ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƢỚC MỘT THÀNH
VIÊN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2014
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Trn Th Nhung
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
2.1.1. Quốc hội 35
2.1.2. Chính phủ, bộ, ngành. 37
2.1.3. Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). 44
2.2. Giám sát của các cơ quan trong nội bộ công ty trách nhiệm hữu hạn
nhà nước một thành viên. 50
2.2.1. Giám sát của Hội đồng thành viên/ Chủ tịch công ty. 50
2.2.2. Giám sát của Kiểm soát viên. 54
2.2.3. Hoạt động giám sát của kiểm toán nội bộ. 58
2.3. Nội dung giám sát. 60
2.3.1. Tiêu chí giám sát 60
2.3.2. Một số nội dung giám sát cụ thể: huy động vốn, tiền lương, ký kết và
thực hiện hợp đồng. 67
2.4. Hình thức giám sát. 80
Chƣơng 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƢỚC MỘT
THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM 88 3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng
vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở
Việt nam 88
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động sử
dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà
nước làm chủ sở hữu ở Việt Nam. 93
3.2.1. Quốc hội. 93
3.2.2. Chính phủ. 93
3.2.3. Quản trị nội bộ trong công ty. 94
3.2.4. Một số kiến nghị khác. 97
KẾT LUẬN 102
theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là những
doanh nghiệp tập trung vào những ngành, nghề kinh tế trọng điểm, then chốt
của nền kinh tế và được đầu tư chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong nền
kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, trong tình hình thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được hoàn thiện một bước, quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng năng
động, đa dạng hơn, đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo mô hình
công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên với vai trò của mình
cần được nâng cao hiệu quả kinh tế mạnh mẽ hơn.
Thực tế những năm gần đây cho thấy, đặc biệt sau ngày 01/7/2010 khi
các doanh nghiệp nhà nước được tổ chức và chuyển đổi sang hoạt động theo
quy định của Luật doanh nghiệp 2005, những tập đoàn, tổng công ty lớn được
tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
có một hành lang pháp lý mới, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế, tạo sân chơi
bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Nhưng sau khi được chuyển đổi, các doanh
nghiệp này hoạt động không mang lại hiệu quả như mong đợi, một số doanh
nghiệp hoạt động kém hiệu quả, gây thất thoát nguồn vốn nhà nước, lãng phí
và đầu tư dàn trải, kinh doanh thua lỗ khiến Nhà nước phải gánh chịu những
khoản nợ khổng lồ, điển hình như vụ việc xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp
Tàu thủy Việt Nam. Đứng trước thực tế này, Đảng và Nhà nước đã yêu cầu
thực hiện mạnh mẽ hàng loạt biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh trong đó có biện pháp tăng cường công tác giám sát hoạt động sử dụng
vốn trong doanh nghiệp.
2
Để có cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp
một cách hiệu quả, trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đã tổ chức nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu liên quan đến việc đổi mới
hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đặc biệt những doanh nghiệp được tổ
chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về công ty trách nhiệm hữu hạn nhà
nước một thành viên và hoạt động giám sát sử dụng vốn trong công ty trách
nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên.
2. Đánh giá thực trạng về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công
ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
3. Đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hạn chế những bất cập trong
giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước
một thành viên, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình doanh
nghiệp này trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề có tính lý luận và
thực tiễn về giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu
hạn nhà nước một thành viên trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đưa ra những
phương hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác giám sát hoạt
động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành
viên trong thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về bản
chất công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, các quy định có
liên quan đến giám sát hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu
4
hạn nhà nước một thành viên, tìm hiểu thực trạng hoạt động giám sát sử dụng
vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên để đưa ra
những kiến nghị đổi mới công tác giám sát hoạt động sử dụng vốn trên cơ sở
các tài liệu thu thập được về doanh nghiệp nhà nước, trong đó đặc biệt chú
trọng đến doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu
hạn nhà nước một thành viên trong giai đoạn từ 2000 - đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
thực thi và ban hành các quy định pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng
vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về giám sát
hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một
thành viên ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giám sát hoạt động sử dụng vốn
trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên ở Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giám sát
hoạt động sử dụng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một
thành viên ở Việt Nam.
6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIÁM
SÁT HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƢỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƢỚC MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM.
1.1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về công ty trách nhiệm hữu
hạn nhà nƣớc một thành viên.
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm.
Theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, Công
ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được định nghĩa là công
ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ
chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
45, Khoản 3 Điều 3]. Tuy nhiên, sau khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời
Về chế độ quản lý: Nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu của mình
thông qua cơ chế ủy quyền cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện
chức năng đại diện chủ sở hữu tại công ty
1.1.1.2. Phân biệt công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành
viên với các công ty khác.
8
Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước
một thành viên với các công ty khác
Công ty trách nhiệm hữu
hạn nhà nƣớc một thành
viên
Các công ty khác
Mục đích
thành lập
Thực hiện các mục tiêu kinh
tế- xã hội do nhà nước giao vì
mục tiêu lợi nhuận hoặc phi
lợi nhuận
Do nhu cầu hoạt động kinh
doanh vì mục tiêu lợi nhuận
Chủ thể
Tổ chức
Cá nhân, tổ chức
Ngành nghề
kinh doanh
Chỉ hoạt động trong một số
lĩnh vực then chốt, trọng điểm
Hoạt động ở tất cả các lĩnh
được phân loại thành doanh nghiệp tổ chức theo mô hình Hội đồng thành viên và
doanh nghiệp tổ chức theo mô hình Chủ tịch công ty. Mô hình Hội đồng thành viên
gồm Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc và các Kiểm soát viên. Mô hình Chủ tịch
công ty gồm Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc (Giám đốc) và các Kiểm soát viên.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn
nhà nƣớc một thành viên.
Theo quy định của Luật doanh nghiệp hiện nay và Nghị định số
25/2010/NĐ-CP, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên được
tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty.
Đối với mô hình Hội đồng thành viên cơ cấu tổ chức gồm có: Hội
đồng thành viên, Tổng giám đốc/Giám đốc và các Kiểm soát viên. Với mô
hình này, Chủ tịch hội đồng thành viên của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ được
chuyển đổi từ tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
không kiêm Tổng giám đốc.
10
Sơ đồ 1.1: Công ty tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng thành viên
Nguồn: [13]
Đối với mô hình Chủ tịch công ty cơ cấu tổ chức gồm có: Chủ tịch
công ty, Tổng giám đốc/Giám đốc và các Kiểm soát viên. Với mô hình này,
Giám sát
Giám sát
Chủ sở hữu
Bổ nhiệm
Giám sát
11
1.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty trách nhiệm
hữu hạn nhà nƣớc một thành viên.
Ở nước ta, sau ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm
1945, khi Nhà nước thực hiện việc quốc hữu hóa các cơ sở công nghiệp của
chế độ cũ đã xuất hiện các doanh nghiệp quốc gia và được định nghĩa là một
doanh nghiệp thuộc sở hữu quốc gia và do quốc gia điều khiển. Sau khi mô
hình và cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bắt đầu được áp dụng ở miền Bắc,
khu vực kinh tế quốc doanh được tổ chức thành các loại hình doanh nghiệp có
tên gọi khác nhau, như: Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực sản
xuất công nghiệp; nông trường quốc doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; lâm
trường trong lĩnh vực lâm nghiệp; công ty trong lĩnh vực thương nghiệp
Do có sự thay đổi nhất định về điều kiện kinh tế - xã hội và nhận thức
về cải cách nền kinh tế nên thuật ngữ Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh
được thay thế bằng thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, Điều 1 Nghị
định 388/HĐBT ban hành quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà
nước quy định: "Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh doanh do Nhà nước
thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là chủ sở hữu".
Năm 1995, doanh nghiệp nhà nước được xác định là "tổ chức kinh tế do
Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc
hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước
giao" [42, Điều 1]. Ngoài ra, doanh nghiệp nhà nước còn được quy định "có tư
cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn
bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý; có tên
đẳng, không phân biệt đối xử với các loại hình doanh nghiệp để thu hút nguồn
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và sức ép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
13
giới (WTO), năm 2005, Quốc hội ban hành Luật doanh nghiệp 2005 thay thế
cho Luật doanh nghiệp 1995 và Luật doanh nghiệp nhà nước 2003.
Trong đó: Thực hiện theo lộ trình chuyển đổi hằng năm, nhưng
chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực, các
công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà
nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
công ty cổ phần theo quy định của Luật này [47, Điều 166].
Để thực hiện việc chuyển đổi này, Nhà nước đã ban hành nhiều
văn bản pháp lý để quy định về mô hình tổ chức và hoạt động của công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ví dụ như Nghị định
25/2010/NĐ-CP về chuyển đổi công ty nhà nước sang công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu, Thông tư
117/2010/TT-BTC hướng dẫn cơ chế tài chính của công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu, Nghị định
61/2013/NĐ-CP về việc ban hành quy chế giám sát tài chính và đành giá
hoạt động và công khai tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước làm
chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước… Với những quy định này,
thuật ngữ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm
chủ sở hữu được sử dụng và thay thế cho thuật ngữ Công ty trách nhiệm
hữu hạn nhà nước một thành viên. Tuy nhiên, đây chỉ là sự khác nhau về
tên gọi, về bản chất doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo mô hình
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do nhà
nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
công ty; đối với công ty độc lập trực thuộc Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương, công ty mẹ trong Tập đoàn, Tổng công ty, công ty
hoạt động theo mô hình mẹ - con, chủ sở hữu phê duyệt vốn điều lệ sau khi có
ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính [6, Điều 2].
1.2.1.2. Cơ cấu vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một
thành viên.
Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn của doanh nghiệp được phân chia
thành vốn của chủ sở hữu và vốn nợ. Vốn của chủ sở hữu hình thành từ vốn
góp khi thành lập doanh nghiệp và gia tăng từ lợi nhuận sau thuế trong quá
trình kinh doanh. Vốn nợ của doanh nghiệp dưới hình thức phát hành trái
phiếu, vay từ tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức, cá nhân khác.
Vốn của chủ sở hữu
Khi nhà nước đầu tư thành lập doanh nghiệp, vốn của chủ sở hữu ban
đầu được xác định dựa trên quyết định giao vốn để hình thành vốn điều lệ của
doanh nghiệp. Trong trường hợp vốn điều lệ chưa được góp đủ thì vốn của
chủ sở hữu là vốn thực góp của Nhà nước. Trong quá trình kinh doanh, vốn
chủ sở hữu có thể gia tăng bằng việc trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế
của doanh nghiệp. Vốn điều lệ có thể tăng lên theo quyết định của cơ quan có
thẩm quyền về chuyển phần lợi nhuận/phần vốn của nhà nước hoặc điều
chuyển vốn từ doanh nghiệp khác, hoặc chuyển từ Quỹ hỗ trợ, sắp xếp doanh
nghiệp do Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn của Nhà nước quản lý và
sử dụng theo quy định của pháp luật. Ngoài nguồn vốn trên, doanh nghiệp có
thể được quản lý, sử dụng đất đai và các tài sản khác do Nhà nước giao.
Những tài sản này được doanh nghiệp sử dụng trong quá trình kinh doanh,
đây chính là lợi thế kinh doanh về tài sản của các công ty nhà nước so với các
công ty khác không được giao quản lý vốn và tài sản của Nhà nước.
16
Trong trường hợp công ty kinh doanh có lãi, phần lợi nhuận được
phân chia theo vốn công ty tự huy động và phần vốn đầu tư của Nhà nước. Có
Huy động vốn bằng phát hành trái phiếu là hình thức áp dụng phổ biến
ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Ở nước ta, hình thức phát
hành này thường được các doanh nghiệp có uy tín thực hiện. Trong phát hành
trái phiếu, doanh nghiệp chủ động quyết định khoản vay, mệnh giá trái phiếu,
lãi suất vay trên cơ sở của pháp luật. Việc phát hành trái phiếu phải đáp ứng
các điều kiện phát hành theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi
của người sở hữu trái phiếu. Cũng giống như vay vốn từ ngân hàng, vấn đề
bảo đảm khả năng hoàn trả vốn đặt ra, theo đó doanh nghiệp có thể phát hành
trái phiếu có bảo đảm bằng tài sản của chính doanh nghiệp của mình hoặc
được bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
1.2.2. Pháp luật giám sát hoạt động sử dụng vốn là gì?
Thuật ngữ"giám sát” được sử dụng gắn với chủ thể giám sát như Quốc
hội, giám sát của cơ quan trong nội bộ doanh nghiệp, giám sát của chủ nợ
hoặc gắn với đối tượng giám sát như giám sát hoạt động ngân hàng, giám sát
ngân sách nhà nước, giám sát hoạt động sử dụng vốn [33, tr. 153].
Giám sát tài chính là việc theo dõi, kiểm tra, thanh tra, đánh giá các
vấn đề về tài chính, chấp hành chính sách pháp luật về tài chính của doanh
nghiệp [19, Khoản 1 Điều 4]. Về nguyên tắc, hoạt động giám sát tài chính
được tiến hành bởi cơ quan chủ sở hữu, cơ quan quản lý hoặc cơ quan chuyên
trách là ban kiểm soát. Hơn thế nữa, bên cạnh tổ chức kiểm soát được thiết
lập hỗ trợ cho hoạt động điều hành, doanh nghiệp có thể thuê công ty kiểm
toán hoặc kiểm toán viên thực hiện kiểm tra, xem xét các vấn đề tài chính
theo yêu cầu. Đối tượng của hoạt động giám sát tài chính là các thông tin
trong báo cáo tài chính về tình trạng sử dụng vốn, tài sản, doanh thu, chi phí,