đại học quốc gia hà nội
khoa luật
bùi thị thùy ninh
so sánh pháp luật
về thuế thu nhập doanh nghiệp
ở việt nam và nhật bản Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07 luận văn thạc sĩ luật học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Võ Đình Toàn
Hà nội - 2014
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
7
1.1.
Những vấn đề lý luận về thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập
doanh nghiệp và sự cần thiết thu thuế thu nhập doanh nghiệp
7
1.1.1.
Bản chất thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập doanh nghiệp
7
1.1.2.
Các yếu tố cấu thành thu nhập doanh nghiệp
9
1.1.3.
Sự cần thiết thu thuế thu nhập doanh nghiệp
15
1.2.
Những vấn đề lý luận về pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
16
1.2.1.
Khái niệm, đặc điểm, cấu trúc nguồn pháp luật về thuế thu nhập
doanh nghiệp
16
1.2.2.
Mô hình pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
71
2.2.
Bài học kinh nghiệm cho việc nâng cao tính hiệu quả của
pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
76
2.2.1.
Bài học về xây dựng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
78
2.2.2.
Bài học về tổ chức thực thi pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
82
KẾT LUẬN
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Thuế suất thuế pháp nhân đối với công ty thông thường
và tổ chức không có tư cách pháp nhân
62
2.2
Thuế suất thuế pháp nhân đối với pháp nhân phi lợi nhuận
63
hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau. Ở Việt Nam, tiền thân của thuế thu
nhập doanh nghiệp là thuế lợi tức được áp dụng vào trước những năm 90 của
thế kỷ XX và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh, các cơ sở kinh
tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận. Từ năm 1990, Quốc hội
ban hành Luật thuế Lợi tức áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ
chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh
tế. Thuế lợi tức được thu dựa trên cơ sở lợi nhuận thu được trong quá trình
sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế.
Khắc phục những hạn chế trên, ngày 10/5/1997, Quốc hội đã thông
qua Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, có hiệu lực thi hành kể từ ngày
2
01/01/1999. Ngày 17/6/2003, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/01/2004. Ngày 3/6/2008 Quốc
hội đã ban hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới (sau đây gọi là luật thuế
thu nhập doanh nghiệp năm 2008) có hiệu lực kế từ ngày 01/01/2009 nhằm
xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các khu vực kinh tế khác nhau, thu hút đầu tư
và tăng số thu từ thuế cho ngân sách nhà nước. Hiện nay, thuế thu nhập doanh
nghiệp là một trong những nguồn thu quan trọng của số thu từ thuế, phí, lệ phí
ở Việt Nam và đã chiếm hơn 20% trong tổng số thu từ thuế trong những năm
gần đây.
Hội nhập kinh tế thế giới một cách sâu rộng, bền vững là một trong
những hướng đi của nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Thực tế hội nhập với gia
nhập, ký kết rất nhiều hiệp định về tránh đánh thuế hai lần, với những vấp váp
ban đầu đã bộc lộ thiếu sót trong chính sách pháp luật, trong cách quản lý
điều hành kinh tế quốc gia mà nổi trội là "pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp". Những thiếu sót, vướng mắc chủ yếu như căn cứ tính thuế, thuế suất,
đối tượng nộp thuế, các trường hợp được hưởng ưu đãi về thuế. Hệ thống thuế
không đồng bộ thống nhất, manh mún lạc hậu đã kìm hãm và gây trở ngại tới
sự phát triển hoạt động kinh doanh sản xuất hàng hóa dịch vụ của các chủ thể
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác
nhau về đề tài "pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp", đặc biệt là về "thực
trạng và phương hướng hoàn thiện". Phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển
khác nhau của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp mà các công trình nghiên
cứu thành công nhất định, góp phần làm rõ thêm về vấn đề lý luận và thực
tiễn về loại thuế này. Đề tài cấp khoa "So sánh pháp luật về thuế thu nhập
doanh nghiệp ở Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản", của Tiến sĩ Nguyễn Thị
Lan Hương, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng đã so sánh pháp luật
về thuế thu nhập doanh nghiệp của ba nước Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản.
4
Song, tính đến thời điểm hiện nay chưa có nghiên cứu nào đề cập chi tiết đầy
đủ toàn diện về pháp luật hiện hành và nghiên cứu dưới góc độ so sánh pháp
luật của riêng hai quốc gia là Việt Nam và Nhật Bản, trong đó có cả vấn đề
quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp. Luận văn này sẽ hướng tới việc làm
sáng tỏ những hạn chế, những điểm chưa phù hợp của pháp luật về thuế thu
nhập doanh nghiệp ở Việt Nam và so sánh với pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp của Nhật Bản để rút ra hướng hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập
doanh nghiệp ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích tổng quát là, luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận về
thuế thu nhập doanh nghiệp và pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bằng
việc đi từ bản chất thuế thu nhập doanh nghiệp, các yếu tố cấu thành của thuế
thu nhập doanh nghiệp nhằm làm rõ được vấn đề tại sao phải có thuế thu nhập
doanh nghiệp và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp đối với việc quản lý
nền kinh tế. Tiếp đó là những lý luận về pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp: làm rõ những yếu tố tác động đến tính hiệu quả của pháp luật thuế thu
nhập doanh nghiệp, nêu ra mô hình pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp để
thông qua đó, nghiên cứu hướng hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh
tổng quát, khái quát từ những gì đã phân tích được tổng hợp để rút ra phương
hướng hoàn thiện cho pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Đây là luận văn so sánh một cách hệ thống về pháp luật về thuế thu
nhập doanh nghiệp ở Việt Nam và Nhật Bản nhằm mục đích vừa làm rõ
những điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam, vừa đưa ra hướng hoàn
thiện dựa trên những tiến bộ trong pháp luật của Nhật Bản nên những điểm
mới mà luận văn sẽ đóng góp được là:
Thứ nhất, xác định những vấn đề lý luận mang tính phổ quát về pháp
luật thuế thu nhập doanh nghiệp;
6
Thứ hai, căn cứ vào lý luận và thực tiễn thi hành chỉ ra được những
hạn chế, những điểm chưa phù hợp của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
ở Việt Nam và những điểm tiến bộ của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
ở Nhật Bản;
Thứ ba, từ góc độ nghiên cứu pháp luật Nhật Bản về thuế thu nhập
doanh nghiệp và tính hiệu quả trong quá trình thực thi pháp luật của Nhật Bản
xác định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
của Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và
pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chương 2: So sánh pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
và Nhật Bản - Bài học kinh nghiệm cho việc nâng cao tính hiệu quả của pháp
luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.
năm nay; hoàn nhập số dư các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự
8
phòng nợ phải thu khó đòi; tiền trích bảo hành sản phẩm còn thừa khi hết hạn
bảo hành.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu vào thu nhập của cơ
sở kinh doanh sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập. Thuế thu
nhập doanh nghiệp là một trong các nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà
nước tăng lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát
triển, đầu tư gia tăng, thu nhập của doanh nghiệp và của các nhà đầu tư tăng
lên làm cho khả năng huy động nguồn tài chính cho nhà nước thông qua thuế
thu nhập doanh nghiệp ngày càng ổn định và vững chắc. Xuất phát từ yêu cầu
phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định,
thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, thuế suất và
các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, nhà nước thực hiện các mục tiêu quản
lý kinh tế vĩ mô.
Như vậy, bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế thu
nhập có đối tượng đánh thuế là thu nhập của chủ thể xác định. Thuế thu nhập
khác với thuế tiêu dùng, thuế tài sản ở chỗ, thuế thu nhập là loại thuế trực thu
đánh trực tiếp vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân khi có thu nhập chịu thuế
phát sinh.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau đồng thời cũng là "người" chịu thuế. Ngoài mục tiêu tạo
nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nó có có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều
hòa thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của nhà
nước. Bởi vậy, pháp luật thuế thu nhập ở các nước thường có những quy định
về chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế để bảo đảm chức năng khuyến khích của
thuế thu nhập hoặc thực hiện việc áp dụng đánh thuế theo biểu thuế lũy tiến
từng phần đối với một số khoản thu nhập chịu thuế để thực hiện các mục tiêu
mua vào.
10
Cung cấp dịch vụ: là thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng
trong một ký, hoặc nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch,
cho thuê tài sản cố định theo phương thức cho thuê hoạt động…
Doanh thu để tính thu nhập là toàn bộ số tiền bán hàng, tiền cung ứng
dịch vụ bao gồm cả trợ giá, phụ thu, phụ phí thêm ngoài giá mà cơ sở sản xuất,
kinh doanh được hưởng (nếu có). Doanh thu này bao gồm cả phần doanh
nghiệp bán hàng nội bộ.
Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu. Các khoản trừ
doanh thu gồm: Chiết khấu thương mại cho khách hàng được hưởng, giảm giá
bán hàng, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và thuế giá
trị gia tăng (nếu tính theo phương pháp trực tiếp).
Doanh thu hoạt động tài chính:
Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản doanh thu do hoạt động
đầu tư tài chính hoặc do kinh doanh về vốn đem lại. Doanh thu từ hoạt động
tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
- Tiền lãi: Lãi cho vay; lãi tiền gửi; lãi bán hàng trả chậm, trả góp; lãi
đầu tư trái phiếu, tín phiếu; chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng
hóa, dịch vụ; lãi cho thuê tài chính;
- Thu nhập từ cho thuê tài sản, cho người khác sử dụng tài sản (bằng
sáng chế, nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, phần mềm vi tính…);
- Cổ tức lợi nhuận được chia;
- Thu nhập từ hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn;
- Thu nhập chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng;
- Thu nhập về các hoạt động đầu tư khác;
- Chênh lệch lãi do bán ngoại tệ; khoản lãi chênh lệch tỷ giá ngoại tệ;
- Chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn;
kinh doanh bao gồm:
12
+ Giá thực tế xuất kho (giá vốn) của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã
tiêu thụ trong kỳ;
+ Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công vượt trên mức bình
thường và chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ, không được tính
vào trị giá hàng tồn kho mà phải tính vào giá vốn hàng bán của kỳ kế toán;
+ Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi
thường do trách nhiệm cá nhân gây ra.
+ Chi phí xây dựng, tự chế tài sản cố định vượt trên mức bình thường
không được tính vào nguyên giá tài sản cố định hữu hình tự xây dựng, tự chế
hoàn thành;
+ Các khoản chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải
lập năm nay lớn hơn khoản đã lập dự phòng năm trước.
- Chi phí bán hàng: Là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tiêu
thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Bao gồm:
+ Chi phí nhân viên bán hàng: Gồm các khoản tiền lương phải trả cho
nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản sản phẩm hàng hóa, vận chuyển
hàng hóa đi tiêu thụ và các khoản trích bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn…
+ Chi phí vật liệu bao bì phục vụ cho việc đóng gói sản phẩm, bảo
quản sản phẩm nhiên liệu để vận chuyển đi tiêu thụ; phụ tùng thay thế dùng
cho việc sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định của bộ phận bán hàng;
+ Chi phí dụng cụ, đồ dùng phục vụ cho hoạt động bán hàng như các
dụng cụ đo lường, bàn ghế, máy tính cầm tay…
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định ở bộ phận bảo quản sản phẩm, hàng
hóa, bộ phận bán hàng như: khấu hao nhà kho, cửa hàng, phương tiện vận chuyển;
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động bán hàng như: chi
phí thuê ngoài, sửa chữa tài sản cố định, tiền thuê kho bãi, tiền thuê bốc vác
vận chuyển hàng hóa đi tiêu thụ; hàng hóa phải trả cho đại lý và các đơn vị
động tài chính ở doanh nghiệp bao gồm:
14
+ Chi phí liên doanh, liên kết không tính vào giá vốn góp;
+ Chí phí cho thuê tài sản;
+ Giá trị gốc của bất động sản khi nhượng bán;
+ Chi phí mua bán chứng khoán kể cả tổn thất trong đầu tư (nếu có);
+ Lỗ do nhượng bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ phát sinh
trong kỳ và chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại ngoại tệ cuối kỳ của nợ phải thu,
nợ phải trả dài hạn (không bao gồm chênh lệch tỷ giá ngoại tệ thuộc vốn vay
để đầu tư xây dựng cơ bản khi chưa đưa công trình vào sử dụng hoặc vốn vay
bằng ngoại tệ để góp vốn liên doanh);
+ Thuế giá trị gia tăng phải nộp trong trường hợp áp dụng phương
pháp tính thuế trực tiếp;
+ Chi phí về lãi tiền vay phải trả (không bao gồm lãi tiền vay dài hạn
để xây dựng cơ bản khi công trình chưa đưa vào sử dụng);
+ Chi phí chiết khấu thanh toán cho người mua hàng khi thanh toán
tiền trước hạn;
+ Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán;
+ Chi phí khác liên quan đến hoạt động đầu tư ra ngoài doanh nghiệp…
- Chi phí khác: Chi phí khác là khoản chi phí của hoạt động ngoài hoạt
động sản xuất kinh doanh tạo ra doanh thu của doanh nghiệp. Chi phí khác
trong doanh nghiệp thường bao gồm:
+ Giá trị còn lại của tài sản cố định khi nhượng bán và thanh lý;
+ Chi phí nhượng bán và thanh lý tài sản cố định;
+ Chi phí cho việc thu hồi các khoản nợ đã xóa sổ kế toán;
+ Các khoản tiền bị phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế;
+ Chi phí để thu tiền phạt;
+ Các khoản chi phí bị nhầm, sót từ các kỳ kế toán trước;
+ Các khoản chi phí khác…
16
thu nhập doanh nghiệp nhằm biến chúng trở thành chỗ dựa ngày càng quan
trọng hơn theo tiến trình phát triển của nền kinh tế là một mục tiêu được chú
trọng đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Thuế thu nhập được nhà nước sử dụng như một công cụ điều tiết, kích
thích tiết kiệm đầu tư, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo chiến lược
kế hoạch của nhà nước theo hướng nâng cao năng lực hiệu quả xã hội. Do vậy,
để tăng phúc lợi xã hội, cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối
tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp
hơn. Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn, giảm, ưu đãi thuế thu nhập có
thể tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi,
thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước.
Thuế thu nhập doanh nghiệp được coi là nhân tố trung hòa tính lũy
thoái của các loại thuế tiêu dùng. Đây chính là lý do để giải thích vì sao thuế
thu nhập doanh nghiệp thường được thiết kế theo cách lũy tiến hoặc quy định
một mức thuế suất cố định nhằm đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện
nghĩa vụ thuế khóa của công dân.
Như vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp vó vai trò hết sức quan trọng
trong hệ thống thuế nói riêng và hệ thống tài chính nói chung. Nhà nước cần
thiết phải thu thuế thu nhập doanh nghiệp để đảm bảo nguồn thu cho ngân
sách quốc gia, đồng thời thể hiện sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với
nền kinh tế một cách công bằng, ổn định bền vững.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, cấu trúc nguồn pháp luật về thuế thu nhập
doanh nghiệp
Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp là một bộ phận của pháp luật
thuế nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung, bao gồm tổng hợp các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc được quy định trong các Điều
18
hoàn toàn không phải với hình thức biểu hiện giống nhau. Chẳng hạn, cơ quan
quản lý thuế có quyền ra các thông báo thuế, quyết định thu thuế và yêu cầu
đối tượng nộp thuế thực hiện đúng. Nhưng ở trường hợp đối tượng nộp thuế
tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế thì có sự biểu hiện khác nhau nhưng điều
này hoàn toàn không có nghĩa tính chất quyền uy bị mất đi.
+ Nguồn của pháp luật thuế
Nguồn của pháp luật thuế là các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm
quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu,
nộp thuế và các văn bản pháp luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quá trình thực hiện quyền thu thuế mà Việt Nam đã ký kết hoặc cam kết
thực hiện.
Nguồn của văn bản pháp luật thuế do cơ quan có thẩm quyền của nhà
nước Việt Nam ban hành bao gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật.
- Quan hệ pháp luật thuế
Quan hệ thu, nộp thuế thực hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật đã
trở thành quan hệ pháp luật thuế.
Quan hệ pháp luật thuế mang một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, quan hệ pháp luật thuế mang nặng tính quyền uy. Quyền và
nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật thuế được đảm bảo thực hiện thông
qua các biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Thứ hai, quan hệ pháp luật thuế thường quy định cụ thể những quyền
và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia nghĩa vụ.
Thứ ba, một bên tham gia quan hệ pháp luật thuế bao giờ cũng là cơ
quan quản lý thuế.
1.2.1.2. Cấu trúc nguồn của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Về mặt cấu trúc, tùy thuộc vào tiêu chí phân chia mà pháp luật thuế
thu nhập doanh nghiệp được phân định thành các bộ phận khác nhau.
* Căn cứ vào nội dung các quy phạm pháp luật thuế thu nhập doanh
thuế thu nhập doanh nghiệp được chia thành hai bộ phận sau:
20
Thứ nhất, các quy phạm pháp luật quốc gia điều chỉnh quan hệ pháp
luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Nhóm các quy phạm pháp luật có trong các
văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban
hành để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp.
Thứ hai, các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ pháp luật
thuế thu nhập doanh nghiệp. Nhóm các quy phạm pháp luật có trong các văn
bản pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp mà Nhà nước Việt Nam ký kết hoặc tham gia như các Điều ước quốc
tế song phương và đa phương về thuế thu nhập, điển hình là các Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết song phương với nhiều quốc
gia khác nhau…
Cùng với việc xây dựng một hệ thống pháp quy về thuế thu nhập
doanh nghiệp đáp ứng những yêu cầu về thu ngân sách, phù hợp với tình hình
phát triển kinh tế đất nước, các Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần được ký
kết giữa Việt Nam và các nước đã trở thành bộ phận của pháp luật thuế thu
nhập của Việt Nam. Có thể nói, Điều ước quốc tế về thuế và các văn bản pháp
luật thuế thu nhập doanh nghiệp trong hệ thống pháp luật quốc gia là hai bộ
phận cấu thành nên một chỉnh thể thống nhất. Hai bộ phận này có mối quan
hệ ràng buộc và tác động qua lại lẫn nhau. Trong trường hợp các quy định
pháp luật về thuế thu nhập có sự khác nhau giữa văn bản pháp luật quốc gia
và Điều ước Quốc tế mà Việt Nam tham gia hay ký kết thì quy phạm pháp
luật trong Điều ước Quốc tế được ưu tiên áp dụng.
1.2.2. Mô hình pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.2.1. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Hệ thống pháp luật thuế là một bộ phận cấu thành của pháp luật quốc
gia, có thể được hình dung như là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh