1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NGỌC MAI
PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ
GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Lan Hương
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH
BẢO ĐẢM VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH
BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
6
1.1.
Những vấn đề lý luận về đăng ký giao dịch bảo đảm
6
1.1.1.
Khái niệm, đặc điểm và các hình thức đăng ký giao dịch bảo đảm
6
1.1.2.
Vai trò, ý nghĩa và giá trị pháp lý của việc đăng ký giao dịch
bảo đảm
13
1.2.
Quan hệ pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm trong hoạt
động cho vay của các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam
19
1.2.1.
Chủ thể tham gia quan hệ đăng ký giao dịch bảo đảm
20
1.2.2.
Đối tƣợng đăng ký giao dịch bảo đảm
24
1.2.3.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đăng ký giao
dịch bảo đảm
24
1.2.4.
Các trƣờng hợp yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm
41
2.3.2.
Các trƣờng hợp đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm
đã đăng ký
48
2.3.3.
Các trƣờng hợp xóa đăng ký giao dịch bảo đảm
50
2.4.
Hồ sơ và thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm
52
2.4.1.
Hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm
52
2.4.2.
Thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm
54
2.5.
Cung cấp và công bố thông tin về giao dịch bảo đảm
65
2.5.1.
Pháp luật về cung cấp và công bố thông tin về giao dịch bảo đảm
65
2.5.2.
Thực tiễn thi hành pháp luật về cung cấp và công bố thông tin
về giao dịch bảo đảm
69
2.6.
Đăng ký giao dịch bảo đảm qua mạng điện tử
các cơ quan có liên quan
92
3.2.4.
Tập trung thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm
93
3.2.5.
Hoàn thiện hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm trực tuyến
97
3.2.6.
Các kiến nghị đối với ngân hàng thƣơng mại
97
KẾT LUẬN
101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
103 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
NHTM
: Ngân hàng thƣơng mại
đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ có sự tác động trực tiếp,
mạnh mẽ tới quyết định cấp tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) -
đối tƣợng cấp tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế nƣớc ta hiện nay.
Thực tiễn cho thấy, một trong những yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định
cấp tín dụng của các tổ chức này chính là thông tin về tình trạng pháp lý của
tài sản đƣợc dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay vốn. Bởi
lẽ, việc nắm bắt các thông tin này sẽ giúp ích rất nhiều cho quá trình phân
tích, đánh giá mức độ rủi ro của giao dịch bảo đảm mà các NHTM dự định
thiết lập với khách hàng, làm cơ sở cho việc đƣa ra các quyết định tài trợ vốn
đúng đắn. Và điều này đƣợc xem nhƣ là nhu cầu mang tính tất yếu của các
nhà đầu tƣ nói chung và các NHTM nói riêng trong môi trƣờng kinh doanh
của nền tài chính hiện đại. Theo đó, thì một trong những công cụ hữu hiệu để
xác định tình trạng pháp lý của tài sản đang đƣợc dùng để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ, phục vụ trực tiếp cho việc đánh giá mức độ rủi ro của quyết định tài
trợ/cấp vốn của các ngân hàng là việc đăng ký giao dịch bảo đảm với ý nghĩa
công khai hóa chủ thể quyền cũng nhƣ các quyền tồn tại từ trƣớc đối với tài
sản bảo đảm của bên có nghĩa vụ trong các giao dịch tín dụng. Và cơ chế 8
đăng ký này cũng đƣợc pháp luật nhiều nƣớc trên thế giới quy định để bảo vệ
quyền, lợi ích của bên có quyền trong quan hệ với bên có nghĩa vụ.
Pháp luật Việt Nam đã bƣớc đầu thừa nhận, bảo đảm sự minh bạch về
thông tin pháp lý của các chủ thể, tài sản trong các giao dịch dân sự, hợp đồng
bằng việc ban hành Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 về đăng ký
giao dịch bảo đảm. Điều này tiếp tục đƣợc khẳng định trong các quy định của
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật Hàng Hải
năm 2005, Luật Nhà ở năm 2006, các văn bản của Bộ Tài nguyên và Môi
trƣờng, Bộ Tƣ pháp,… hƣớng dẫn hoạt động đăng ký đối với mỗi loại giao
dịch, tài sản. Và trên cơ sở kế thừa, pháp điển hóa các quy định của pháp luật
sản, giúp các ngân hàng có đủ cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình đồng thời giúp cơ quan có thẩm quyền đăng ký thực hiện tốt chức năng
quản lý nhà nƣớc về các giao dịch bảo đảm đƣợc đăng ký. Có nhƣ vậy mới
tạo đƣợc niềm tin của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam. Đây cũng là
ý nghĩa và mục đích nghiên cứu của luận văn trong phạm vi đề tài này.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở nƣớc ta, đến thời điểm hiện tại, đã có một số công trình nghiên cứu
khoa học về đăng ký giao dịch bảo đảm nhƣ: công trình nghiên cứu khoa học
cấp cơ sở, với đề tài là: "Đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm
của Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch
bảo đảm, Bộ Tƣ pháp; luận văn thạc sĩ với đề tài: "Pháp luật về đăng ký giao
dịch bảo đảm", của Hồ Quang Huy, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Những công trình khoa học này đều tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng
của luật thực định về đăng ký giao dịch bảo đảm tại Việt Nam. Tuy nhiên, để
đi sâu nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện, chi tiết các quy định pháp
luật và thực tiễn thi hành, áp dụng các quy định này từ phía các cơ quan nhà
nƣớc có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm, các NHTM trong hoạt động
cho vay của các NHTM ở Việt Nam hiện nay thì hiện chƣa có công trình khoa
học nào nghiên cứu, đề cập tới.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn 10
Việc nghiên cứu đề tài "Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm
trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện
nay" nhằm đạt các mục tiêu chủ yếu sau đây:
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về đăng ký giao dịch bảo đảm và
pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm trong hoạt động cho vay của các
NHTM ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật
trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc, toàn diện về pháp luật đăng
ký giao dịch bảo đảm trong hoạt động cho vay của các NHTM ở Việt Nam
hiện nay. Những vấn đề cụ thể về lý luận, cách nhìn nhận, đánh giá các quy
định của pháp luật thực định cũng nhƣ thực tiễn thi hành những quy định này
từ phía cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm và các
NHTM, từ đó đƣa ra hƣớng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này trong
hoạt động cho vay của các NHTM ở Việt Nam chính là những đóng góp có
giá trị đối với công tác nghiên cứu khoa học, công tác lập pháp và hoạt động
của các NHTM của luận văn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đăng ký giao dịch bảo đảm và
pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân
hàng thƣơng mại ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về
đăng ký giao dịch bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng
thƣơng mại. 12
Chương 3: Định hƣớng hoàn thiện và một số kiến nghị về pháp luật
đăng ký giao dịch bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng
thƣơng mại. 13
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM
VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG
dùng tài sản của mình (tài sản bảo đảm) để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa
vụ. Trƣờng hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
thỏa thuận, thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để bảo đảm
việc thực hiện nghĩa vụ.
Khái niệm đăng ký giao dịch bảo đảm
Dƣới giác độ là biện pháp nhằm công khai và minh bạch hóa tình
trạng pháp lý của tài sản bảo đảm và lợi ích của việc đăng ký đối với các chủ
thể có liên quan, thì đăng ký đƣợc hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền ghi nhận và chứng thực về mặt pháp lý quyền sở hữu và các giao
dịch bảo đảm theo nghĩa rộng của từ này.
Trong những năm qua, đặc biệt từ năm 2000 đến nay, chế định về
đăng ký giao dịch bảo đảm đã từng bƣớc đƣợc xây dựng và phát triển trong hệ
thống các văn bản pháp luật quy định về lĩnh vực này. Tuy nhiên, cho đến
thời điểm hiện tại, trong khoa học pháp lý Việt Nam vẫn chƣa có khái niệm
chính thức về đăng ký giao dịch bảo đảm.
Song nhìn từ giác độ của pháp luật thực định, tại khoản 1, Điều 2 Nghị
định số 83/2010/NĐ-CP quy định: "Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ
quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc
nhập vào cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc Bên bảo đảm dùng tài sản
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với nhận bảo đảm" [20]. Hay nói
cách khác, đăng ký giao dịch bảo đảm là việc một trong các bên tham gia
quan hệ bảo đảm tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tài sản tại cơ
quan nhà nƣớc có thẩm quyền, tránh việc chuyển dịch chủ sở hữu của tài sản
trong thời gian đăng ký.
Đối chiếu quy định nêu trên cho thấy, đăng ký giao dịch bảo đảm đƣợc
thực hiện trên cơ sở hợp đồng bảo đảm, theo đó một bên (gọi là Bên bảo đảm) 15
cam kết với bên có quyền (gọi là bên nhận bảo đảm) về việc sẽ thực hiện một
16
thẩm quyền đăng ký giao dịch đó. Nội dung đăng ký chính là những điều
khoản thỏa thuận của các bên trong giao dịch bảo đảm mà ngƣời yêu cầu đăng
ký kê khai, thông báo cho cơ quan đăng ký với mục đích nhằm công khai hóa
các giao dịch bảo đảm, từ đó xác lập giá trị pháp lý đối với ngƣời thứ ba về
quyền ƣu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm với tài sản bảo đảm. Đồng
thời tạo điều kiện để Nhà nƣớc quản lý hoạt động của các giao dịch bảo đảm,
cung cấp thông tin cho các chủ thể có liên quan nhằm góp phần giảm bớt rủi
ro, gian lận trong giao dịch kinh tế - dân sự đặc biệt là các giao dịch trên thị
trƣờng tài chính, tín dụng - các giao dịch vay vốn mà NHTM là bên cho vay,
qua đó làm cho môi trƣờng đầu tƣ trở nên hấp dẫn hơn.
Nhƣ vậy, với những ƣu điểm nêu trên cho thấy, việc đăng ký giao dịch
bảo đảm sẽ mang lại nhiều quyền và lợi ích hợp pháp cho Bên nhận bảo đảm
đặc biệt là các NHTM hơn so với giao dịch dân sự thông thƣờng không đƣợc
đăng ký theo thủ tục này.
1.1.1.2. Các đặc điểm về đăng ký giao dịch bảo đảm
Với mục đích làm minh bạch hóa thông tin về giao dịch bảo đảm, tình
trạng pháp lý của tài sản bảo đảm, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm có
những đặc điểm pháp lý nhƣ sau:
Thứ nhất: Đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo một trình
tự, thủ tục do pháp luật quy định
Pháp luật hiện hành quy định khác nhau về trình tự, thủ tục về đăng ký
giao dịch bảo đảm bằng động sản và bất động sản. Tuy nhiên, mục tiêu chung
của việc quy định này là vẫn là nhằm công khai hóa quyền lợi của Bên nhận
bảo đảm đối với Bên bảo đảm. Đăng ký giao dịch bảo đảm không ghi nhận
toàn bộ nội dung của giao dịch bảo đảm (thể hiện trong các Hợp đồng cầm cố,
Hợp đồng thế chấp,…) mà chỉ ghi nhận những thông tin để làm rõ quyền của
Bên nhận bảo đảm, nghĩa vụ của Bên bảo đảm và tài sản để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ là gì?
và Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng,… Do mục đích của đăng ký giao dịch 18
bảo đảm là công khai hóa thông tin về tài sản bảo đảm nên việc đăng ký này
mang tính dịch vụ công, vì vậy, mọi tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu đều đƣợc
cung cấp thông tin cũng nhƣ các quyền đã thiết lập với tài sản bảo đảm.
Thứ ba: Đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện một cách bắt
buộc hoặc tự nguyện tùy theo quy định của pháp luật
Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia đều quy định những trƣờng
hợp bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc đăng ký theo yêu cầu tự
nguyện của một trong các bên tham gia giao dịch bảo đảm. Đăng ký bắt buộc là
loại đăng ký mà pháp luật buộc một trong các bên tham gia giao dịch bảo đảm
phải đăng ký giao dịch đó tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Nhà nƣớc chỉ
thừa nhận giá trị pháp lý của giao dịch đó khi nó đã đƣợc đăng ký tại cơ quan
đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền. Điều này đƣợc ghi nhận trong
pháp luật một số nƣớc nhƣ Luật Đăng ký bất động sản của Liên bang Nga, tại
khoản 1 Điều 3 quy định: "Đăng ký nhà nước các quyền đối với bất động sản
và các giao dịch về bất động sản là sự kiện pháp lý công nhận và chứng thực
bởi nhà nước sự phát sinh, hạn chế, chuyển dịch hoặc chấm dứt các quyền đối
với bất động sản theo quy định của Bộ luật dân sự Liên bang Nga" [24, tr. 7].
Theo đó thì việc đăng ký đƣợc thực hiện bắt buộc, không quy định các trƣờng
hợp đăng ký tự nguyện. Còn đăng ký tự nguyện là loại đăng ký mà các bên
trong quan hệ bảo đảm có thể đăng ký hoặc không đăng ký giao dịch bảo đảm
đó tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền của Nhà nƣớc. Và việc đăng ký hay
không đăng ký này không ảnh hƣởng đến hiệu lực pháp lý của giao dịch bảo
đảm mà các bên đã thiết lập.
Thứ tư: Thông tin về giao dịch bảo đảm được đăng ký phải được cung
cấp cho mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu
Cung cấp thông tin là mục tiêu quan trọng của tất cả các hệ thống
2. Gửi qua đường bưu điện;
3. Gửi qua fax hoặc gửi qua thư điện tử đối với đăng ký
giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các Trung tâm Đăng ký giao 20
dịch, tài sản với điều kiện người yêu cầu đăng ký đã đăng ký khách
hàng thường xuyên tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm
thuộc Bộ Tư pháp;
4. Gửi qua hệ thống đăng ký trực tuyến [20].
Theo quy định này thì khi nộp hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm,
ngƣời yêu cầu đăng ký có thể lựa chọn một trong các phƣơng thức đăng ký
nêu trên. Pháp luật của một số nƣớc về đăng ký giao dịch bảo đảm quy định
hình thức đăng ký thông thƣờng là nộp đơn trực tiếp cho cơ quan đăng ký và
qua đƣờng bƣu điện. Pháp luật hiện hành của Việt Nam, ngoài việc quy định
hình thức đăng ký thông thƣờng giống pháp luật một số nƣớc trên thế giới thì
còn cho phép ngƣời yêu cầu đƣợc đăng ký theo hình thức "gửi qua fax" và
"qua hệ thống đăng ký trực tuyến" cũng nhƣ trình tự, thủ tục cụ thể khi thực
hiện đăng ký theo phƣơng thức này tại Thông tƣ số 22/2010/TT-BTP ngày
06/12/2010 của Bộ Tƣ pháp hƣớng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin trực
tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên thi hành án (sau
đây gọi tắt là Thông tƣ số 22/2010/TT-BTP).
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa và giá trị pháp lý của việc đăng ký giao dịch
bảo đảm
1.1.2.1. Vai trò của việc đăng ký giao dịch bảo đảm
Trong những năm qua, việc đăng ký giao dịch bảo đảm ở nƣớc ta đã
phát huy ý nghĩa quan trọng trong việc công khai và minh bạch các giao dịch
bảo đảm nói chung, bên cạnh việc giúp cho Bên bảo đảm là các doanh nghiệp,
tổ chức và cá nhân có thêm cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn để phát triển
sản xuất, kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần còn giúp cho
bảo đảm đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc hoàn thiện lợi ích bảo đảm (nắm
giữ tài sản bảo đảm) sẽ đƣợc ƣu tiên thanh toán trƣớc. Nhƣ vậy, thời điểm
đăng ký giao dịch bảo đảm là một trong những cách thức để xác định thứ tự
ƣu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm với nhau.
Thứ hai: Đối với Bên bảo đảm
Một trong những yêu cầu đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội là việc
dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không đƣợc ảnh hƣởng đến hoạt 22
động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của Bên bảo đảm. Điều này có nghĩa,
Bên bảo đảm vẫn giữ tài sản bảo đảm và tiếp tục khai thác, sử dụng tài sản
nhằm phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh của mình (trừ trƣờng hợp pháp
luật hoặc các bên tham gia giao dịch có thỏa thuận khác). Đặc điểm này vô
cùng quan trọng trong nền tài chính hiện đại, vì thƣơng gia buộc phải có hàng
trong tay thì mới có thể giới thiệu, tiếp thị hàng đƣợc, nhà thầu phải sử dụng
thiết bị mới có thể thực hiện hợp đồng và một nhà nông phải có máy móc để
gieo trồng và thu hoạch mùa màng Thông qua cơ chế đăng ký giao dịch bảo
đảm, Bên bảo đảm vừa đạt đƣợc mục đích dùng tài sản để bảo đảm việc thực
hiện nghĩa vụ, vừa duy trì đƣợc hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình.
Chính nguồn lợi thu đƣợc từ việc khai thác tài sản bảo đảm sẽ giúp bên nhận
bảo đảm từng bƣớc thu hồi vốn, tái đầu tƣ và thanh toán đƣợc nợ cho bên
nhận bảo đảm. Do vậy, nếu phải giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm
hoặc ngƣời thứ ba giữ, thì mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của Bên bảo
đảm bị ngƣng trệ. Điều này đi ngƣợc lại với mục đích của giao dịch bảo đảm
hiện đại, đó là vừa giúp các giao dịch đƣợc an toàn, vừa thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội.
Thứ ba: Đối với bên thứ ba
Trong nhiều trƣờng hợp, do thiếu thông tin nên bên thứ ba có thể dễ
dàng cho rằng tài sản vẫn chƣa đƣợc dùng để bảo đảm cho bất kỳ một nghĩa
liên quan đến tài sản đó. Bên cạnh đó, thông qua hệ thống đăng ký giao dịch
bảo đảm, Nhà nƣớc sẽ có đƣợc những thông tin cần thiết phục vụ cho quá
trình hoạch định các chính sách mang tính vĩ mô, đặc biệt liên quan trực tiếp
đến chính sách bảo đảm an toàn tín dụng. Hệ thống đăng ký giao dịch bảo
đảm đƣợc vận hành hiệu quả sẽ khuyến khích hoạt động cho vay phục vụ nhu
cầu vốn trong xã hội, nhờ đó nguồn vốn trong xã hội sẽ đƣợc luân chuyển liên
tục, khắc phục tình trạng khan hiếm vốn và sự mất cân đối về nhu cầu vốn
giữa các thành phần kinh tế.
1.1.2.2. Ý nghĩa của việc đăng ký giao dịch bảo đảm
Một là, thông qua hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, Nhà nƣớc sẽ
có đƣợc những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình hoạch định các chính 24
sách mang tính chất vĩ mô, đặc biệt liên quan trực tiếp đến chính sách bảo
đảm an toàn tín dụng, quyết định cấp tín dụng của các NHTM. Ngoài ra, hoạt
động có hiệu quả của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ giúp giảm thiểu
đƣợc những tranh chấp phát sinh trong đó chủ yếu là tranh chấp giữa các
NHTM và Bên bảo đảm đƣợc nhanh hơn. Từ đó, giúp cho Nhà nƣớc quản lý
xã hội đƣợc tốt hơn, tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội phát triển;
Hai là, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm còn nhằm tạo ra hệ
thống các thông tin về giao dịch bảo đảm (đƣợc gọi là Hệ thống dữ liệu quốc
gia các giao dịch bảo đảm) để cung cấp công khai các giao dịch bảo đảm và
thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản cho mọi tổ chức, cá nhân có nhu
cầu tìm hiểu, qua đó giúp họ có thông tin chính xác, tin cậy, tránh đƣợc các
rủi ro trƣớc khi quyết định xác lập các giao dịch dân sự, kinh tế, đặc biệt là
các giao dịch tín dụng của NHTM. Kết quả tìm hiểu thông tin về tài sản bảo
đảm sẽ giúp các NHTM đƣa ra quyết định phù hợp và có lợi cho mình nhất.
Cơ chế tìm hiểu thông tin sẽ nhƣ một biện pháp phòng ngừa rủi ro để các
ngân hàng bảo vệ quyền, lợi ích của mình, tránh trƣờng hợp bị lừa hoặc bị
lý đối với ngƣời thứ ba (thông qua cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm) thì tài
sản bảo đảm trong các giao dịch đó sẽ không bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ
khác của Bên bảo đảm, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác (Điều 4
khoản 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) kể từ thời điểm đăng ký. Quy định
này đòi hỏi bên nhận bảo đảm cần có ý thức trong việc sử dụng cơ chế đăng
ký trong thời gian sớm nhất để bảo vệ quyền lợi của mình;
Hai là, xác định thứ tự ƣu tiên thanh toán với các chủ nợ có bảo đảm
khác trong trƣờng hợp xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ. Nghĩa là
kể từ thời điểm đó, chủ nợ có bảo đảm sẽ có quyền lợi đƣợc pháp luật bảo vệ
nhằm đối kháng với các chủ nợ khác có liên quan đến tài sản bảo đảm. Chủ
thể nào đăng ký trƣớc sẽ đƣợc ƣu tiên thanh toán nợ trƣớc khi xử lý tài sản
bảo đảm. Đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm đã đƣợc đăng ký sẽ có giá
trị chứng cứ tại Tòa án khi vụ việc cần phải đƣa ra giải quyết tranh chấp. Và