1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN VĂN QUANG SO SÁNH CHẾ ĐỊNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VÀ THEO CÔNG ƢỚC VIÊN 1980
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2014
2
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VÀ THEO CÔNG ƢỚC VIÊN NĂM 1980 11
1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế 11
1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 17
1.3. Những nguyên tắc của luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 25
1.3.1. Nguyên tắc tự do ý chí 25
1.3.2. Nguyên tắc áp dụng tập quán và thói quen thương mại 26
1.3.3. Nguyên tắc phù hợp với luật của nước được lựa chọn hoặc dẫn chiếu
tới 27
1.4. Vai trò và ý nghĩa của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 28
CHƢƠNG 2 SO SÁNH CÁC NỘI DUNG CỤ THỂ CỦA CÔNG ƢỚC
VIÊN 1980 VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 31
2.1. Hình thức của hợp đồng 31
2.2. Đề nghị giao kết hợp đồng 35
2.2.1.Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng 35
2.2.2. Điều kiện có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng 38
2.2.3. Thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng 40
2.2.4. Đưa ra chào hàng mới 44
4
2.2.5. Chào hàng trong sự so sánh với các quy định của Các nguyên tắc của
Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 45
2.3. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 50
2.3.1.Khái niệm chấp nhận đề nghị theo Công ước Viên 1980 50
-VCCI : Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
-WTO : World Trade Organization ( Tổ chức thương mại Thế giới ) 6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Giao lưu giữa các nước trên thế giới ngày càng mở rộng theo xu
hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Đặc biệt sự hình
thành và phát triển của các tổ chức khu vực, liên khu vực và các công ty đa
quốc gia trong mấy thập kỷ vừa qua đã đánh dấu một bước tiến quan trọng
trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới. Tình hình này khiến cho các quốc
gia không thể chỉ bó hẹp hoạt động kinh tế của mình trong phạm vi quốc gia,
mà còn phải tham gia vào các hoạt động kinh tế toàn cầu hoặc khu vực nhằm
tận dụng mọi lợi thế so sánh. Giao lưu quốc tế của các nước trên thế giới
càng mở rộng và phức tạp thì càng cần thiết có pháp luật quốc tế thích hợp
để điều chỉnh các mối quan hệ đó. Đồng thời pháp luật quốc gia cần được
xem xét trong sự so sánh với pháp luật quốc tế để làm rõ các điểm tương
đồng và khác biệt. Trên cơ sở đó các nước chủ động trong quá trình hội
nhập.
Hoạt động thương mại quốc tế hiện nay không còn bị giới hạn trong
việc trao đổi hàng hóa mà được mở rộng sang cả các lĩnh vực khác như
thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư, thương mại liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ. Hàng hóa được bán ra ở nhiều quốc gia với số lượng lớn hơn và
chủng loại phong phú hơn. Nhưng khi khối lượng cũng như tính phức tạp
của mua bán hàng hóa quốc tế tăng lên thì khả năng dẫn đến tranh chấp và
hiểu lầm cũng theo đó mà tăng lên nếu như các hợp đồng mua bán hàng hóa
không được soạn thảo một cách cụ thể. Công cụ pháp lý được sử dụng trong
việc trao đổi hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế . Có thể
8
2. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ lý do trên, khi nghiên cứu đề tài “So sánh chế định giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và
theo Công ƣớc Viên 1980”, Luận văn có các mục đích sau:
- Thứ nhất: Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế. Qua đó thấy được tầm quan trọng của vấn đề giao kết hợp
đồng liên quan tới lĩnh vực này, đồng thời làm rõ các yếu tố của việc giao
kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
- Thứ hai: Phân tích và đánh giá các quy định của Công ước Viên
1980 – Công ước thống nhất các quy định về vấn đề hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế trên toàn thế giới - về giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế trong sự so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam.
- Thứ ba: Kiến nghị một số phương hướng và giải pháp chính nhằm
xây dựng và hoàn thiện về pháp luật hợp đồng nói chung và giao kết hợp
đồng mua bán hàng hoá quốc tế nói riêng của pháp luật Việt Nam sau khi
nghiên cứu Công ước Viên 1980.
3. Phạm vi nghiên cứu
Công ước Viên 1980 là Công ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế do Uỷ ban Liên hợp quốc soạn thảo với rất nhiều quốc gia thành
viên và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Việt Nam mặc dù chưa phải
là thành viên của Công ước này nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn có
cơ hội áp dụng các quy định của Công ước khi tham gia giao kết hợp đồng
mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế.
Công ước quy định về mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế như đối tượng, chủ thể của hợp đồng, vấn đề giao kết hợp
đồng, quyền và nghiã vụ của các bên trong hợp đồng, các vấn đề chế tài,
chính trong hoạt động so sánh, song có vai trò làm cho thấy rõ hơn đối tượng
nào trong các đối tượng so sánh chính gần gũi hơn so với các chuẩn mực
hiện hữu.
5. Bố cục của Luận văn
Luận văn này gồm có 3 chương, cụ thể là
Chƣơng 1: Khái quát chung về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế theo pháp luật Việt Nam và theo Công ước Viên năm 1980
Chƣơng 2: So sánh các nội dung cụ thể của Công ước Viên năm 1980
với pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chƣơng 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế
11
CHƢƠNG 1
tế mà được gọi tắt là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm: hợp
đồng mà có một bên giao kết là người nước ngoài; hoặc hợp đồng được giao
kết theo pháp luật nước ngoài hoặc ở nước ngoài; hoặc hợp đồng mà có đối
tượng là tài sản ở nước ngoài.
Nhưng đối với Công ước Viên 1980 thì yếu tố quốc tế hay yếu tố
nước ngoài được qui định hẹp hơn. Nguồn gốc của hàng hóa không được
xem xét đến để xác định hợp đồng đó có phải là hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế hay không. Yếu tố nước ngoài hay yếu tố quốc tế xác định theo chủ
thể của hợp đồng. Điều 1, khoản 1 của Công ước Viên 1980 qui định:
“Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các
bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau:
a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước
hoặc
b. Khi theo các qui tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật
của các nước thành viên Công ước này”.
Công ước Viên 1980 không dựa trên quốc tịch của người giao kết hợp
đồng để xác định yếu tố nước ngoài. Theo Luật Doanh nghiệp 2005 quốc
tịch của thương nhân được xác định theo nơi mà thương nhân đó thành lập,
đăng ký kinh doanh (Điều 4, khoản 20). Do có sự khác biệt giữa pháp luật
của các nước, có thể Công ước Viên 1980 không quan tâm tới vấn đề quốc
tịch của thương nhân. Điều 1, khoản 3 của Công ước này qui định: “Quốc
tịch của các bên, qui chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự
hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp
dụng Công ước này”. Qui định này cũng đã cho thấy quan niệm về quan hệ
dân sự theo nghĩa rộng giống với quan niệm của Việt Nam về vấn đề này
13
như đã nói ở trên. Công ước Viên 1980 coi các thương nhân thuộc các nước
khác nhau căn cứ vào trụ sở của các thương nhân đó mà không căn cứ vào
nước mà thương nhân đó mang quốc tịch hoặc căn cứ vào nước mà thương
b.Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng thông thường được di chuyển
từ nước này qua nước khác.
c.Đồng tiền thanh toán trong Hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại
thương là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng”.[24]
Khi Luật thương mại 1997 được ban hành, khái niệm hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế cũng chưa được quy định rõ ràng. Điều 80 của Luật
chỉ đề cập đến “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài”
với định nghĩa: “Hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa một bên là thương nhân
Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài” (Điều 80). Điều này chỉ
đề cập đến sự khác biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với các
loại hợp đồng khác thông qua việc xác định quốc tịch của các chủ thể giao
kết hợp đồng.
Thuật ngữ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế lần đầu tiên xuất hiện
trong pháp luật Việt Nam tại Luật Thương mại năm 2005. Điều 27 của Luật
này xác định theo cách thức liệt kê như sau: “Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập,
tái xuất, tái nhập và chuyển khẩu”. Tiếp theo điều luật này, Luật Thương
mại năm 2005 cũng đưa ra các khái niệm về hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu, tạm nhập, tái xuất, tái nhập và chuyển khẩu tại các điều từ Điều 28 đến
Điều 30. Với 5 khái niệm liên quan tới 5 dạng hoạt động nói trên, Luật
Thương mại năm 2005 cho rằng hàng hóa trong các hoạt động này mà có thể
được di chuyển qua biên giới của Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước
15
(vùng lãnh thổ), hoặc di chuyển qua khu chế xuất, khu vực hải quan
riêng được xem là có yếu tố quốc tế. Để thi hành Luật này, Nghị định số
187/2013/NĐ- CP ngày 20/11/2013 qui định chi tiết thi hành Luật Thương
mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua,
bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài không đưa ra định nghĩa
là động sản hữu hình. Với quan niệm chung về hàng hóa như vậy của thế
giới, có thể thấy: nếu đối tượng của hợp đồng là bất động sản thì hợp đống
đó không phải là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mặc dù bất động sản
được bán cho người nước ngoài. Hợp đồng mua bán bất động sản với người
nước ngoài thường bị điều chỉnh bởi một qui chế pháp lý riêng biệt với qui
chế dành cho mua bán hàng hóa (goods). Thực tế Công ước Viên năm 1980
đã xác định phạm vi áp dụng của Công ước dựa trên quan niệm đó và loại
trừ thêm một số tài sản khác ra khỏi nội hàm của khái niệm hàng hóa. Công
ước qui định tại Điều 2 như sau:
“Công ước này không áp dụng đối với mua bán:
(a) các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ
khi người bán, vào bất kỳ lúc nào trong thời gian trước hoặc vào thời điểm
ký kết hợp đồng, không biết hoặc không cần phải biết rằng hàng hóa đã
được mua để sử dụng như thế;
(b) đấu giá;
(c) trong việc thi hành hoặc để thực thi các việc khác bởi nhà chức
trách pháp luật;
(d) các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, các chứng từ lưu thông
hoặc tiền tệ;
(e) tầu, thuyền, tầu chạy nhờ đệm không khí hoặc tầu bay;
(f) điện năng”.
17
1.1.2. Khái niệm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là việc các bên bày tỏ ý
chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập
với nhau các quyền, nghĩa vụ liên quan tới việc mua bán hàng hóa quốc tế.
Những nguyên tắc đó bao gồm :
-Nguyên tắc tự do ý chí (hay còn gọi là tự do hợp đồng) .
hay pháp nhân) đều có thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy
nhiên tư cách của họ phải được xác định phù hợp với pháp luật quốc gia nơi
họ mang quốc tịch hoặc thường trú.
Luật Thương mại 2005 quy định: “Thương nhân bao gồm tổ chức
kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” (Điều 6, khoản 1). Thế
nhưng để được giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thương nhân
phải đáp ứng được những điều kiện nhất định theo qui định của pháp luật.
Theo quy định của Điều 8 của Nghị định 57/1998 ngày 31/7/1998 được sửa
đổi bởi Nghị định 44/2001/NĐ-CP ngày 2/8/2001, thương nhân được phép
xuất khẩu tất cả các loại hàng hóa không phụ thuộc ngành nghề, ngành hàng
ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trừ hàng hóa nằm trong danh
mục những hàng hóa cấm xuất khẩu; được nhập khẩu hàng hóa theo các
ngành nghế, ngành hàng được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh trước khi tiến hành hoạt động xuất, nhập khấu, chủ thể kinh doanh
phải đăng ký mã số kinh doanh xuất, nhập khẩu tại Cục hải quan tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương. Tới nay Điều 2, Nghị định số 187/2013/NĐ- CP
ngày 20/11/2013 qui định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động
19
mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá
cảnh hàng hóa với nước ngoài xác định đối tượng áp dụng của Nghị định
này là “Thương nhân Việt Nam; các tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên
quan đến thương mại quy định tại Luật Thương mại”. Như vậy ngoài thương
nhân, các tổ chức và cá nhân khác có liên quan tới hoạt động thương mại
cũng có quyền giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Thế nhưng chủ
thể thông thường của các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các thương
nhân.
Tuy nhiên trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cụ thể, các
bên thương nhân phải có quốc tịch khác nhau hoặc trụ sở thương mại đặt tại
các công ty thương mại do bản chất điều lệ công ty quyết định. Trong trường
hợp này Điều lệ được xem là một hình thức uỷ quyền của công ty (với tính
cách là một thực thể pháp luật) cho một thể nhân cụ thể. Người được ủy
quyền này có thể uỷ quyền lại cho người khác. Khi là người đại diện của
pháp nhân (công ty), hành vi của người đại diện này vì lợi ích của pháp nhân
và trong phạm vi quyền hạn được pháp nhân giao cho được xem là hành vi
của chính pháp nhân đó, có nghĩa là nó làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
quyền và nghĩa vụ của pháp nhân đó với người thứ ba, chứ không phải làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của người đại diện với
người thứ ba. Ý chí của pháp nhân được thể hiện thống nhất thông qua
người đại diện. Để giải thích cho sự đại diện một số luật gia đã viện dẫn
nguyên tắc ý chí tự do làm căn bản, theo đó trong giao kết hợp đồng, sự đại
diện chỉ có hiệu lực khi hội đủ các điều kiện sau đây:
- Người đại diện phải có quyền đại diện: Người đại diện được thể hiện
thông qua những quy định trong bản điều lệ của pháp nhân hay thông qua
văn bản uỷ quyền hợp pháp;
21
- Người đại diện phải có ý chí đại diện: Người đại diện phải có ý chí
đại diện và phải phát biểu rõ ý chí đại diện đó thì sự đại diện mới phát sinh
hiệu lực đối với người hay công ty được đại diện;
- Người đại diện phải có ý chí giao kết hợp đồng: Người đại diện
không chỉ là người làm trung gian để truyền đạt ý chí của người được đại
diện. Sự thực chính họ phải giao kết hợp đồng, vì vậy ý chí của họ đóng một
vai trò rất quan trọng, thiếu ý chí đó hoặc ý chí đó bị khiếm khuyết thì sự đại
diện sẽ vô hiệu [2, tr. 293- 296].
Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng
Như trên đã phân tích hàng hóa mà là đối tượng của hợp đồng mua
bán hàng hóa được thế giới quan niệm là động sản hữu hình. Do vậy Công
ước Viên 1980 đã thừa nhận quan niệm này và loại bỏ một số động sản hữu
bất kỳ một lợi ích nào trong chúng có thể được chuyển giao.
Một đặc điểm về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là
đối tượng trong hợp đồng thông thường được dịch chuyển từ quốc gia này
sang quốc gia khác hoặc từ khu chế xuất vào thị trường nội địa. Pháp luật
các quốc gia đều có những quy định về điều kiện đối với hàng hóa xuất nhập
khẩu như: điều kiện về loại hàng hóa được phép, hạn chế hoặc cấm xuất
nhập khẩu; điều kiện về hải quan; thuế; đảm bảo lợi ích công cộng, thuần
phong mỹ tục Do đó, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế còn phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật từng
quốc gia có các bên ký kết hợp đồng.
Vì vậy, các chủ thể khi tham gia vào quan hệ mua bán hàng hóa quốc
tế cần phải tìm hiểu xem hàng hòa định mua hoặc bán có phải là hàng hóa
được phép kinh doanh không tại nước của đối tác. Cụ thể, hàng hóa đó có
phải là hàng hóa bị cấm hay hàng hóa kinh doanh có điều kiện không. Căn
23
cứ để xác định loại hàng hóa bị cấm mua bán hoặc mua bán có điều kiện
theo luật của quốc gia xuất hoặc nhập hàng hóa đó. Việc cấm hay hạn chế
một số loại hàng hóa nhất định xuất phát từ chính sách riêng của từng quốc
gia, đôi khi cũng xuất phát từ chinh sách chung của nhiều nước mà thường
được thể hiện qua các điều ước quốc tế.
Tóm lại, hàng hóa cần phải đảm bảo được các yếu tố như trên thì mới
có thể được coi là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Thứ ba, về đồng tiền thanh toán
Tiền tệ dùng để thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một hoặc các
bên. Ví dụ: trong hợp đồng giữa người bán Việt Nam và người mua Hoa Kỳ,
các bên thỏa thuận thanh toán bằng Đô la Mỹ, thì Đô la Mỹ là ngoại tệ đối
với bên Việt Nam; trong trường hợp mua bán giữa bên Việt Nam và bên
Pháp, nếu các bên thỏa thuận thanh toán bằng Đô la Mỹ, thì Đô la Mỹ là
ngoại tệ đối với cả hai bên. Đặc biệt, cũng có trường hợp đồng tiền thanh
+ Hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam phải tuân theo
pháp luật Việt Nam;
+ Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao
kết hợp đồng;
+ Nếu hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về
hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước đó, nhưng không trái với quy
định về hình thức hợp đồng theo pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng
được giao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam;
+ Hình thức hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hoặc chuyển giao
quyền sở hữu công trình, nhà cửa và các bất động sản khác trên lãnh thổ Việt
Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam (Điều 769 và Điều 770).
25
Các qui định này cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng,
và nếu không có sự lựa chọn đó thì khi tòa án Việt Nam giải quyết tranh
chấp theo các qui phạm xung đột này xác định luật áp dụng. Có lẽ đây là vấn
đề phức tạp nhất của pháp luật liên quan tới các quan hệ quốc tế và nó phần
nào giải đáp cho việc xây dựng các điều ước quốc tế trong lĩnh vực luật tư
và ngay cả Công ước Viên 1980. Các điều ước này hướng tới sự thống nhất
các qui tắc pháp luật trong phạm vi khu vực và quốc tế.
1.3. Những nguyên tắc của luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được tạo lập do sự thỏa thuận
của các bên. Do đó luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng này cũng có các
nguyên tắc của luật hợp đồng nói chung- đó là: nguyên tắc tự do ý chí;
nguyên tắc áp dụng tập quán và thói quen thương mại. Ngoài ra luật hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn có nguyên tắc riêng là nguyên tắc phù
hợp với luật của nước được lựa chọn hoặc dẫn chiếu tới.
1.3.1. Nguyên tắc tự do ý chí