Đề án: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH ở Quảng Nam potx - Pdf 12

Đề án: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH ở Quảng Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng và xu thế phát triển
kinh tế tri thức, lấy tri thức làm động lực phát triển hiện nay, nguồn nhân lực ngày
càng thể hiện vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa
phương hay một quốc gia. Việt Nam đang bước vào quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nên đòi hỏi một lực lượng đông đảo
nhân lực có trình độ, có khả năng làm việc trong môi trường công nghệ và cạnh
tranh. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, có trình độ chuyên môn và
nhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công
nghệ sản xuất, là yếu tố then chốt bảo đảm nền kinh tế Việt Nam phát triển theo
hướng hiện đại, bền vững.
Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực đúng hướng, đạt đến trình độ cao sẽ tạo ra
các giá trị “hàng hóa đặc biệt”, đó là điều kiện rất quan trọng để một tỉnh nghèo,
chậm phát triển, khí hậu khắc nghiệt như Quảng Nam có cơ hội vươn lên, tiến kịp
với các địa phương trong khu vực và cả nước, cũng là điều kiện để nâng cao đời
sống của người dân và có những đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của đất
nước. Do vậy, việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng nguồn nhân lực dể
có những giải pháp tạo ra một sự chuyển biến về chất, phát triển nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH cho tỉnh Quảng Nam trở thành nhiệm
vụ cấp thiết.
Vì vậy em chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Quảng Nam”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Tập trung nghiên cứu, đánh giá đúng thực
trạng, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Nam từ 2006 – 2011, nhằm
đánh giá ưu điểm, hạn chế tìm ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong quá
trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa tỉnh Quảng Nam, góp phần vào sự phát triển
nhanh và bền vững nền kinh tế Quảng Nam trong giai đoạn tới .
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: là nghiên cứu thực trạng phát
triển nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Nam từ 2006 – 2011, định hướng và giải
pháp triển nguồn nhân lực từ nay đến năn 2020.

toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động .
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân
lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con
người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể
phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động
của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân
cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội,
tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các
yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ
tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. nguồn nhân lực được biểu hiện trên
hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc
theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về
chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành
nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi
lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Như vậy
SVTH: Trần Mạnh Dũng – Lớp 31K9QNa
Đề án: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH ở Quảng Nam
theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải
là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực
tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những
người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…Từ những quan niệm
trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu: “NNL là tổng hòa thể
lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia,
trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc
trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ
cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
1.1.2. Khái niệm có liên quan
Khái niệm về phát triển NNL.

Như vậy, phát triển NNL với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn
đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của NNL của một quốc gia.
Khái niệm về CNH, HĐH
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về CNH, HĐH, có những khái niệm
chính như sau:
Theo tổ chức phát triển công nghiệp của liên hợp quốc UNICO thì: “Công
nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong lĩnh vực này làm tăng của cải
nền kinh tế quốc dân được huy động đó, phát triển một cơ cấu kinh tế nhiều ngành
nghề ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc biệt của cơ cấu kinh tế này là có một
bộ phận kinh tế luôn thay đổi sản xuất ra những tư liệu và hàng tiêu dùng, có khả
năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao và đạt tới sự tiến
bộ về kinh tế - xã hội.
Theo giáo trình kinh tế chính trị thì “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi
căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế,
xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra
năng suất lao động xã hội cao hơn”.
Chúng ta có thể hiểu CNH, HĐH ở nước ta tạo ra những tiền đề về vật chất
kỹ thuật, về con người công nghệ, phương tiện, phương pháp – những yếu tố cơ
bản của lực lượng sản xuất cho chủ nghĩa xã hội.
1.1.3. Phân loại NNL.
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành NNL
- NNL có sẵn trong dân số: Đây là dân số hoạt động bao gồm những người
có khả năng lao động đã hoặc chưa tham gia vào quá trình sản xuất xã hội. Bao
gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động,
không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm.
- NNL tham gia hoạt động kinh tế: Đó là những người có khả năng lao
động, đang hoạt động trong những ngành kinh tế quốc dân.
Như vậy giữa nguồn lao động có sẵn trong dân cư và nguồn lao động tham
gia hoạt động kinh tế có sự khác nhau. Sự khác nhau này là do một bộ phận những

hay dùng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ nguồn nhân lực trong dân số.
- Tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số.
- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người trong độ tuổi lao động.
- Tỷ lệ lao động có việc làm trong lực lượng lao động.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng NNL
Chất lượng nguồn lực con người là một khái niệm tổng hợp bao gồm những
nét đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, năng lực quản lý, mức độ thành thạo
SVTH: Trần Mạnh Dũng – Lớp 31K9QNa
Đề án: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH ở Quảng Nam
trong công việc, phẩm chất đạo đức, tình yêu quê hương đất nước, ý thức giai cấp,
ý thức về trách nhiệm cá nhân với công việc, với gia đình và xã hội, giác ngộ và
bản lĩnh chính trị… và sự kết hợp các yếu tố đó. Trong các yếu tố trên thì phẩm
chất đạo đức và trình độ học vấn là quan trọng nhất, nó nói lên mức trưởng thành
của con người, quy định phương pháp tư duy, nhân cách, lối sống của mỗi con
người.
Chất lượng NNL được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu
chủ yếu sau:
- Chỉ tiêu biểu trạng thái sức khỏe của NNL.
Một người có sức khỏe không đơn thuần là người đó không có bệnh tật. Sức
khỏe theo định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh
thần, là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất
và tinh thần.
Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khỏe qua một số chỉ tiêu chủ yếu
sau:
+ Tuổi thọ bình quân.
+ Chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động.
+ Chỉ tiêu phân loại sức khỏe.
+ Chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy
giảm sức khỏe.

lao động xã hội và do vậy, chất lượng lao động cũng bị hạn chế. Chất lượng nguồn
lực con người nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người hoạt động trong một
đơn vị sản xuất, kinh doanh hay giảm số người hoạt động trong một tổ chức xã
hội, đồng thời cũng tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của một tập thể
người trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội.
Số lượng và chất lượng NNL được nghiên cứu trên các khía cạnh quy mô,
tốc độ tăng NNL, sự phân bố theo vùng, khu vực và lãnh thổ; trong đó, trí lực thể
hiện ở trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, là yếu tố trí tuệ, tinh thần, là cái nói
lên tiềm lực sáng tạo ra các giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con người, vì
thế nó đóng vai trò quyết định trong sự phát triển NNL.
Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp mà
còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin và ý
trí, là khả năng vận động của trí lực. Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và
phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực
tiễn, để biến tri thức vào sức mạnh vật chất. Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể
phát huy được lợi thế khi thể lực con người được phát triển.
Ngoài ra, nói đến NNL cần xét đến các yếu tố nhân cách, thẩm mỹ, quan
điểm sống. Đó là, sự thể hiện nét văn hóa của người lao động, được kết tinh từ một
loạt các giá trị: Đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và tinh thần
trách nhiệm trong công việc khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, khả năng hội
nhập với môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc và các tri thức khác về giá trị của cuộc
sống.
SVTH: Trần Mạnh Dũng – Lớp 31K9QNa
Đề án: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH ở Quảng Nam
1.2. Vai trò, vị trí và cơ cấu NNL trong quá trình CNH, HĐH.
1.2.1. Vai trò, vị trí của NNL trong quá trình CNH, HĐH.
1.2.1.1. NNL là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ
CNH, HĐH.
Trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước, bên cạnh việc chuyển đổi cơ
cấu kinh tế công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ theo hướng tích, phát triển theo

của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá
trình phát triển kinh tế - xã hội.
Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên
nhiên không mấy thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát
triển bền vững nếu hội đủ bốn điều kiện:
+ Một là, quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn.
+ Hai là, quốc gia đó biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó.
+ Ba là, quốc gia đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông
đảo.
+ Bốn là, quốc gia đó có các nhà doanh nghiệp tài ba.
Giữa NNL với phát triển kinh tế thì NNL luôn luôn đóng vai trò quyết định
đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế.
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”,
một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con người, phát
triển NNL trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các
nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho
sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư có
tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững, đóng vai trò là
chiến lược lâu dài của quá trình CNH, HĐH.
1.2.1.2. NVL là động lực, mục tiêu của quá trình CNH, HĐH.
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã
hội cao. Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN.
Trong hầu hết các Đại hội Đảng và trong nhiều văn kiện quan trọng khác
nhau của Đảng đã khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con
người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi
dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định

cơ cấu kinh tế sẽ làm thay đổi quy mô, tỷ trọng và trình độ phát triển của các bộ
phận cấu thành. Bộ phận kinh tế nào phát triển nhanh hơn sẽ lôi kéo và đòi hỏi cao
hơn các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển của nó.
Lực lượng sản xuất, mà trong đó con người là trọng tố cũng không nằm
ngoài quy luật này. Nó cũng sẽ đòi hỏi và thu hút nhiều lao động hơn, đòi hỏi trình
độ lao động cao hơn. Như vậy, sẽ làm thay đổi quy mô, tỷ trọng và trình độ của
lao động trong các bộ phận kinh tế cấu thành. Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến sự
chuyển dịch về cơ cấu lao động.
Ngược lại, sự chuyển dịch cơ cấu lao động cũng tác động vào sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng và trình độ phát triển lao động trong bộ phận kinh tế
nào cao hơn sẽ làm điều kiện thúc đẩy cho bộ phận kinh tế đó phát triển nhanh
hơn và ngược lại. Tức là sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
SVTH: Trần Mạnh Dũng – Lớp 31K9QNa
Đề án: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH ở Quảng Nam
Tuy nhiên, nếu sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo xu hướng không hợp lý
sẽ làm cản trở sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, làm cản trở sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Như vậy, quy luật và xu hướng vận động của quy luật ở đây chính là: Sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Còn sự
chuyển dịch cơ cấu lao động sẽ tác động hai chiều, làm thúc đẩy hoặc cản trở sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý.
Nắm bắt được quy luật này, chúng ta cần phải đào tạo NNL, tạo ra một cơ
cấu lao động hợp lý, thúc đẩy sự chuyển dịch hợp lý của cơ cấu kinh tế, nhằm thực
hiện mục tiêu và phương hướng phát triển của nền kinh tế quốc dân. Trong đó, chú
trọng vấn đề về quy mô chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật và đào tạo đại học,
để nhanh chóng chung cấp đủ lượng công nhân và cán bộ chuyên môn có trình độ
phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, góp phần sớm thực hiện được mục
tiêu trở thành một nước công nghiệp.
Hiện nay, trong quá trình CNH, HĐH cơ cấu NNL trong các ngành kinh tế
phải chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động trong các ngành công

tính, độ tuổi, dân tộc và sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương. Nhà nước
xây dựng chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm sự cân đối
về giới tính, độ tuổi, cơ cấu ngành nghề ở mỗi khu vực, vùng địa lý kinh tế và
từng đơn vị hành chính.
Nhà nước có chính sách và biện pháp cần thiết ngăn chặn việc lựa chọn giới
tính thai nhi để đảm bảo cân bằng giới tính theo quy luật sinh sản tự nhiên; điều
chỉnh mức sinh nhằm tạo cơ cấu dân số hợp lý về giới tính, độ tuổi. Từ đó tạo ra
sự hợp lý về cơ cấu lao động hợp lý về giới tính, độ tuổi.
Chính sách về dân số - kế hoạch hóa gia đình luôn được xác định là một bộ
phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề kinh
tế xã hội hàng đầu của quốc gia. Thực hiện tốt chính sách dân số - kế hoạch hóa
gia đình là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người,
từng gia đình và của toàn xã hội. Thông qua đó sẽ tạo được NNL có quy mô cũng
như cơ cấu về độ tuổi.
1.3.2. Yêu cầu của NNL trong quá trình CNH, HĐH
Hiện nay, trong điều kiện CNH, HĐH ở nước ta, cùng với các việc tạo ra
nguồn lực vật chất và nguồn tài chính, và để phát huy các nguồn lực đó, thì điều
quan trọng nhất hiện nay là cần phát triển nguồn lực con người Việt Nam tạo ra
khả năng lao động ở một trình độ mới, với chất lượng cao hơn nhiều so với trước
đây.
Sự nghiệp CNH, HĐH đặt ra những yêu cầu cao đối với sự phát triển nguồn
nhân lực, trên cả ba phương diện thể lực, trí lực và cả phẩm chất tâm lý xã hội.
+ Về mặt thể lực: CNH, HĐH gắn liền với việc áp dụng phổ biến các
phương pháp sản xuất công nghiệp, các thiết bị và công nghệ hiện đại, do đó đòi
hỏi sức khỏe và thể lực cường tráng của người lao động trên các khía cạnh:
+ Sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng những quá trình sản xuất liên tục, kéo dài.
SVTH: Trần Mạnh Dũng – Lớp 31K9QNa
Đề án: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH ở Quảng Nam
+ Có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các hệ thống thiết bị công
nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường khu vực và thế giới.

kinh doanh lớn hơn nhiều lần.
Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri
thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu phát triển
SVTH: Trần Mạnh Dũng – Lớp 31K9QNa
Đề án: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH ở Quảng Nam
NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước và phát triển bền vững. Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy
chất lượng NNL làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Trong điều kiện lực lượng sản xuất phát triển không ngừng hiện nay, trình
độ quản lý và trình độ khoa học – công nghệ ngày càng hiện đại, thế giới đang
chuyển sang nền “kinh tế tri thức”, thực chất là nền kinh tế dựa trên động lực là sự
sáng tạo cái mới về tri thức và sáng tạo cái mới về khoa học kỹ thuật. Như vậy, sự
giàu có của quốc gia trong thế kỷ XXI sẽ được xây dựng chủ yếu trên nền tảng
văn minh về trí tuệ của con người, khác với trước đây là dựa vào sự giàu có nguồn
tài nguyên thiên nhiên. Các nguồn lực khác tuy là điều kiện quan trọng, nhưng
không có sức cạnh tranh tự thân mà phải được kết hợp với NNL để phát huy tác
dụng và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất, kinh doanh. Trong sự nghiệp
CNH, HĐH của cả nước càng phải dựa vào tiềm lực con người, đó là yếu tố nội
sinh, chi phối và giữ vai trò quyết định trong sự nghiệp. Vì vậy, phát triển NNL
trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta nói chung và tại tỉnh Quảng Nam nói riêng
là tất yếu trên con đường xây dựng, phát triển và hội nhập hiện nay.
SVTH: Trần Mạnh Dũng – Lớp 31K9QNa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status