ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THANH NHÀN
CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ
NGHIỆP TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Thị Thanh Thuỷ Hà Nội – 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
1.3. Ý nghĩa của chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 10
1.4. Lược sử pháp luật về chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở
Việt Nam 12
1.5. Các quy định của Tổ chức lao động quốc tế và một số quốc gia trên
thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
16
1.5.1. Quy định của Tổ chức Lao động quốc tế về tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp
16
1.5.2. Quy định của một số quốc gia về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
18
1.5.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG,
BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ VIỆC THỰC THI Ở VIỆT NAM 24
2.1. Thực trạng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 24
2.1.1. Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam 24iii
2.1.2. Đánh giá về các hạn chế của chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 88 iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ATVSLĐ : An toàn vệ sinh lao động
BHLĐ : Bảo hộ lao động
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BNN : Bệnh nghề nghiệp
ILO : Tổ chức Lao động quốc tế
TNLĐ : Tai nạn lao động
1. Tính cấp thiết của luận văn
Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm trên thế
giới, và cho tới nay, BHXH đã trở thành công cụ hữu hiệu mang tính nhân
văn sâu sắc để giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh
trong cuộc sống cũng như trong quá trình lao động .Vì vậy, BHXH ngày càng
trở thành nền tảng cơ bản cho an sinh xã hội của mỗi quốc gia, của mọi thể
chế Nhà nước và được thực hiện ở hầu hết các nước. Bảo hiểm tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp là một trong những nội dung của BHXH, hướng đến
đối tượng người lao động bị tai nạn lao động (TNLĐ) hay nhiễm bệnh nghề
nghiệp (BNN) trong quá trình lao động.
Theo ước tính của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hàng năm có
khoảng 337 triệu vụ TNLĐ xảy ra trên thế giới và 2,3 triệu người chết do
bệnh liên quan đến lao động. Thiệt hại do TNLĐ và BNN ước tính khoảng
4% GDP của toàn thế giới. Ở một số nước có thu nhập cao, khoảng 40% số
người nghỉ hưu trước tuổi là bị thương tật do lao động. Các nghiên cứu tình
hình TNLĐ hàng năm trên thế giới cho thấy ở các quốc gia đang phát triển,
tần suất TNLĐ chết người là 30 - 43 người/100.000 lao động [34]. Báo cáo
của Tổ chức Y tế thế giới cũng đã cho thấy, điều kiện lao động rủi ro, có hại
đã góp phần gây ra sự hoành hành một số bệnh trên thế giới, cụ thể: 37% số
người bị bệnh đau lưng, 16% số người bị tổn thương thính lực, 11% số người
bị bệnh hen suyễn, 10% số người bị thương tật, 9% số người bị ung thư và
2% số người bị bệnh bạch cầu. Ngoài ra, điều kiện lao động xấu cũng tác
động không nhỏ đến cộng đồng xã hội, làm mỗi năm có thêm khoảng gần
310.000 người chết do bị những tổn thương liên quan đến lao động [40].
2
Tại châu Á, nhiều nước với sự phát triển năng động của nền kinh tế bắt
đầu từ thập kỷ sáu mươi của thế kỷ XX đã đem đến cho khu vực một sự khởi
sắc mới về phát triển kinh tế, xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống. Nhiều
công nghệ, kỹ thuật mới được đưa vào ứng dụng đã giải phóng sức lao động
con người, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên do quá
điểm của chính sách, chế độ hiện hành.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến BHXH và chế độ TNLĐ, BNN đã có các công trình
nghiên cứu cơ bản được công bố như sau:
1) Đề tài khoa học “Hoàn thiện phương thức tố chức, quản lý chi trả
chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN cho người tham gia BHXH”, năm 1998,
chủ nhiệm TS Dương Xuân Triệu, BHXH Việt Nam.
2) Đề tài khoa học cấp Bộ “Xây dựng quỹ Bồi thường TNLĐ và BNN”,
năm 2003, chủ nhiệm Vũ Như Văn, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.
3) Đề tài khoa học cấp Bộ “Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nội dung
các chế độ bảo hiểm xã hội ngắn hạn”, năm 2005, chủ nhiệm Trần Thị Thuý
Nga, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.
4) Luận án “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế
độ BHXH ở Việt Nam”, năm 2010, Nguyễn Thị Chính.
5) Luận văn tốt nghiệp “Chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN- Thực trạng và
giải pháp”, năm 2010, Vũ Thị La - Đại học Luật Hà Nội.
Mặc dù các đề tài trên nghiên cứu về TNLĐ, BNN và chính sách, chế
độ đối với người bị TNLĐ, BNN, tuy nhiên các tác giả tập trung vào các khía
cạnh khác nhau của chế độ BHXH TNLĐ, BNN và chưa có đề tài nào nghiên
4
cứu một cách có hệ thống về cơ sở lý luận của chế độ TNLĐ, BNN, thực
trạng pháp luật về chế độ TNLĐ, BNN và việc thực thi pháp luật về chế độ
TNLĐ, BNN, từ đó rút ra các kiến nghị và giải pháp làm cơ sở để hoàn thiện
pháp luật về chế độ này và nâng cao hiệu quả của việc thực thi chế độ TNLĐ,
BNN trên thực tế. Vì vậy, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Chế độ tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp trong Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam”, với
mong muốn bù đắp những khoảng trống trong khoa học pháp lý về chế độ
TNLĐ, BNN.
3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
- Hệ thống hoá và hoàn thiện cơ sở lý luận về chế độ TNLĐ và BNN;
- Hệ thống hoá các quy định hiện hành về chế độ TNLĐ và BNN, từ đó
chỉ ra những điểm hạn chế của các quy định này.
- Phân tích tình hình thực hiện chế độ TNLĐ và BNN ở Việt Nam.
- Đưa ra phương hướng hoàn thiện chế độ TNLĐ và BNN ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 :
Một số vấn đề lý luận về chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp.
Chương 2 : Thực trạng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và việc
thực thi ở Việt Nam.
Chương 3 : Giải pháp nâng cao hiệu quả chế độ tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp ở Việt Nam.
6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO
ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP
Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì đời sống ngày càng
được nâng cao, các nhu cầu của con người do đó càng được đáp ứng nhiều
hơn, đầy đủ hơn. Tuy nhiên con người phải đối mặt với nhiều vấn đề phát
sinh đe doạ cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, tai nạn. Đặc biệt là khi nhiều
ngành kinh tế ra đời thu hút ngày càng nhiều người tham gia vào lực lượng
lao động, thì TNLĐ, BNN ngày một gia tăng, trở thành một trong những vấn
đề nhức nhối của xã hội.
Để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
và văn minh, chúng ta phải cân đối giữa phát triển kinh tế với đảm bảo các
vấn đề phúc lợi xã hội. Chính vì vậy mà hiện nay khi toàn dân tập trung xây
dựng kinh tế thì việc phát triển và hoàn thiện chế độ BHXH cho người lao
nhiệm chi trả của quỹ bảo hiểm xã hội sẽ được dịch chuyển sang người sử
dụng lao động để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Trong trường hợp
này, người sử dụng lao động sẽ phải trả cho người lao động một khoản tiền
ngang với mức quy định trong các văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội. [29,
tr.160]
* Dưới góc độ pháp lý, hiện nay chưa có một văn bản pháp lý nào quy
định một cách cụ thể và chính thức về chế độ TNLĐ, BNN, nhưng từ những
quy định của pháp luật hiện hành, có thể rút ra rằng “chế độ TNLĐ, BNN là
một hệ thống các quy định pháp luật về TNLĐ, BNN, đối tượng, điều kiện
hưởng, mức đóng, mức hưởng, tổ chức thực hiện bảo hiểm TNLĐ, BNN nhằm
8
bảo vệ người lao động trước những rủi ro do TNLĐ, BNN gây ra và đảm bảo
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm
hoặc bị mất thu nhập do TNLĐ, BNN”. Vai trò của pháp luật là xác lập một
hình thức pháp lý nhất định và bảo đảm thực hiện bởi một cơ chế pháp luật
thích hợp nhằm kết hợp hài hòa các yếu tố kinh tế và xã hội trong chế độ
TNLĐ, BNN.
Chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN chỉ được coi là thực sự đầy đủ khi được
xem xét là chế độ BHXH nhằm bù đắp chi phí chữa trị và bù đắp, thay thế thu
nhập từ lao động bị mất hoặc giảm của người lao động bị TNLĐ, BNN. Bởi
vì trong thời gian người lao động nghỉ việc điều trị TNLĐ hoặc BNN, họ
không những bị mất thu nhập từ lao động mà còn phải chịu một loạt các chi
phí y tế phát sinh ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bản thân và gia đình.
Những thiếu hụt về thu nhập và sự tăng lên về chi phí đã xuất hiện nhu cầu
cần được bảo hiểm của người lao động. Có thể coi những quy định của Nhà
nước về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc chi trả cho người
lao động trong giai đoạn điều trị là những quy định về trách nhiệm bảo hiểm
trực tiếp của người sử dụng lao động đối với người lao động của mình. Như
vậy, chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN thực hiện hai chức năng, thứ nhất là
phòng ngừa TNLĐ, BNN, thứ hai là đảm bảo bù đắp phần thu nhập bị giảm
Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, các rủi ro có xu hướng
diễn ra thường xuyên hơn. Thời kỳ đầu, người lao động nếu bị TNLĐ hoặc
BNN thì phải tự mình khắc phục, hoặc dựa vào sự trợ giúp từ cộng đồng,
hoặc dựa vào sự phân xử của toà án. Dần dần những nguyên tắc xác định
trách nhiệm đền bù cho người lao động mới được đặt ra.
10
Khi đề cập đến trách nhiệm đền bù cho người bị nạn thì trước tiên
người ta nghĩ đến trách nhiệm của người sử dụng lao động bởi lẽ họ là người
thuê lao động, có quyền tổ chức và quản lý lao động, vì vậy họ phải chịu trách
nhiệm về những rủi ro xảy ra trong quá trình lao động làm ảnh hưởng đến sức
khoẻ, tính mạng, đời sống của người lao động, đặc biệt trong trường hợp
người lao động bị TNLĐ, BNN. Khi còn sức lao động, còn khả năng lao
động, người lao động tham gia quan hệ lao động, được hưởng lương và mang
lại lợi nhuận cho người lao động. Vì vậy, khi họ bị suy giảm hoặc mất khả
năng lao động thì người sử dụng lao động có một phần trách nhiệm.Vì vậy từ
cuối thế kỷ XIX, pháp luật của nhiều nước đã quy định đền bù đối với rủi ro
nghề nghiệp là trách nhiệm của người sử dụng lao động. Khi chế độ TNLĐ,
BNN ra đời, trách nhiệm đền bù của người sử dụng lao động được chuyển
sang cho tổ chức bảo hiểm với điều kiện là người sử dụng lao động phải đóng
phí cho tổ chức bảo hiểm. Vì vậy hiện nay, các nước đều quy định trách
nhiệm đóng góp vào quỹ TNLĐ, BNN là của người sử dụng lao động. Theo
quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 92 Luật BHXH, người sử dụng lao động
phải đóng vào quỹ TNLĐ, BNN với mức 1% trên quỹ tiền lương, tiền công
đóng BHXH của người lao động.
1.3. Ý nghĩa của chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
BHXH về TNLĐ, BNN đối với người lao động ở nước ta được xác
định trong hệ thống các chế độ BHXH với mục đích đảm bảo cho người lao
động trong quá trình tham gia lao động bị TNLĐ hoặc BNN được điều trị ổn
định để phục hồi chức năng và khả năng lao động, được bố trí công việc phù
hợp, được bù đắp về vật chất và tinh thần để ổn định cuộc sống cho bản thân
bên liên quan, qua đó góp phần duy trì ổn định xã hội.
12
1.4. Lược sử pháp luật về chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp ở Việt Nam
a. Giai đoạn từ 1945-1960
Trong giai đoạn này, chính phủ đã ban hành một số Sắc lệnh như: Sắc
lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 quy định về các quan hệ làm công giữa các chủ
nhân việt nam và người ngoại quốc với các công dân Việt Nam; Sắc lệnh số
76/SL ngày 20/5/1950 của Chính phủ về quy chế công chức; Sắc lệnh số
77/SL ngày 22/5/2950 của Chính phủ về quy chế công nhân… quy định về
các chế độ bảo hiểm cho người lao động, trong đó có chế độ TNLĐ, BNN.
Tuy nhiên, đối tượng hưởng chế độ này chỉ bao gồm cán bộ, công chức.
Giai đoạn 1945- 1960, Nhà nước vẫn chưa quy định về việc đóng bảo
hiểm TNLĐ, BNN. Vì vậy, các đơn vị sử dụng lao động phải chịu toàn bộ các
chi phí liên quan đến người lao động bị TNLĐ, BNN như chi phí y tế, chi phí
bồi thường…
Nhìn chung trong giai đoạn này chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN chưa được
quy định một cách toàn diện, quỹ bảo hiểm xã hội chưa được hình thành.
b. Giai đoạn từ 1960 đến 1986
Giai đoạn này pháp luật đã quy định cụ thể hơn về chế độ bảo hiểm
TNLĐ, BNN.
Ngày 27/12/1961, Nhà nước ta đã ban hành Nghị định số 218/CP quy
định việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Trước khi có Nghị định
số 218/CP ngày 27/12/1961 ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm
xã hội đối với công nhân, viên chức Nhà nước, việc đóng bảo hiểm xã hội cho
người lao động chưa được thực hiện ở nước ta. Vì vậy, các đơn vị sử dụng lao
động phải chịu toàn bộ phí tổn có liên quan tới người bị TNLĐ, như: chi phí y
tế, bồi thường, trợ cấp. Giai đoạn này, Nhà nước là chủ sử dụng lao động của
13
toàn bộ lực lượng xã hội, vì vậy Nhà nước phải chịu toàn bộ trách nhiệm khi
của Nhà nước. Nếu trong giai đoạn trước Nhà nước ta phải chịu trách nhiệm
chi trả chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN cho người lao động thì trong giai đoạn
này, nền kinh tế thị trường với sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần
kinh tế là cơ sở quan trọng để tách bạch các quan hệ xã hội. Lúc này, tư cách
của người sử dụng lao động và người thực hiện BHXH đã được phân định rõ
ràng. Trách nhiệm đối với người lao động bị TNLĐ, BNN được chia sẻ cho
người sử dụng lao động, BHXH, Nhà nước và cộng đồng xã hội. Như vậy,
người sử dụng lao động không phải trực tiếp chịu trách nhiệm về toàn bộ
những chi phí có liên quan đối với bản thân và gia đình của người lao động
như các giai đoạn trước đây mà một phần trách nhiệm đã được chuyển dịch
cho cơ quan BHXH. Đây là quy định mới thể hiện sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước ta đối với người lao động, đồng thời cũng giảm bớt gánh nặng cho
người sử dụng lao động.
TNLĐ lần đầu tiên được xác định cụ thể tại Thông tư liên tịch của Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính số 21/TTLT-BLĐTBXH-
BTC ngày 18/6/1994, theo đó có 04 trường hợp bị coi là bị TNLĐ, bao gồm:
TNLĐ trong giờ làm việc, tại nơi làm việc, kể cả làm việc ngoài giờ do yêu
cầu của người sử dụng lao động; tai nạn khi đi công vụ được giao; tai nạn trên
đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc; tai nạn trong những trường hợp cứu
người, cứu tài sản của Nhà nước, của nhân dân.
Kể từ 1994 đến nay:
Năm 1994 là năm đánh dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của chế
độ TNLĐ, BNN với sự ra đời của Bộ luật Lao động. Sau đó, thi hành những
15
quy định trong Bộ luật Lao động 1994 về BHXH, Chính phủ đã ban hành
Điều lệ Bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995, theo
đó phạm vi những trường hợp bị coi là TNLĐ, BNN có sự nhìn nhận mới.
Trường hợp người bị TNLĐ ngoài nơi làm việc khi thực hiện công việc theo
yêu cầu của người sử dụng lao động cũng được coi là bị TNLĐ. Những
trường hợp người sử dụng lao động bị tai nạn khi cứu người, cứu tài sản của
định khá đầy đủ về đối tượng áp dụng, nguồn hình thành quỹ bảo hiểm
TNLĐ, bệnh nghề nghiệp và chế độ trợ cấp cho các đối tượng được hưởng.
Các quy định về BNN vẫn còn tương đối hạn chế là ít được quan tâm. Thái
Lan và Nhật Bản là hai trong số các quốc gia có hệ thống các quy định về
TNLĐ khá hoàn thiện, hơn nữa đây là hai quốc gia thuộc khu vực châu Á, có
một số điều kiện địa lý, dân cư tương đối giống Việt Nam, vì vậy có thể rút ra
một số bài học kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam thông qua việc phân tích
chế độ TNLĐ, BNN của hai quốc gia này.
1.5.1. Quy định của Tổ chức Lao động quốc tế về tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp
Chế độ TNLĐ, BNN là chế độ có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
người lao động trước những rủi ro nghề nghiệp, không chỉ được nhiều quốc
gia quan tâm thực hiện mà ILO cũng đã đưa ra nhiều khuyến nghị và công
ước nhằm đảm bảo an toàn tại nơi làm việc và đảm bảo những khoản trợ cấp
cho người lao động sau khi bị TNLĐ, BNN.
Ngày 04/6/1952, tại kỳ họp thứ 35, ILO đã thông qua Công ước về An
toàn xã hội (quy phạm tối thiểu). Trợ cấp TNLĐ, BNN theo quy định của
Công ước 102 về An toàn xã hội được quy định như sau:
17
* Những trường hợp cần bảo vệ nếu do TNLĐ, BNN gây ra:
- Tình trạng đau ốm;
- Mất khả năng lao động do tình trạng đau ốm gây ra và dẫn đến gián
đoạn thu nhập;
- Mất hoàn toàn khả năng thu nhập hoặc mất một phần khả năng thu
nhập vượt quá mức quy định (nếu tình trạng này có thể trở thành thường
xuyên hoặc có sự giảm sút tương ứng về thể lực).
- Người vợ goá hoặc con cái bị mất phương tiện sinh sống do người trụ
cột gia đình chết (người vợ goá chỉ được bảo vệ khi người đó không thể đài
thọ cho những nhu cầu chính mình).
* Chế độ trợ cấp:
cứu gia nhập Công ước này.
1.5.2. Quy định của một số quốc gia về tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp
a. Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động ở Thái Lan
Hiện nay ở Thái Lan, cơ quan An sinh xã hội Thái Lan chịu trách
nhiệm thực hiện các chế độ BHXH cho người lao động, bao gồm cả chế độ
TNLĐ, BNN.
- Đối tượng áp dụng:
Chế độ này áp dụng cho tất cả người lao động làm việc trong lĩnh vực
công nghiệp và thương mại, loại trừ người làm việc trong lĩnh vực nông, lâm,