1.3. Những nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực
Xuất phát từ khái niệm phát triển nguồn nhân lực mang tính chất tổng hợp
nên các yếu tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực như: biến đổi số lượng,
chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực khá đa dạng và phân theo những nhóm cơ
bản như sau:
- Chăm sóc sức khoẻ: Trong lao động sản xuất, con người vận dụng kết
hợp cả thể lực và trí lực. Thể lực là sức mạnh cơ thể, cơ bắp đảm bảo về mặt sinh
học cho sự tiêu hao sức lao động của con người trong lao động sản xuất. Trí lực
là sức mạnh tư duy, trí tuệ là cái có ý nghĩa quyết định nhất chất lượng của yếu 15
tố con người trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất. Tuy thể lực không phải là

của quá trình sắp xếp lại của một cấu trúc kinh tế xã hội mới. Thực tế đòi hỏi
phải có chính sách, giải pháp đồng bộ để hạn chế thất nghiệp. Cùng với sự phát
triển của nền kinh tế thị trường, chênh lệch thu nhập và mức sống giữa các tầng
lớp dân cư trong xã hội đang có xu hướng tăng lên trên bình diện cả nước. Điều
này cũng cho thấy khi nền kinh tế thị trường phát triển thì kéo theo là sự phân
tầng về thu nhập mức sống của người dân. Sự phân hoá giàu nghèo ở mức độ cao
sẽ có những tác động tiêu cực đến phát triển nguồn nhân lực. Bởi lẽ một bộ phạn
dân cư rơi vào tình trạng nghèo tuyệt đối sẽ không có điều kiện để duy trì thể lực
cần thiết, không có khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục, theo đó là sự
nảy sinh của tệ nạn xã hội. Điều đó tác động xấu đến phát triển nguồn nhân lực
trong cả ngắn hạn và dài hạn. Sự nghèo đói tuyệt đối và tương đối ở mức cao sẽ
dẫn tới những bất ổn về xã hội, vì vậy tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế -
xã hội nói chung, phát triển nguồn nhân lực nói riêng. Sự gia tăng của mức thu
nhập cũng kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình, tỷ lệ chi
tiêu cho nhu cầu như: ăn uống, may mặc giảm đi để thay vào đó là tỷ lệ chi cho
việc mua sắm xây dựng nhà cửa và văn hoá giáo dục tăng nhanh. Mức thu nhập
được cải thiện cũng tác động làm giảm đi tình trạng nghèo đói của các hộ gia
đình. Cứ tính được thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia thì xét trên
góc độ nào đó đã đo lường được kết quả và đánh giá các thành tựu phát triển
kinh tế gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng dân số. Mức sống được đo bằng
giá trị GDP đầu người, GDP đầu người được tính dựa trên hai yếu tố: tổng sản
phẩm trong nước và dân số trung bình.
- Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện tiền đề
để nâng cao thu nhập và mức sống dân cư, và vì vậy là tiền đề để phát triển
nguồn nhân lực. Tăng trưởng kinh tế cao là cơ sở để tăng tích luỹ, đầu tư, thúc
đẩy tái sản xuất theo chiều rộng và theo chiều sâu. Đẩy mạnh tái sản xuất sẽ thúc 17
đẩy phát triển nguồn nhân lực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế quyết định tốc độ

quốc gia nhằm cân đối cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động để phát triển kinh tế xã
hội.
1.1.1.4. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Vai trò của phát triển nguồn nhân lực được thể ở một số nội dung chủ yếu
sau:
- Thứ nhất, đảm bảo cơ cấu lao động hợp lý để nâng cao năng suất lao động
Để đảm bảo cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng nhanh thì cơ cấu lao
động phải hợp lý. Mục tiêu của phát triển nguồn nhân lực là tạo ra cơ cấu lao
động hợp lý, đảm bảo tăng lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ lên
tuyệt đối và tương đối, giảm lao động trong ngành nông nghiệp xuống tuyệt đối
và tương đối. Sự biến đổi về cơ cấu lao động theo cơ chế thị trường là tăng lao
động khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tăng lao động xuất khẩu giảm tỷ lệ thất
nghiệp, khuyến khích sự phát triển trong khu vực kinh tế tư nhân. Như vậy, việc
phát triển nguồn nhân lực là một cuộc cải cách mạnh mẽ về cơ cấu lao động của
một quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Năng suất lao động là sức mạnh của cạnh tranh trong xu thế hội nhập,
quyết định sự tiến bộ xã hội của mọi thời đại. Phát triển nguồn nhân lực sẽ hình
thành cơ cấu lao động hợp lý có trình độ chuyên môn cao để nâng cao năng suất lao
động trong các lĩnh vực của nền kinh ế quốc dân.
- Thứ hai, đảm bảo số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục
vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Phát triển nguồn nhân lực sẽ tạo ra đội ngũ những người lao động có
chuyên môn kỹ thuật đủ về số lượng và cao về chất lượng phục vụ quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế. 19
Sự phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập tạo ra một phong
cách lao động mới, người lao động có trình độ học thức và chuyên môn kỹ thuật

nước kém phát triển hay phát triển cũng có hai cách nhìn nhận như vậy. Mỗi
quốc gia có cách hiểu về nội dung toàn cầu hoá như thế nào mà xác định thời
điểm toàn cầu hoá bắt đầu và cái đích nó đi tới cùng với những hình thức đa
dạng, hướng tới một nền kinh tế toàn cầu thống nhất không có biên giới quốc gia
về kinh tế.
Thuật ngữ toàn cầu hoá đã xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1961 nhưng đến
những năm 80 của thế kỷ XX nó mới được phổ biến. Thực ra trước đó người ta
đã sử dụng khái niệm hội nhập toàn cầu với ý nghĩa tương tự như toàn cầu hoá. Do
vậy có thể xem hội nhập và toàn cầu hoá là những khái niệm tương đồng.
Toàn cầu hoá và hội nhập có thể chia thành nhiều mặt như: chính trị, an
ninh, kinh tế, văn hoá Nhưng cho tới nay, thì toàn cầu hoá và hội nhập tiến
triển mạnh nhất và rõ nét nhất là toàn cầu hoá và hội nhập về kinh tế.
Toàn cầu hoá kinh tế chính là quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã đạt
đến trình độ đưa vào lưu thông kinh tế toàn cầu các khâu của quá trình tái sản
xuất xã hội dựa trên sự phân công toàn cầu, thông qua các loại hình kinh tế khác
nhau giữa các nước và do đó khiến cho các nền kinh tế quốc gia xâm nhập và
gắn bó với nhau, chuyển hoá thành nền kinh tế toàn cầu. Như vậy, toàn cầu hoá
kinh tế là kết quả của sự phát triển cao độ quốc tế hoá sản xuất và phân công
quốc tế. Đây là một tất yếu khách quan không phụ thuộc vào ý chí của bất kể
nước nào, kể cả Mỹ. Tiến trình toàn cầu hoá kinh tế xuất hiện và phát triển cùng
với sự phát triển của thị trường thế giới. Từ đó có thể nói, toàn cầu hoá kinh tế là
sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia,
khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động và 21
phát triển. Sự gia tăng của xu hướng này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và
quy mô mậu dịch thế giới, ở sự luân chuyển của các dòng vốn và lao động trên
quy mô toàn cầu.
Cơ sở khách quan và những nhân tố thúc đẩy toàn cầu hoá kinh tế là:

tế. Cách hiểu này xoay quanh hai loại ý kiến:
Một là, quan niệm hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia tiến
hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết quốc tế song
phương, đa phương và toàn cầu về các lĩnh vực thương mại, đầu tư và các lĩnh
vực khác có liên quan nhằm đảm bảo tính tương thích giữa hệ thống kinh tế quốc
gia với hệ thống kinh tế khu vực và toàn cầu trên cơ sở những nguyên tắc và quy
định thống nhất. Điều thấy rõ nhất về quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ quan
niệm này là việc thống nhất các chính sách, quy định pháp lý trong từng quốc gia
với những nguyên tắc, thông lệ và tập quán quốc tế.
Hai là, quan niệm hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia loại
bỏ dần các rào cản để hoạt động thương mại, di chuyển các yếu tố sản xuất và
thanh toán quốc tế diễn ra một cách thuận lợi. Loại quan điểm này hiểu quá trình
hội nhập gắn với quá trình tự do hoá.
Mặc dù có những quan niệm khác nhau nhưng quan niệm tương đối phổ
biến hiện nay là: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc
gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu trong đó các nước thành
viên chịu sự ràng buộc theo những quy định chung của cả khối. Nói một cách
khái quát, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình
kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế,
thực hiện thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế
đối ngoại khác. 23
Nội dung chủ yếu của hội nhập kinh tế đối với các nước đang phát triển,
trong đó có Việt Nam là: 1) Hội nhập vào thị trường toàn cầu; 2) Hội nhập với
các luồng vốn đang lưu chuyển tự do trên toàn cầu và hệ thống tài chính, tiền tệ
toàn cầu; 3) Hội nhập với các tiêu chuẩn toàn cầu, với hệ thống pháp luật toàn
cầu liên quan đến hoạt động kinh tế; 4) Hội nhập vào nền kinh tế tri thức, phát
triển dựa trên khoa học và công nghệ cao; 5) Hội nhập với lực lượng lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status