ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
GIÀ BÁ LẦU
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG NGƢỜI
CÓ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, KỸ THUẬT CAO
TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ. Nguyễn Vũ Hoàng
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
ngƣời có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam 31
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG NGƢỜI
CÓ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, KỸ THUẬT CAO TRONG BỘ
LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY 34
2.1. Thực trạng ngƣời có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt
Nam hiện nay 34
2.1.1. Thực trạng sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
ở Việt Nam hiện nay 35
2.2. Xu hƣớng phát triển ngƣời có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
ở Việt Nam hiện nay 50
2.3. Thực trạng và phân tích thực trạng pháp luật về sử dụng ngƣời
có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện nay 53
2.3.1. Thực trạng pháp luật về sử dụng người có trình độ chuyên môn,
kỹ thuật cao trong Bộ luật Lao động hiện nay 53
2.3.2. Thực trạng pháp luật về sử dụng lao động có trình độ chuyên
môn, kỹ thuật cao, có bằng cấp, chứng chỉ 61
2.3.3. Thực trạng và phân tích thực trạng pháp luật về sử dụng người có
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao là Nghệ nhân 65
2.3.4. Thực trạng và phân tích thực trạng pháp luật về sử dụng lao động
có trình độ cao có nhiều kinh nghiệm và thâm niên trong nghề nghiệp 80
2.4. Đánh giá tổng quát những kết quả đạt đƣợc và những hạn chế,
yếu kém trong quy định, thực hiện pháp luật về sử dụng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, nguyên nhân và những bài học
kinh nghiệm 87
2.4.1. Những kết quả đã đạt được về quy định, thực thi pháp luật về sử
dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện nay 87
2.4.2. Những hạn chế, yếu kém và các nhân tố ảnh hưởng đến việc quy định,
thực thi pháp luật về sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao 89
2.4.3. Bài học kinh nghiệm từ những quy định, thực thi pháp luật về sử
BCC
Bộ Công Nghiệp
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BLLĐ
Bộ luật lao động
BLĐ - TB - XH
Bộ lao động – Thương binh và
Xã hội
BNN
Bộ Nông Nghiệp
CNC
Công nghệ cao
DN
Doanh nghiệp
DN FDI
Foreign Direct Investment
Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp của
nước ngoài.
HĐND
Hội đồng nhân dân
KCN-KCX
Đô la Singapore
XH
Xã hội
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang tích cực thực hiện mục tiêu công
cuộc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với các chính sách mở cửa và
hội nhập quốc tế cả về kinh tế lẫn chính trị…cng với phân công lao động
ngày càng sâu sắc và toàn diện giữa nước ta với thế giới, trong môi trường
cạnh tranh nhiều lĩnh vực gay gắt này, Đảng, Nhà nước ta cũng đã xác định
rõ: Phát hiện, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực nói chung, người có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao nói riêng là chính sách cấp thiết, nó mang tầm vóc
mới, là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh, để đưa nước ta đuổi kịp các nước
có nền kinh tế, chính trị phát triển trong khu vực và thế giới, đây vừa là mục
tiêu, vừa là động lực để thực hiện công cuộc cách mạng to lớn công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước đối với phát triển xã hội của nước ta.
Để sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm
thoát khỏi các nước đang phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu,
điều này đòi hỏi phải có các văn bản quy phạm pháp luật, dưới luật quy định
cho nhóm người này để có khung pháp lý ph hợp, vững chắc, trong việc phát
hiện, đào tạo, tuyển dụng, ưu tiên, khuyến khích, sử dụng người có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao một cách có hiệu quả. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài:
Hoàn thiện pháp luật về sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật
cao trong Bộ luật Lao động Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
a. Mục đích tổng quát
- Mục tiêu tổng quát của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng
người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, pháp luật về sử dụng người có
3
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các giải
pháp pháp lý cho việc phát hiện, đào tạo, tuyển dụng và sử dụng người có
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao nhằm góp phần việc hoàn thiện pháp luật
lao động nói riêng, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và đảm bảo quyền
lợi, lợi ích chính đáng cho người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao.
b. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ nội dung về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao,
pháp luật về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong Bộ luật lao
động Việt Nam hiện nay.
- Phân tích các vấn đề thực tiễn pháp luật về sử dụng người có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao trong Bộ luật Lao động Việt Nam hiện nay, phân
tích những hạn chế trong Bộ luật Lao động hiện nay và chỉ ra các nguyên
nhân dẫn đến những hạn chế đó.
- Kiến nghị các phương hướng, các biện pháp pháp lý hữu hiệu để giải
quyết tốt các vấn đề về phát hiện, đào tạo, sử dụng người có trình độ chuyên
môn, kỹ thuật cao.
- Đề xuất về hoàn thiện pháp luật làm công cụ để có chính sách phù
hợp cho người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, bảo đảm việc sử dụng
sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện nay.
6. Tình hình nghiên cứu về đề tài này tại Việt Nam
Theo tìm hiểu của Tác giả trước và khi Luận văn này được thực hiện đã
có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng người có trình độ nhưng chủ yếu
là nói về nhân lực, nhân tài, còn riêng về người có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao thì còn hạn chế, sau đây là một số nghiên cứu về nhân tài, nhân lực,
người có trình độ cao.
1) Nguyễn văn Hậu: “Một số giải pháp nhằm thu hút người có trình độ
cao vào tỉnh Khánh Hòa”, năm 2011, Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành kinh tế,
trong luận văn này tác giả đã đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, khái niệm
5
về người có trình độ cao, các chính sách nhằm thu hút người có trình độ cao
vào làm việc tại tỉnh Khánh Hòa.
2) Nguyễn Thanh Trà: “Phát triển nguồn nhân lực Thông tin - Thư viện
của mạng lưới các trường đại học tại Hà Nội” năm 2010: Luận văn ThS. Về
lĩnh vực công nghệ thông tin. Luận văn này tóm tắt vấn đề nhân lực Thông tin
– Thư viện, và tính cất thiết đào tạo, sử dụng người có trình độ cao trong hoạt
động quản lí Thông tin – Thư viện tại các trường Đại học tại Hà Nội hiện nay.
3) Diệp Văn Sơn: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”. Tạp chí về
Tổ chức nhà nước. Số 9/2011, trong công trình nghiên cứu này tác giả nêu
mục tiêu phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020. Đồng thời đưa ra các giải
pháp thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, và các giải
pháp góp phần nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao.
4) Nguyễn Minh Phương: “Một số giải pháp phát hiện và sử dụng nhân
tài ở nước ta hiện nay”. Tạp chí về Tổ chức nhà nước. Số 4/2010, trong bài
viết này tác giả nêu vấn đề thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay, tính
cấp thiết phải có các chính sách, biện pháp nhằm phát hiện và sử dụng nhân
tài một cách có hiệu quả nhất.
5) Văn Tất Thu: “Nhân tài và những vấn đề cơ bản trong sử dụng, trọng
Luận văn của Tác giả bao gồm các phần sau đây:
Phần mở đầu
Chương 1. Những vấn đề lí luận về hoàn thiện pháp luật về sử dụng
người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong luật Lao động Việt Nam
hiện nay
Chương 2. Thực trạng pháp luật về sử dụng người có trình độ chuyên
môn, kỹ thuật cao trong bộ Luật Lao động Việt Nam hiện nay
Chương 3. Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật về sử dụng người có
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong Bộ luật Lao động Việt Nam hiện nay
Kết Luận. 7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
SỬ DỤNG NGƢỜI CÓ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, KỸ THUẬT CAO
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Khái niệm ngƣời có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
1.1.1. Lịch sử lập pháp về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
Sau khi nước ta giành độc lập, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều
văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh chế độ còn non yếu lúc bấy giờ,
trong đó quan trọng nhất là Hiến pháp năm 1946, đây là bản hiến pháp đầu
tiên của nước ta, trong đó quy định các thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, các
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó, có chế định về quyền lao
động. Đây được coi là văn bản làm tiền đề cho tất cả các ngành Luật nước ta
sau này nói chung và Luật lao động nói riêng.
Trong khoảng thời gian này đã có nhiều văn bản quy định về tuyển
dụng, sử dụng lao động, tuy nhiên, chưa nói đến lao động là người có trình độ
cao, đến năm 1994 khi Bộ luật Lao động ra đời thì người lao động có trình độ
vấn đại học mới chỉ là điều kiện cần, quan trọng là phải sử dụng có hiệu quả
tri thức trong đời sống xã hội, phục vụ dân sinh.
Theo Nghị quyết số 27 - NQ/T.Ư "Về xây dựng đội ngũ trí thức trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Đảng ta quan
niệm rằng “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao
về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo,
truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có
giá trị đối với xã hội” trên là một số quan niệm về trí thức [27].
Theo Quyết định số 532 QĐ/TWĐTN ngày 04/3/2009 của Ban Bí thư
9
Trung ương Đoàn thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện dự án Truyền thông
về nâng cao nhận thức của thanh niên và xã hội về học nghề, lập nghiệp thì
người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là “các nhà quản lí, các
chuyên gia, các doanh nhân, các công nhân kỹ thuật bậc cao ”[28].
Theo Nguyễn Văn Hậu, trong Luận văn về “Một số giải pháp nhằm thu
hút người có trình độ cao về làm việc tại tỉnh Khánh Hòa”, tác giả cũng đưa
ra khái niệm về nguồn lao động có trình độ cao như sau.
“ Nguồn lao động có trình độ cao bao gồm những lao động qua đào tạo,
được cấp bằng, chứng chỉ của các bậc đào tạo, có chuyên môn kỹ thuật cao;
có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi
nhanh chóng của công nghệ sản xuất; đáp ứng những yêu cầu phức tạp của
công việc tương ứng với trình độ được đạo tạo (trừ một số trường hợp đặc
biệt không qua đào tạo); có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng
sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao
động, sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, có những
đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi đơn vị nói riêng
và toàn xã hội nói chung”[37].
Từ những quan niệm, quan điểm và những phân tích trên, có nên
hiểu nhân tài, người có trình độ cao, người có chuyên môn cao và tri thức
tài không nhất thiết phải có bằng cấp, chứng chỉ miễn là họ có năng lực vượt
trội về một lĩnh vực nhất định, còn người có trình độ cao là người gửi cho
chúng ta cảm giác về trình độ học vấn, bằng cấp, chứng chỉ cao hoặc những
sản phẩm cao cấp mà người bình thường không làm được
Ví dụ, Một người nông dân có thể sáng chế được máy cày, máy bơm
nước trong khi người nông dân đó không hề có bằng cấp; người có trình độ
cao như người học xong đại học đủ điều kiện thi lên Tiến sĩ và học xong tiến
sĩ mặc dù thực thế người này chưa có sản phẩm từ hoạt động thực tế, mà hiện
tại chỉ là bằng tiến sĩ.
11
Ba là, Phân biệt người có trình độ chuyên môn và người có trình độ
kỹ thuật
Nhìn chung, giữa trình độ chuyên môn, và trình độ kỹ thuật là không
khác nhau. Tuy nhiên, ty theo tính chất của các ngành nghề đào tạo, loại
hình đào tạo mà dng hai thuật ngữ đó khác nhau.
Ví dụ, Cùng học trường Đại học nhưng người học ngành kiến trúc, khi
tốt nghiệp họ được bằng kiến trúc sư (kỹ sư), kỹ sư điện, kỹ sư công nghệ
thông tin và người này được gọi là người có trình độ kỹ thuật, còn người học
ngành toán và sau khi tốt nghiệp ở lại làm giảng viên người này được gọi là
có trình độ chuyên môn là Giảng viên toán
Bốn là, Phân biệt giữa trình độ chuyên môn, kỹ thuật và trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao
Như đã phân tích ở trên, trình độ chuyên môn, kỹ thuật là trình độ
chuyên ngành sâu về một lĩnh vực nào đó, từ đó chúng ta hiểu trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao là trình độ chuyên môn, kỹ thuật chuyên sâu hơn
nữa về lĩnh vực đó, nghĩa là một người nào đó được gọi là có chuyên môn,
kỹ thuật cao thì người đó phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật chuyên sâu
vào một lĩnh vực nào đó thể hiện bằng năng lực thực tế, với bằng cấp hoặc
kinh nghiệm.
của Nghị định số 34/2008/NĐ-CP về tuyển dụng và quản lý người nước
ngoài làm việc tại Việt Nam đã được ban hành, theo Nghị định sửa đổi, bổ
sung này thì, chứng nhận về trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao của người
nước ngoài đối với một số nghề, công việc có thể thay thế bằng các giấy tờ
sau như “ giấy công nhận là nghệ nhân do cơ quan nước ngoài cấp, bản xác
nhận hoặc giấy phép lao động hoặc hợp đồng lao động xác định có ít nhất 5
năm kinh nghiệm ’’[13].
13
Theo tinh thần của văn bản này về việc công nhận trình độ chuyên
môn, kỹ thuật cao, chúng ta ngầm hiểu là người có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao không nhất thiết phải có bằng cấp mà chỉ cần chỉ cần chứng từ
chứng nhận là người đó có kinh nghiệm, có khả năng về một lĩnh vực nào đó.
Theo Thông tư liên tịch số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBXH-BVHTT
của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ lao động – Thương binh và
xã hội, Bộ văn hóa – Thông tin hướng dẫn tiêu chuẩn, thủ tục xét công
nhận danh hiệu và một số chính sách đối với Nghệ nhân. Thì một trong
nhưng tiêu chuẩn để được xét công nhận là Nghệ nhân là “Là người thợ
giỏi, có trình độ kỹ năng, kỷ xảo; Có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao,
đoạt huy chương vàng, huy chương bạc trong các cuộc thi, triển lãm quốc
gia hoặc quốc tế”[17].
Theo tinh thần của một số văn bản trên, một số Tỉnh thành đã ra một số
văn bản quy định, quy chế đối với các Nghệ nhân ở địa phương
Cụ thể, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định 82/2009/QĐ
– UBND về ban hành quy chế về tiêu chuẩn, thợ giỏi, Nghệ nhân thì thợ giỏi
“Là thợ lành nghề, có trình độ kỹ thuật, kỹ xảo nghề nghiệp giỏi, có khả năng
sáng tác mẫu mã đạt trình độ cao mà người thợ bình thường không làm được,
những mẫu mã sản phẩm này được áp dụng rộng rãi trong sản xuất, được thị
trường chấp nhận”[21]
Theo tác giả Luận văn, thì thợ giỏi cũng phải được gọi là người có trình
- Kiến thức chuyên môn của một người là kiến thức chuyên sâu về
một vài lĩnh vực nào đó. Ngày nay, giữa một biển kiến thức đòi hỏi mỗi
người phải lựa chọn cho mình một hướng đi trong nghề nghiệp nhất định,
các kiến thức thu được phải xoay quanh định hướng nghề nghiệp đó.
Người ta nói biết nhiều nghề không bằng giỏi một nghề là vì như thế.
Kiến thức chuyên môn sẽ giúp chúng ta giải quyết các vấn đề, giúp ta có
những ý tưởng mới trong nghề nghiệp.
15
Ví dụ, Kiến thức đặc trưng về tài chính, kế toán, kỹ sư điện
- Người có kiến thức đặc th. Kiến thức đặc th của một người là
những kiến thức người đó phải có để đảm đương công việc nhất định đây là
những kiến thức đặc trưng mà người đó đã tham gia hoặc được đào tạo.
- Đảm đương công việc nhất định đó là những công việc nhất định
trong thực tiễn mà các yêu cầu người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
phải đảm đương, hoàn thành nhiệm vụ.
Ví dụ, Công việc về thiết kế công trình thủy điện, giám đốc điều hành
công ty
- Có tính sáng tạo đem lại hiệu quả cao cho xã hội.
Ví dụ, Nghệ nhân sáng tác các bài hát, sáng tạo các Lễ hội cho phù hợp
với thời đại, có sản phẩm thực tế
Qua các quy định của pháp luật hiện hành về người có trình độ chuyên
môn, kỹ thuật cao, tác giả chia người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
thành ba nhóm.
Nhóm thứ nhất, Người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao có bằng
cấp, chứng chỉ.
Nhóm thứ hai, Người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao là Nghệ nhân
Nhóm thứ ba, Người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao có nhiều
kinh nghiệm, thâm niên công tác trong nghề. Ba nhóm này sẽ được tác giả
làm rõ trong các phần sau.
củng cố và tăng cường kỷ luật lao động trong các xí nghiệp, cơ quan nhà
nước, theo văn bản này cũng quy định việc củng cố và tăng cường kỷ luật
trong các xí nghiệp nhà nước. Nhìn chung, trong thời gian này, các văn bản về
luật lao động chủ yếu tập trung vào vấn đề bảo vệ các xí nghiệp nhà nước, cơ
quan nhà nước.
17
Đến 1994 với việc kế thừa và phát triển pháp luật lao động của nước ta
từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bộ luật lao động của Nước cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra đời.Từ ngày Bộ luật Lao động (BLLĐ)
có hiệu lực (01/01/1995), một môi trường pháp lý mới về lao động đã được
thiết lập. Hệ thống các văn bản pháp luật lao động ngày càng được bổ sung,
hoàn thiện đã góp phần quan trọng vào việc định hướng chính sách, hướng
dẫn hành động và từng bước thiết lập kỷ cương trên thị trường lao động cũng
như trong hoạt động quản lý nhân lực, đồng thời là những căn cứ pháp lý chủ
yếu để áp dụng giải quyết các tranh chấp lao động, những phát sinh trong quá
trình lao động.
Bộ luật lao động thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản
Việt Nam và cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 về lao động, về sử dụng và quản lý lao động.
Bộ luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của
người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử
dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn
định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và
lao động chân tay, của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất
lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử
dụng và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì
sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Trải qua 18 năm thực hiện, để thích ứng với những thay đổi của quá
trình phát triển quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng
Lao động Việt Nam
Khi Bộ luật Lao động năm 1994, được ban hành thì pháp luật về sử
dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mới được quy định, tuy
nhiên, cho đến nay các văn bản hướng dẫn quy định này rất hạn chế.
19
Năm 2003 Nghị định 105/2003/NĐ- CP quy định chi tiết thực hiện một
số Điều của Bộ luật lao đông Việt nam về tuyển dụng và quản lí lao động
nước ngoài làm việc tại Việt Nam được ban hành, đến 2008, được thay đổi
bằng Nghị định 34/2008/NĐ – CP, văn bản này cũng được sửa đổi, bổ sung
năm 2011, nhưng đó chỉ là văn bản dưới luật quy định cho người nước ngoài
làm việc tại Việt nam, ngoài ra các Thông tư của các Bộ, liên Bộ và các quyết
định của các UBND các Tỉnh chỉ quy định chi tiết cho các Nghệ nhân, Nghệ
nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, chưa có văn bản nào hướng dẫn thống nhất
về nhóm người này, chính vì vậy gây khó khăn trong việc xác định người có
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, ảnh hưởng đến công tác áp dụng vào điều
kiện thực tế.
1.2.2. Pháp luật về sử dụng lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
có bằng cấp, chứng chỉ
Căn cứ theo Nghị định 34/2008/NĐ – CP của Chính phủ, quy định về
tuyển dụng và quản lí người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thì người
nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao được quy định như sau.
Chuyên gia là người nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật
cao về dịch vụ, thiết bị nghiên cứu, kỹ thuật hay quản lý (bao gồm kỹ sư
hoặc người có trình độ tương đương kỹ sư trở lên) [9]. Từ đó, chúng ta
hiểu người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao phải có bằng kỹ sư và
tương đương trở lên. Hướng dẫn thực hiện Nghị Định này, Thông Tư số
08/2008/TT-BLĐTBXH được ban hành, theo văn bản này, giấy chứng
nhận về trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao của người nước ngoài làm việc
tại Việt Nam như sau.