ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THUÝ HẰNG NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG GIAI ĐOẠN
TIỀN CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TIỀN CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Ngô Huy Cương
Hà nội – 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Ý nghĩa của đề tài 5
3.3. Hành pháp 88
3.4. Tư pháp 92
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Công ty” là một trong những chủ thể quan trọng của luật kinh tế và
cũng là chủ thể được quan tâm hàng đầu trong đời sống kinh tế - xã hội. Do
đó, bất cứ người học luật lẫn người làm ăn kinh doanh nào cũng có nhu cầu
tìm hiểu pháp luật về các công ty. Đây là một xu hướng chung và thiết yếu
trong xã hội hiện đại.
Cần nhận thức rằng, hiểu về “công ty” không chỉ bó hẹp trong phạm vi
từ lúc công ty chính thức hoạt động đến khi chấm dứt số phận pháp lý bằng
các thủ tục như giải thể, phá sản… mà cũng cần một cái nhìn toàn diện và
thấu suốt về thời kỳ tiền công ty - bước đệm không thể thiếu cho việc thành
lập công ty và tạo nên địa vị pháp lý cần thiết cho công ty sau này.
Hiện nay, các vấn đề cơ bản của giai đoạn tiền công ty đã được quy định
khá cụ thể trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, các công trình
nghiên cứu có tính chất độc lập, chuyên sâu hay tổng quát về vấn đề này cũng
tồn tại không ít. Thế nhưng, thực tế ở Việt Nam, “tiền công ty” dường như
vẫn chưa có được sự quan tâm cần thiết từ phía nhà làm luật và cả các chủ thể
có mong muốn kinh doanh. Điều luật sơ sài, thậm chí là thiếu vắng đã khiến
cho giai đoạn này trở nên “lu mờ” khi tìm hiểu về công ty nói chung và luật
công ty nói riêng.
Thực trạng trên có lẽ xuất phát từ quan điểm cho rằng, tiền công ty là
quan trọng nhưng không phải là tất cả đối với công ty, cũng không ảnh hưởng
Riêng những đề tài có liên quan trực tiếp hay gián tiếp về giai đoạn tiền
công ty cũng không ít. Có thể kể đến một số công trình như: “Luật Thương
mại Việt Nam dẫn giải” của nhóm tác giả Lê Tài Triển (chủ biên), Nguyễn
Vạng Thọ và Nguyễn Tân; “Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam” - Luận
3
án tiến sĩ luật học của Ngô Huy Cương; “Công ty vô hiệu” - Luận văn thạc sĩ
luật học của Nguyễn Hồng Minh;…
Tuy vậy, chưa có một đề tài nghiên cứu chuyên sâu và tổng quát về vấn
đề tiền công ty theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam, có sự so
sánh, đối chiếu với pháp luật nước ngoài, luận văn hướng tới mục đích nghiên
cứu một cách có hệ thống và đầy đủ các quy định trong lĩnh vực tiền công ty.
Từ đây có thể tìm kiếm và phát hiện những tiến bộ, thiếu sót của pháp luật
Việt nam, làm định hướng để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện khung pháp
luật về vấn đề này. Bên cạnh đó, luận văn cũng chỉ ra vị trí quan trọng của
tiền công ty trong tổng thể chung của công ty và pháp luật về công ty.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về công ty, đặc biệt là giai đoạn tiền
công ty. Xác định “tiền công ty” là vấn đề trung tâm của luận văn, cần đào
sâu tìm hiểu một cách đúng đắn và toàn diện.
- Nghiên cứu các vấn đề pháp lý đặc thù của tiền công ty, trong đó tập
trung vào vấn đề mang tính bản chất của giai đoạn này là các giao dịch (hợp
đồng) tiền công ty. Vấn đề về sáng lập viên cũng được đề cập ít nhiều với tư
cách là một trong những nội dung cơ bản của giai đoạn tiền công ty, tuy
nhiên, không phải là vấn đề mấu chốt trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về tiền công ty.
- Kiến nghị một số định hướng xây dựng khung pháp luật về tiền công ty.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
khảo có liên quan…
5
Trên cơ sở đó, ngoài phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lênin, tác giả còn sử dụng phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ vấn đề.
6. Ý nghĩa của đề tài
Hiện nay, ở nước ta các quy định pháp lý điều chỉnh vấn đề tiền công ty
còn rất thiếu vắng, có chăng chỉ là những quy định rời rạc và có phần thiếu
sót, chưa thể hiện được cái nhìn tổng quan và thấu đáo về vấn đề này.
Luận văn kế thừa những công trình nghiên cứu đã có về các vấn đề liên
quan nhưng vẫn phần nào thể hiện được tính mới của đề tài. Đặc biệt trong
bối cảnh chưa có một công trình nào trùng lặp hoàn toàn về mặt ý tưởng và
cách thể hiện, đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm
pháp luật đầy đủ và toàn diện hơn, làm cơ sở lý luận cho việc áp dụng trong
thực tiễn thành lập và giải quyết tranh chấp về công ty. Những phân tích và
kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ có ý nghĩa thiết thực trong quá trình xây dựng
và hoàn thiện pháp luật công ty của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tề
và đáp ứng nhu cầu thời đại.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục luận văn được chia làm ba (03)
chương:
Chương 1: Lý luận tổng quát về giai đoạn tiền công ty
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về giai đoạn tiền công ty
Chương 3: Kiến nghị khung pháp luật liên quan đến giai đoạn tiền công ty 6
Chương 1
LÝ LUẬN TỔNG QUÁT VỀ GIAI ĐOẠN TIỀN CÔNG TY
Nhìn từ góc độ pháp lý, công ty là một chủ thể pháp luật, được tạo nên
bởi một sự kiện pháp lý, có nghề nghiệp kinh doanh và hoạt động với tư cách
một chủ thể độc lập. Theo đó, công ty được xác lập bằng thủ tục thành lập và
đăng ký kinh doanh, có năng lực chủ thể để tham gia các quan hệ pháp luật và
có quyền tự chủ trong các hoạt động kinh doanh.
Luật pháp của nhiều nước trên thế giới cũng đưa ra những định nghĩa về
công ty. Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp định nghĩa” Công ty là một hợp đồng
mà thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay
khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được
qua hoạt động đó”. Luật của bang Georgia - Mỹ lại đưa ra khái niệm “Một
công ty là một pháp nhân được tạo ra bởi luật định nhằm một mục đích chung
nào đó nhưng có thời hạn về thời gian tồn tại, về quyền hạn, về nghĩa vụ và
các hoạt động được ấn định trong điều lệ”. Bộ luật Thương mại Thái Lan thì
quy định “Hợp đồng thành lập công ty hay công ty là hợp đồng, theo đó hai
hay nhiều cá nhân thoả thuận cùng nhau thực hiện công việc chung, trên
nguyên tắc cùng chia sẻ lợi nhuận có được từ công việc đó”. Với pháp luật
Cộng hoà liên bang Đức, công ty được hiểu “là sự liên kết của hai hay nhiều
cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt
động để đạt một mục tiêu chung nào đó”.
Ở Việt Nam, khái niệm công ty cũng được quan tâm và đưa ra từ thời
Pháp thuộc. Điều 1452 Bộ luật Trung phần 1936 định nghĩa “Công ty là một
khế ước do hai hay nhiều người thoả thuận cùng xuất tài sản, góp lại, chung
nhau để lấy lợi chia nhau”. Khái niệm này ghi nhận rõ nét quan điểm xem
công ty là một hợp đồng.
8
Đến Luật Công ty 1990, khái niệm về công ty được nêu tại điều 2 “Công
ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, gọi chung là công ty, là doanh
nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng
chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ
như sau: Học thuyết hư cấu hay thực thể nhân tạo – xem công ty là một pháp
nhân hay một thực thể nhân tạo được thiết lập bởi nhà chức trách; học thuyết
thừa nhận hay học thuyết nhượng quyền – xem sự tồn tại của công ty bởi sự
nhượng bộ của nhà nước; học thuyết hiện thực – xem nhân tính của công ty là
sự thừa nhận các lợi ích nhóm như một hiện tượng thực tế đã tồn tại; học
thuyết doanh nghiệp - nhấn mạnh tới doanh nghiệp thương mại cơ bản, không
nhấn mạnh tới thực thể - sự liên kết của những thực thể cấu thành; học thuyết
biểu tượng – xem công ty là một biểu tượng cho sự liên kết của những cá
nhân tạo thành công ty có nhân tính nhóm; học thuyết mối liên hệ hợp đồng –
xem công ty là một giả tưởng pháp lý bao gồm một mạng lưới các quan hệ
giữa các cá nhân; học thuyết hợp đồng - công ty là hợp đồng.
Các học thuyết khác nhau về bản chất của công ty đã góp phần cho việc
giải thích khái niệm hiện đại về công ty nhưng mỗi học thuyết chỉ chiếm một
vị trí nhất định trong việc giải thích này và không bao trùm toàn bộ[8]
Thực tiễn cho thấy, học thuyết hợp đồng được sử dụng rộng rãi ở các
nước để xử lý các mối quan hệ pháp lý giữa các thành viên trong công ty với
nhau và giữa thành viên với công ty. “Việc xem công ty là một hợp đồng là
một quan niệm nghiêng về tính chất pháp lý của công ty” [8]. Quan điểm này
cũng được xem xét trên nguyên tắc thừa nhận những nội dung hạt nhân của
học thuyết tự do ý chí, theo đó, “cơ sở phát sinh nghĩa vụ của mọi hành vi
pháp lý (trong đó có thành lập công ty) là tự do ý chí của chủ thể” [21, tr.29].
10
Tuy nhiên, quan điểm này lại trở nên bất lực trong việc giải thích bản chất của
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi không ai lại tự đi lập hội và
ký hợp đồng với chính bản thân mình. Lúc này, chúng ta lại cần viện dẫn đến
quan điểm về bản chất công ty của các nước theo truyền thống Common law.
Theo đó, công ty đơn giản là một pháp nhân hay một thực thể nhân tạo được
thiết lập bởi nhà chức trách. Khi được thành lập theo đúng các thủ tục luật
định, công ty tồn tại độc lập với người lập ra nó, bất kể số lượng thành viên là
và phát triển” [21]. Bản chất hợp đồng của công ty cũng mang tới nhiều hệ
luận quan trọng mà một trong số chúng là mối quan hệ giữa công ty với các
vấn đề tự do ý chí, tự do khế ước, tự do kinh doanh, và tự do lập hội. Đây
cũng chính là cơ sở triết học của công ty, và cũng là cơ sở để thiết lập hệ
thống pháp luật về công ty [8].
1.1.2. Khái niệm và bản chất pháp lý của giai đoạn tiền công ty
1.1.2.1 Khái niệm giai đoạn tiền công ty
Chặng đường hình thành và phát triển của công ty luôn trải qua những
giai đoạn khác nhau. Một số nhà nghiên cứu cho rằng tiến trình của con
đường kinh doanh được chia làm bảy giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn “gieo
hạt”, khởi động, phát triển, ổn định, mở rộng, suy thoái và cuối cùng là tan rã.
Trong đó, “gieo hạt” là giai đoạn mà việc kinh doanh chỉ tồn tại trong suy
nghĩ, chỉ là “ý tưởng, ý đồ kinh doanh”. Đây là giai đoạn chuẩn bị “khai sinh”
doanh nghiệp mới, và hầu hết các công ty trong giai đoạn này sẽ cần vượt qua
những thử thách nhất định là chấp nhận thị trường và theo đuổi một thời cơ
thích hợp riêng biệt. Trong khoa học pháp lý, giai đoạn này chính là giai đoạn
“tiền công ty”.
Ở giai đoạn này, các cá nhân, tổ chức sẽ tiến hành những hoạt động cần
thiết để “khai sinh” công ty như thực hiện góp vốn, ký các hợp đồng thành
12
lập, hợp đồng thuê nhà để làm trụ sở hay nhà xưởng của công ty sau này,
Do lúc này việc kinh doanh chỉ nằm trong “ý tưởng”, và công ty cũng chưa
được hình thành trên thực tế, nên các sáng lập viên sẽ là người thực hiện
những giao dịch nói trên. Các giao dịch này dù được thể hiện và ký kết dưới
những hình thức nào thì cũng đều hướng đến mục địch tạo ra một thực thể
pháp lý được gọi là “công ty” để tiếp quản và thực hiện những ý đồ kinh
doanh của các thành viên sáng lập.
Đây là mắt xích đầu tiên và khá quan trọng trong quá trình tạo ra công
ty, bởi nếu giai đoạn này không được chuẩn bị chu đáo và hợp lý thì việc
lập công ty. Các bộ luật cổ của Việt Nam như Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ
Dân luật Trung Kỳ 1936 hay Bộ luật dân sự Sài Gòn 1972 đều giành một
chương riêng đề cập đến vấn đề “khế ước lập hội”, chính là hợp đồng cơ bản
trong giai đoạn tiền công ty. Đáng tiếc Luật Doanh nghiệp hiện hành của Việt
Nam lại chưa có sự điều chỉnh thích đáng về vấn đề này khi chỉ quy định một
điều luật ít ỏi về Hợp đồng trước đăng ký kinh doanh, và cũng chưa có hướng
dẫn cụ thể cho việc áp dụng. Ở giai đoạn này, các chủ thể có chung mục tiêu
kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận sẽ cùng nhau thực hiện mục tiêu đó trên cơ sở
tự do, tự nguyện thoả thuận thành lập công ty và ghi nhận sự thoả thuận đó
dưới một hình thức pháp lý là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý song phương
hay đa phương [21].
Lẽ dĩ nhiên, hợp đồng thành lập công ty không phải là tất cả của giai đoạn
tiền công ty. Còn rất nhiều những hợp đồng và thoả thuận khác được thương
lượng, ký kết trong giai đoạn này. Vấn đề cốt lõi khi xác định bản chất pháp lý của
tiền công ty chính là nguyên tắc tự nguyện thoả thuận với hình thức thể hiện là các
hợp đồng tiền sáng lập. Nội dung và mục đích của các hợp đồng này đã tạo nên vị
14
thế và tầm quan trọng của giai đoạn này, chính chúng đã giúp tiền công ty trở
thành mối quan tâm không chỉ của sáng lập viên và các bên liên quan mà còn
là một nội dung cần có sự điều chỉnh từ phía luật pháp.
1.1.3. Các đặc điểm pháp lý của giai đoạn tiền công ty
Tiền công ty là giai đoạn quan trọng nhưng chưa thực sự được ghi nhận
cụ thể trong pháp luật, đặc biệt là pháp luật Việt Nam. Việc đưa ra các đặc
điểm pháp lý đòi hỏi phải có sự tìm hiểu kỹ càng và đặt trong mối liên hệ tổng
quát với các quy định về công ty và các khía cạnh khác nhau của nó. Có thể
chỉ ra một số đặc điểm có tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại và hợp pháp của
giai đoạn này như sau:
Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể:
Ở giai đoạn này, vấn đề sáng lập viên là một trong những mối quan tâm
của các công ty sau này.
Người ta coi giai đoạn này là phức hợp của nhiều hợp đồng bởi lẽ các
hợp đồng này không tồn tại độc lập hay chỉ có hiệu lực đối với các bên tham
gia hợp đồng, mà chúng luôn ràng buộc và chi phối lẫn nhau, cùng hướng tới
mục đích thành lập công ty và nếu công ty được chính thức ra đời thì công ty
sẽ tiếp quản những quyền lợi và nghĩa vụ được ký kết trong hợp đồng.
Thứ ba, giai đoạn tiền công ty không phải là việc giao kết các hợp đồng
đơn thuần mà là quá trình góp phần tạo ra một thực thể kinh doanh, hay nói
cách khác là tạo ra một pháp nhân.
Như đã phân tích, các hợp đồng trong giai đoạn này không chỉ có ý
nghĩa đơn thuần là các hợp đồng độc lập, quy định quyền lợi, trách nhiệm của
các bên giao kết, mà bản chất và mục đích của chúng là tạo ra công ty - thực
thể kinh doanh đóng vai trò là một chủ thể độc lập có khả năng tạo ra những
mối quan hệ làm ăn sinh lợi sau này. Thực thể này chính là một pháp nhân với
16
đầy đủ quyền năng và trách nhiệm có thể tiếp quản và phát huy tối đa lợi ích
từ những nội dung được soạn thảo và ký kết trong những hợp đồng kể trên.
Hiện nay, luật pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận
tư cách pháp nhân của công ty. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều quan niệm khác
nhau về “pháp nhân”, trong đó có hai học thuyết nổi bật là học thuyết giả
tưởng và học thuyết thực tại. Học thuyết giả tưởng cho rằng pháp nhân chỉ là
một chủ thể giả tưởng, không có ý chí và chỉ được công nhận bởi pháp luật,
phụ thuộc vào nhà làm luật. Trong khi đó học thuyết thực tại lại coi pháp
nhân là những thực tại không kém gì thể nhân, chúng là chủ thể của các
quyền, có một ý chí tập thể, được thừa nhận và có quy tắc về đời sống pháp
lý. Trải qua nhiều sự tranh cãi và những cách tiếp cận khác nhau, học thuyết
thực tại đã có sự thắng thế so với học thuyết giả tưởng.
Black’s Law Dictionary định nghĩa” Pháp nhân là một thực thể, khác
hơn một tự nhiên nhân, mà có đời sống đầy đủ trong sự dự liệu pháp lý rằng
ngầm nếu công ty chấp nhận những lợi ích của hợp đồng hoặc làm bất cứ sự
thanh toán nào được yêu cầu bởi hợp đồng.
Thậm chí sau khi tiếp nhận hợp đồng từ phía công ty, người sáng
lập vẫn tiềm tàng trách nhiệm đối với hợp đồng tiền thành lập. Một cách để
những sáng lập viên thoát khỏi trách nhiệm tiềm tàng này là khiến công ty và
bên thứ ba đồng ý giải phóng họ khỏi nghĩa vụ. Thoả thuận giải phóng này
được gọi là chuyển nhượng trái quyền. Hoặc cũng có thể trong tất cả những
hợp đồng đã thương lượng cho công ty chưa ra đời có bao gồm một điều
khoản giải phóng tự động cho sáng lâp viên. Dễ dàng hơn, điều khoản giải
thoát sẽ coi công ty như một bên của hợp đồng. [72, p8]
Như vậy, việc phân định rõ giữa tiền công ty và công ty bắt đầu có tư
cách pháp nhân sẽ góp phần giải quyết hữu hiệu các vấn đề cơ bản cũng như
18
những vướng mắc và tranh chấp có thể phát sinh ở hai giai đoạn này. Rõ ràng,
luôn có một khoảng thời gian đáng kể sẽ trôi qua từ lúc thông qua kế hoạch
thành lập và khi hoàn thành việc thành lập đó. Hai giai đoạn kể trên không chỉ
khác nhau về mặt thời gian mà quan trọng hơn là sự phân tách về mặt quyền
lợi, trách nhiệm và địa vị pháp lý.
Đặc điểm tiếp theo, các công việc chủ yếu trong giai đoạn này có thể
được chia làm ba nhóm chính:
Yêu cầu trợ giúp: sáng lập viên có thể tìm đến luật sư để tìm kiếm sự hỗ
trợ về mặt luật pháp trong các giao dịch và thủ tục thành lập công ty, hay kế
toán, kỹ sư, nhân viên ngân hàng… để được trợ giúp về mặt kỹ thuật liên
quan đến từng lĩnh vực ngành nghề mà công ty dự định kinh doanh hoặc
những nhu cầu cần thiết trong quá trình thành lập và hoạt động của công ty
sau này.
Chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật: bằng các hình thức như kêu gọi tài trợ,
thuê hoặc mua tài sản, góp vốn bằng các tài sản sở hữu công nghiệp…
Chuẩn bị nhân sự: tìm kiếm các chuyên gia, người quản lý, người làm
Giao dịch thành lập công ty vô hiệu có nghĩa là giao dịch không tồn tại
hoặc không có giá trị pháp lý hoặc không có giá trị bắt buộc đối với các bên
giao kết. Việc huỷ bỏ giao dịch thành lập công ty do vô hiệu sẽ khiến công ty
cũng có thể bị tuyên vô hiệu trong một vài trường hợp nhất định, đặc biệt là
khi giao dịch đó vô hiệu tuyệt đối. Giao dịch vô hiệu tuyệt đối nghĩa là mục
đích của nó là bất hợp pháp, và một công ty được thành lập dựa trên giao dịch
đó cũng sẽ có mục đích bất hợp pháp, bị tuyên bố là vô hiệu tuyệt đối và Toà
án sẽ không ấn định một thời hạn cho công ty để sửa chữa sự vô hiệu đó.
Tóm lại, về mặt luật pháp, những vấn đề tiền công ty có thể không ảnh
hưởng trực tiếp đến việc thành lập và tồn tại của công ty khi khai báo với các
20
cơ quan có thẩm quyền. Thế nhưng, trong nhiều trường hợp, nếu có những vi
phạm nghiêm trọng trong giai đoạn này, công ty có thể bị coi là vô hiệu như
phân tích ở phần trên.
1.2. Các giao dịch tiền công ty
1.2.1. Phân loại các giao dịch tiền công ty
Giai đoạn tiền công ty chính là phức hợp của các hợp đồng phục vụ cho
việc thành lập công ty. Do đó, các giao dịch tiền công ty cũng chính là các
hợp đồng. Tuỳ từng cách tiếp cận và tiêu chí riêng mà người ta phân loại giao
dịch tiền công ty theo những cách khác nhau.
1.2.1.1. Phân loại theo loại hình công ty
Mỗi hệ thống pháp luật khác nhau có những cách phân loại loại hình
công ty khác nhau. Việc phân loại có thể dựa trên nhiều tiêu chí như tư cách
pháp nhân, chế độ trách nhiệm, mối quan hệ giữa các thành viên của công ty
và việc huy động vốn [8]. Các hình thức công ty hiện đang tồn tại trên thế
giới có thể kể đến như: công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (nhiều thành viên và một thành viên),
công ty hợp vốn cổ phần, công ty công – tư hợp doanh, và cả một loại hình
công ty chỉ tồn tại trên thực tế mà không đăng ký là công ty dự phần.
mang tính chất bổ trợ, nghĩa là thực hiện các hoạt động hành lang, vận động và
chuẩn bị cho quá trình thành lập công ty, cũng như tạo cơ sở cho hoạt động của
công ty sau này. Thông thường loại giao dịch này được thể hiện dưới hình thức các
hợp đồng giữa sáng lập viên với bên thứ ba. Đó có thể là hợp đồng thuê dịch vụ
thành lập công ty, thuê nhà xưởng, thuê văn phòng, thuê nhân công…
1.2.2. Các giao dịch tiền công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một trong những loại hình tổ chức kinh doanh phổ
biến nhất hiện nay. Ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành của thị