ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT CHU THỊ NGỌC XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Đức Minh Hà nội – 2014
[
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.
1.3. Nguyên tắc xử phạt vi phạm pháp luật hành chính về thuế thu nhập doanh
nghiệp 25
1.3.1. Các nguyên tắc chung 26
1.3.2. Các nguyên tắc kỹ thuật 27
1.4. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về thuế thu nhập doanh nghiệp và các
biện pháp khắc phục hậu quả 28
1.4.1. Các hình thức xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 28
1.4.2. Các biện pháp khắc phục hậu quả 30
1.5. Quy định thủ tục xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh
nghiệp 31
1.5.1. Thủ tục xử phạt đơn giản. 31
1.5.2. Thủ tục thông thường 32
Chương 2 36
THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 36
5
2.1. Thực trạng hoạt động xây dựng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế
thu nhập doanh nghiệp 36
2.2. Thực trạng quy định pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập
doanh nghiệp 39
2.2.1. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
thuế thu nhập doanh nghiệp 40
2.2.2. Về kỹ thuật xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 40
2.2.3. Sử dụng hình thức công văn để quy định quy phạm pháp luật 41
2.2.4. Về nguyên tắc xử phạt đối với hành vi vi phạm 42
2.3. Thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập
doanh nghiệp 43
2.3.1. Những kết quả đạt được 43
2.3.2. Những hạn chế bất cập 46
: Ngân sách Nhà nước
TNDN
: Thu nhập doanh nghiệp
VAT
: Vale Added Tax (Thuế giá trị gia tăng)
VPHC
: Vi phạm hành chính
VPPL
: Vi phạm pháp luật
XLVPPL
: Xử lý vi phạm pháp luật
WTO
: World Trade Organization (Tổ chức Thương
mại thế giới)
7
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là công cụ chủ yếu để huy động nguồn thu cho ngân sách quốc
gia và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu
kinh tế - xã hội và chi tiêu cho bộ máy nhà nước. Cùng với sự phát triển của
kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách pháp luật thuế luôn có sự thay đổi nhằm
góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, khuyến khích các thành phần kinh
tế phát triển đúng hướng, từng bước thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội,
đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng gia tăng của nhà nước.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là khoản thu quan trọng và chiếm một tỷ
trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN. Ở hầu hết các nước phát triển, thuế thu
nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu
NSNN. Ở Việt Nam, tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp trong tổng số thu
NSNN ước thực hiện năm 2009 là 25,3%; năm 2010 là 25,7% và 6 tháng đầu
Lưu Thị Tuyết (2012), Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
ở Việt Nam, Khoa Luật, Luận văn thạc sỹ ngành: Luật kinh tế, 2012
Ngoài ra, còn có một số bài viết của các cán bộ chuyên gia liên quan
đến đề tài luận văn đã được đăng trên các tạp chí, một số các bài viết trên
trang web của Tổng cục thuế
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào một hoặc một vài
hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó kế thừa, tổng
hợp và phát triển những luận điểm trên, tác giả lựa chọn và thực hiện đề tài
“Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam”.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn cung cấp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đánh giá và
hoàn thiện pháp luật xử lý hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp.
9
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ chủ
yếu sau đây:
Thứ nhất, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vi phạm pháp luật về thuế và
xử lý vi phạm pháp luật về thuế, quy định pháp luật xử lý vi phạm pháp luật
về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam.
Thứ hai, Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thực
hiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp; từ
đó chỉ ra những điểm đã đạt được, những hạn chế của pháp luật về xử lý vi
phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp; những kết quả, khó khăn,
vướng mắc, cùng nguyên nhân của thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý vi
phạm pháp luật thuế TNDN.
Thứ ba, Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp
thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật thuế TNDN.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu: Các hành vi vi phạm pháp luật thuế Thu nhập
nhiên, đây không phải là sự sao chép vì đã có sự sắp xếp theo kết cấu khác
theo góc nhìn của tác giả.
- Phương pháp so sánh
So sánh việc xử lý vi phạm pháp luật thuế TNDN của nước ta trong
một số giai đoạn khác nhau; So sánh pháp luật xử lý vi phạm về thuế TNDN
của nước ta với các nước trên thế giới.
- Các phương pháp của xã hội học pháp luật
Phân tích cơ sở xã hội của việc xử lý vi phạm.
- Phương pháp của thống kê xã hội học
Từ những kết quả thống kê, điều tra, khảo sát về thực trạng vi phạm và
xử lý vi phạm pháp luật thuế TNDN để đề ra những giải pháp hợp lý.
11
5. Kết cấu đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về vi phạm
pháp luật thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt
Nam.
Chương 2: Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi
phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.
Tác giả hy vọng với những nghiên cứu và phân tích của mình sẽ góp
phần vào việc hoàn thiện hơn nữa những quy định pháp luật về xử lý vi phạm
pháp luật thuế TNDN nhằm tránh tình trạng thất thu ngân sách nhà nước,
đồng thời, tạo môi trường pháp lý cạnh tranh công bằng, minh bạch giữa các
DN trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
12
Chương 1
chung và do đó phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi đó của mình.
Từ các quan niệm trên, theo nghĩa rộng, vi phạm pháp luật về thuế
TNDN được hiểu là việc tổ chức, cá nhân và các chủ thể khác tham gia quan
hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng, không đầy đủ một cách cố ý hoặc vô ý nghĩa vụ và trách nhiệm
thu, nộp thuế và làm dịch vụ về thuế TNDN do pháp luật quy định, làm phát
sinh những hậu quả pháp lý đối với hành vi đó. Theo nghĩa rộng như vậy, vi
phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ được pháp luật về
quản lý thuế điều chỉnh, mà còn được nhiều quy định pháp luật khác điều
chỉnh như: Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính
.v.v. Chủ thể vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ có
người nộp thuế, mà cả người thu thuế (cơ quan, cán bộ, công chức thuế), các
tổ chức làm dịch vụ thuế .v.v.
Theo nghĩa hẹp, vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp là
hành vi của các tổ chức, cá nhân và các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật
thuế thu nhập doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ một cách cố ý hoặc vô ý các quy định của pháp luật thuế thu
nhập doanh nghiệp và pháp luật quản lý thuế, làm phát sinh hậu quả pháp lý
đối với hành vi đó.
Ở nghĩa hẹp nhất, vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
được hiểu là các hành vi vi phạm được quy định ở Điều 103 Luật Quản lý
thuế năm 2006 do người nộp thuế thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, làm
phát sinh hậu quả pháp lý bất lợi mà người thực hiện hành vi đó phải gánh
chịu. Luận văn tiếp cận khái niệm vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp theo nghĩa hẹp nhất này.
Trước tiên cần phải khẳng định vi phạm pháp luật về thuế TNDN là
một loại vi phạm pháp luật. Nó mang đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng của vi
14
phạm pháp luật: đó là hành vi khách quan được thể hiện thông qua hành động
ánh mức độ lỗi (cố ý hoặc vô ý) của người thực hiện. Tính chất có lỗi của
người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thuế thể hiện ở chỗ, chủ thể của
hành vi hoàn toàn có khả năng tránh được sự vi phạm nhưng họ đã không
tránh hoặc cố ý thực hiện hành vi vi phạm vì một động cơ hay mục đích thúc
đẩy. Tính chất có lỗi của hành vi vi phạm pháp luật thuế được xem là một
trong số các căn cứ để xác định và truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người
thực hiện hành vi. Trong mặt chủ quan của nhiều vi phạm, yếu tố động cơ,
mục đích vi phạm cũng được tính đến khi xem xét để quyết định các hình
thức và mức xử phạt cụ thể.
Về phương diện khách thể, hành vi vi phạm pháp luật thuế đã phương
hại đến những lợi ích cụ thể được pháp luật bảo vệ. Những lợi ích này có thể
chỉ là lợi ích riêng của tổ chức, cá nhân hoặc lợi ích chung của toàn xã hội.
Tùy thuộc vào mức độ xâm hại của hành vi vi phạm pháp luật thuế đến lợi ích
(khách thể) mà người ta xác định được mức độ cũng như loại chế tài tương
ứng sẽ áp dụng đối với hành vi đó. Chẳng hạn, đối với hành vi trốn thuế, tùy
thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi (thường được xác định dựa vào
mức tiền thuế trốn lậu) mà hành vi này có thể bị xử lý hành chính theo Luật
xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam.
Khi xem xét, đánh giá một hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm
pháp luật hay không, cần xem xét đầy đủ các dấu hiệu, yếu tố cấu thành pháp
lý của vi phạm; từ đó có thể xác định là vi phạm gì để chọn chế tài đúng.
1.1.2. Phân loại vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong thực tiễn pháp lý, các hành vi vi phạm pháp luật thuế diễn ra rất
đa dạng, tinh vi và phức tạp, với nhiều dạng thức khác nhau. Việc phân loại
các vi phạm pháp luật về thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có
ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, đặc biệt là giúp cho các nhà làm luật xây
16
dựng được cơ chế xử lý phù hợp, thỏa đáng đối với từng nhóm loại và từng
có thể là trách nhiệm hành chính. Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày
20/6/2012; Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ
quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết
định hành chính thuế, các biện pháp xử phạt chính được áp dụng đối với
những hành vi vi phạm hành chính về thuế bao gồm: phạt cảnh cáo; phạt tiền.
Ngoài ra, tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm mà người vi phạm còn
có thể bị áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động có thời
hạn; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm
hành chính về thuế.
Ba là việc tuyên bố một hành vi là vi phạm hành chính về thuế, vốn dĩ
thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính và các công chức hành chính
có thẩm quyền. Thông thường, sự tuyên bố này được thể hiện bằng một quyết
định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành theo đúng thể thức luật định.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế TNDN bao gồm các dạng cơ
bản sau đây:
+ Vi phạm các quy định về đăng ký thuế; kê khai thuế; cung cấp thông
tin về thuế; nộp thuế, quyết toán thuế: Về nguyên tắc, việc đăng ký thuế, kê
khai thuế và quyết toán thuế đúng luật là nghĩa vụ pháp lý của người nộp
thuế. Có thể hình dung hành vi vi phạm nghĩa vụ này của người nộp thuế bao
gồm: Hành vi đăng ký thuế quá thời hạn do luật định; hành vi kê khai thuế
không chính xác hoặc nộp tờ khai thuế quá thời hạn luật định; hành vi lập
quyết toán thuế sai quy trình luật định hoặc nộp quyết toán thuế quá thời hạn
luật định.
+ Vi phạm các quy định về thu, nộp tiền thuế, tiền phạt: các nhà làm
luật thông thường luôn đặt ra một thời hạn cố định, lấy đó làm mức chuẩn và
căn cứ vào đó để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà
nước. Quá thời hạn này, người nộp thuế sẽ bị xác định là có hành vi vi phạm.
18
+ Vi phạm các quy định về miễn giảm thuế, truy thu tiền hoàn thuế;
Bốn là việc tuyên bố một hành vi vi phạm hình sự về thuế là tội phạm,
chỉ thuộc thẩm quyền của tòa án. Trên nguyên tắc, sự tuyên bố này phải được
thể hiện bằng một bản án hoặc quyết định xét xử do tòa án tuyên theo đúng
thể thức luật định.
Theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam [19] [Điều 161,
278, 279, 281, 282, 285] các hành vi vi phạm hình sự trong lĩnh vực thuế
được coi là tội phạm bao gồm các dạng cơ bản sau đây:
- Tội trốn thuế (Điều 161 Bộ luật hình sự);
- Tội tham ô tài sản (Điều 278 Bộ luật hình sự);
- Tội nhận hối lộ (Điều 279 Bộ luật hình sự);
- Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281
Bộ luật hình sự)
- Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 Bộ luật
hình sự)
* Theo chủ thể vi phạm
Việc phân loại xử lý vi phạm pháp luật theo từng chủ thể có ý nghĩa
quan trọng, bởi trên thực tế, một số các chế tài chỉ được áp dụng đối với một
nhóm chủ thể xác định. Có thể liệt kê như sau:
- Vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế:
Về nguyên tắc, việc đăng ký thuế, kê khai thuế và quyết toán thuế đúng
luật là nghĩa vụ pháp lý của người nộp thuế. Có thể hình dung hành vi vi
phạm nghĩa vụ này của người nộp thuế bao gồm: Hành vi đăng ký thuế quá
thời hạn do luật định; hành vi kê khai thuế không chính xác hoặc nộp tờ khai
thuế quá thời hạn luật định; hành vi lập quyết toán thuế sai quy trình luật định
hoặc nộp quyết toán thuế quá thời hạn luật
- Vi phạm pháp luật về thuế của cơ quan quản lý thuế
20
- Vi phạm của công chức quản lý thuế
- Vi phạm của người có thẩm quyền và trách nhiệm xử lý vi phạm pháp
nhận giá trị pháp lý của các văn bản do người nộp thuế lập hoặc do cơ quan
có thẩm quyền lập không đúng với hình thức luật định trong quá trình hành
thu thuế.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và các biện pháp chế tài xử lý vi phạm
trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh
nghiệp
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do
Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị
trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực
hiện bằng Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự
và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [18, tr. 288]. Pháp luật
có ba chức năng chính: điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục. Sở dĩ pháp luật có
chức năng bảo vệ vì trong xã hội vẫn tồn tại những “vi phạm pháp luật” – là
hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích của xã hội, quyền và
lợi ích của công dân, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một
cách có lỗi
[18, tr. 537]. Và người vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm
pháp lý – hậu quả của vi phạm pháp luật và được thể hiện trong việc cơ quan
nhà nước (người có chức vụ) có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế
(chế tài xử lý) [18, tr. 550].
Các biện pháp chế tài được áp dụng để đảm bảo sự tuân thủ Luật thuế
bao gồm các biện pháp cưỡng chế hành chính và cưỡng chế tư pháp.
Tại khoản 2, điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định,
Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng
hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực
hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi
22
dân sự, của trách nhiệm kỷ luật là vi phạm kỷ luật.
- Hoạt động xử lý vi phạm chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng và được áp dụng theo một
thủ tục, trình tự chặt chẽ và thống nhất.
Do các vi phạm về thuế TNDN đa phần là những vi phạm nhỏ và phổ
biến nên việc xử lý được quy định rất cụ thể trong Luật xử lý vi phạm hành
chính nói chung, các quy định xử lý vi phạm về thuế nói riêng.
Đối với việc xử lý hành chính, không phải bất kỳ cơ quan quản lý nhà
nước nào cũng có thẩm quyền XLVPHC về thuế mà chỉ có Cơ quan Thuế, Cơ
quan Hải quan mới được nhà nước trao quyền hạn này. Hoạt động xử phạt vi
phạm hành chính, cũng như việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính
nói chung, nằm ngoài hoạt động xét xử của Tòa án. Còn các biện pháp trách
nhiệm hình sự, dân sự được thực hiện theo trình tự xét xử của tòa án.
Thủ tục XLVPHC đơn giản hơn so với thủ tục áp dụng cưỡng chế hình
sự và dân sự.
- Hoạt động xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế TNDN không chỉ nhằm
đảm bảo thực hiện, bảo vệ các quy phạm vật chất của ngành luật hành chính,
luật hình sự mà còn đảm bảo thực hiện và bảo vệ các quy phạm vật chất của
các ngành luật khác (như luật tài chính, ngân hàng, đất đai, môi trường )
- Giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện xử phạt vi
phạm hành chính (hình sự) và chủ thể bị áp dụng các biện pháp xử phạt vi
phạm hành chính (hình sự) không có quan hệ trực thuộc.
Đây là đặc điểm quan trọng phân biệt việc áp dụng biện pháp xử phạt
vi phạm hành chính (hình sự) và các biện pháp cưỡng chế kỷ luật – dạng
cưỡng chế mà cơ quan quản lý nhà nước cũng có quyền áp dụng rộng rãi
trong hoạt động của mình. Giữa chủ thể có thẩm quyền áp dụng cưỡng chế kỷ
luật và người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế đó phải có quan hệ trực thuộc.
24
1.2.3. Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
Về lý thuyết, việc áp dụng chế tài hình sự đối với người vi phạm pháp
luật thuế, thực chất là giải quyết hai vấn đề cơ bản sau đây:
- Xác định hành vi vi phạm pháp luật thuế có phải là tội phạm hay
không?
- Xác định những hình phạt nào sẽ áp dụng đối với người thực hiện
hành vi phạm tội đó và cơ sở pháp lý (điều luật) được áp dụng?
Vậy những hành vi vi phạm pháp luật như thế nào trong lĩnh vực thuế
sẽ được coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự?
Trên nguyên tắc, mọi hành vi vi phạm hành chính về thuế, nếu có tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất cao, đến mức không thể chỉ dừng lại
ở việc xử lý hành chính thì cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét để xử lý
bằng biện pháp hình sự nhằm trừng phạt thỏa đáng đối với người vi phạm và
răn đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm mới. Trong thực tiễn pháp lý, các
hành vi vi phạm pháp luật về thuế bị coi là tôi phạm thường xảy ra khá đa
dạng và phức tạp, dưới nhiều hình thức khác nhau và có thể được thực hiện
bởi người nộp thuế hoặc người có liên quan trong việc thu thuế như công
chức ngành thuế, hải quan, nhân viên kho bạc nhà nước
Thực tiễn cho thấy các vi phạm hình sự chủ yếu trong lĩnh vực thuế vẫn
là hành vi trốn thuế, hành vi tham ô tiền thuế, hành vi nhận hối lộ, hành vi
lạm quyền trong khi thi hành công vụ, hành vi cố ý làm trái ác nguyên tắc
quản lý tài chính trong lĩnh vực thuế. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, thì
chủ thể là người nộp thuế chủ yếu phải chịu trách nhiệm pháp lý hình sự đối
với hành vi trốn thuế, gian lận thuế.
1.3. Nguyên tắc xử phạt vi phạm pháp luật hành chính về thuế thu
nhập doanh nghiệp