ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH HẢI
BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Huy Cƣơng Hà nội - 2012MỤC LỤC
Trang phụ bìa
2.1.1. Đối tượng được mua CP và số lượng CP, giá ưu đãi được mua 26
2.1.2 Bán, chuyển nhượng CP ưu đãi 32
2.2. Chế độ đối với NLĐ tiếp tục làm việc trong DNNN sau khi CPH. 33
2.2.1 Lương và phụ cấp lương dành cho NLĐ. 33
2.2.2 Thang bảng lương, phụ cấp lương trong các DNNN thực hiện CPH 33
2.2.3 Lương tối thiểu vùng 34
2.2.4. Chế độ bảo hiểm xã hội và một số quyền lợi vật chất khác 42
2.2.5. Thực hiện chế độ dân chủ tại DNNN CPH 43
2.3 Chế độ đối với NLĐ dôi dư khi CPH 48
2.3.1 Chế độ đối với NLĐ trong Công ty TNHH một thành viên do
Nhà nước làm chủ sở hữu hoặc do tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội làm chủ sở hữu (sau đây gọi chung là công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ
sở hữu) thực hiện CPH 48
2.3.2 Chế độ đối với NLĐ trong DNNN khác thực hiện CPH 56
2.3.3 Nguồn kinh phí và trách nhiệm chi trả chế độ cho NLĐ 66
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO
ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH
NGHIỆP NHÀ NƢỚC 70
3.1. Những yêu cầu về đảm bảo quyền lợi của NLĐ khi CPH
DNNN trong giai đoạn hiện nay 70
3.1.1 Đảm bảo yếu tố công bằng trong thực hiện chính sách đối với NLĐ 70
3.1.2 Đảm bảo các quy định của pháp luật được thực hiện một các
nghiêm túc 71
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
về đảm bảo quyền lợi cho NLĐ trong quá trình CPH DNNN 72
3.2.1. Phương hướng hoàn thiện chính sách bán CP ưu đã cho NLĐ 72
3.2.2. Phương hướng hoàn thiện chính sách tiền lương 76
3.2.3 Một số đề xuất nhằm phát huy dân chủ tại Công ty CP 80
DN: Doanh nghiê
̣
p 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ trương cô
̉
phần ha (CPH) các Doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
đã được đề cập đến lần đầu tiên trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2- Ban
chấp hành Trung ương Khoá VII tháng 11/ 1991: Chuyển một số công ty
quốc doanh c điều kiện thành công ty cổ phần (CP) và thành lập một số
Công ty quốc doanh CP mới, phải làm thí điểm, chỉ dạo chặt chẽ, rút kinh
nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp.
Qua hơn 15 năm tiến hành CP hoá công ty nhà nước và phải sau hai
Hội nghị Trung ương (TW) 3 và 9 Khoá IX, tiến trình CP hoá mới từng
bước bắt đầu, các cơ chế về chính sách về CPH ngày càng được hoàn thiện
phù hợp với cơ chế thị trường, đảm bảo hài hòa lợi ích nhà nước, công ty
và người lao động (NLĐ).
Trong quá trình CPH, có rất nhiều vấn đề được đặt ra để giải quyết
trước khi chuyển chuyển sang công ty CP. Ví dụ như vấn đề xử lý tài chính và
xác định giá trị DN, bán CP và quản lý, sử dụng tiền thu từ bán phần vốn nhà
nước tại công ty CP hoá, chính sách đối với NLĐ trong công ty CP và một
số vấn đề khác. Trong đ, vấn đề chính sách đối với NLĐ được đặc biệt coi
trọng bởi mọi cơ chế chính sách của nhà nước để đổi mới DN đều ảnh hưởng
chính quốc gia; “Ba nghịch lý trong CPH” của GS.TS Nguyễn Văn Nam –
nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng. Tuy nhiên, các bài viết này
mới đề cập đến một vài khía cạnh về đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, chưa c
công trình nào nghiên cứu về việc bảo đảm quyền lợi cho người ao động trong
quá trinh CPH DNNN ở nước ta.
Việc nghiên cứu các quy định về bảo đảm quyền lợi cho NLĐ trong
quá trình CPH DNNN ở nước ta sau đ đối chiếu với các quy định của pháp
luật hiện hành, vấn đề này còn hạn chế, chưa thực sự có công trình nào nghiên
cứu một cách tổng thể, toàn diện về việc đảm bảo quyền lợi của NLĐ trong
quá trình CPH DNNN ở nước ta trong thời gian qua.
3
3. Phạm vi nghiên cứu
Bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CPH DNNN là một vấn đề
khá mới mẻ. Vì vậy trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, không thể giải
quyết được trọn ven tất cả các vấn đề c liên quan đến việc Bảo đảm quyền
lợi của NLĐ trong quá trình CPH DNNN.
Với đề tài “Bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình CP hoá
DNNN”, tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đề
pháp lý liên quan đến quyền lợi của NLĐ tiếp tục làm việc trong Công ty CP
sau khi CPH và quyền lợi của NLĐ bị mất việc làm trong quá trình CPH. Chế
độ pháp lý đối với NLĐ bị mất việc làm sau thời điểm DNNN CPH không
thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận văn này.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài thực hiện các mục đích và nhiệm vụ sau:
- Gp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản của việc đảm bảo
quyền lợi NLĐ trong quá trình CPH DNNN. Trên cơ sở đ rút ra những nhận
lợi của NLĐ trong quá trình CP hoá DNNN
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền
lợi của NLĐ trong quá trình CP hoá DNNN 5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
TRONG QUA
́
TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
1.1. Sự cần thiết phải CP hoá DNNN ở Việt Nam
Quá trình CPH DNNN không phải là một quá trình ngẫu nhiên, mà
đằng sau nó là những nguyên nhân khiến cho hầu hết các Chính phủ đều đi
đến các quyết định CP hoá các DNNN. Đối với Việt Nam, CP hoá là giải
pháp tối ưu cho quá trình sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả của DNNN. Sự
cần thiết phải CP hoá DNNN là do:
1.1.1. CP hoá DNNN một câu hỏi khách quan của công cuộc đổi mới
động lực hoạt động của NLĐ cũng như chính DN. Vì vậy vấn đề đa dạng hoá
sở hữu được đặt ra và thực hiện.
1.1.2.Tình trạng hoạt ðộng kém hiệu quả của DNNN.
Đây c lẽ là nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho các chính phủ
phải đưa ra quyết định CP hoá. Các DNNN đã không thể hiện và phát huy
được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường. Mặc dù đã được đầu tư
và ưu đãi nhiều từ phía Nhà nước, sau nhiều lần sắp xếp tổ chức lại và đổi
mới cơ chế, nhưng các DNNN vẫn chưa chứng tỏ được tính hiệu quả của
mình so với khu vực dân doanh, chưa đáp ứng được mong muốn của Đảng
và Nhà nước, chưa tương xứng với tiềm lực và ưu đãi do Nhà nước dành
cho. Trong tất cả các DNNN, chỉ một số ít là làm ăn c lãi, còn lại là thua lỗ
hoặc li không đáng kể.
1.1.3 Tài chính nghèo nàn của các DNNN làm tăng sự phụ thuộc của
chúng vào ngân sách nhà nước
Nguyên nhân này là hệ quả trực tiếp của nguyên nhân trên. DNNN từ
chỗ là đng gp phần lớn cho ngân sách nhà nước giờ lại trở thành gánh nặng.
Đây cũng là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy việc tiến hành CP hoá, vì các
7
khoản trợ cấp cho các DN ngày càng lớn, làm giảm nguồn lực để phát triển các
ngành khác.
1.1.4. Các DNNN ta rất yếu về khả năng cạnh tranh
Có nhiều ngành, sản phẩm của DNNN đang được ưu đãi độc quyền
hoặc bảo hộ qua hàng rào thuế quan, trợ cấp (qua ưu đãi tín dụng và bù lỗ,
miễn thuế…) nhưng các DNNN vẫn chưa chứng tỏ khả năng cạnh tranh của
mình. Khả năng cạnh tranh kém của các DNNN thể hiện ngay trên thị trường
nội địa: ở những ngành có khả năng sinh lợi, thị phần của các DNNN có xu
Định nghĩa trên về cơ bản phù hợp với thực tế môi trường và hoạt động
của các DNNN ở Việt Nam, phù hợp với xu thế chung của thế giới trong vấn
đề quan niệm về DNNN.
Năm 2003 khái niệm DNNN được phát triển sâu hơn, cụ thể Điều 1
Luật DNNN năm 2003 định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc vốn CP, vốn góp chi phối được tổ chức dưới
hình thức công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Định nghĩa này
cùng với các quy định khác của Luật DN năm 2003 chứa đựng một số điểm
mới cơ bản sau:
Thứ nhất, nếu trước đây tiêu chí sở hữu được coi là cơ bản nhất, quyết
định nhất khi xác định DNNN thì tiêu chí bây giờ là quyền kiểm soát và chi
phối DNNN, vì vậy nếu chỉ dựa vào tiêu chí sở hữu nhiều khi khó phân biệt
DNNN với các loại hình DN khác. Định nghĩa đã thừa nhận sự tồn tại bình
đẳng của các hình thức sở hữu trong một DNNN, đây là một bước tiến lớn
trong quan niệm về DNNN, cho thấy sự đa dạng trong sở hữu và sự tự chủ
hơn của DNNN từ đ tạo ra sự đa dạng về hình thức tồn tại của DNNN sẽ làm
sinh động hơn thành phần kinh tế công, tạo sự thích nghi tốt hơn với nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, pháp luật hiện hành thừa nhận chuyển đổi DNNN thành DN
thông thường thông qua cơ chế chuyển nhượng, mua bán CP.
1.2.2 Vai trò của DNNN
DNNN hiện đang được quan tâm đặc biệt vì vai trò và sứ mệnh của
9
chúng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Vai trò của DNNN bắt nguồn từ
mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đang phấn đấu
thực hiện. Đảng nhấn mạnh vai trò kinh tế Nhà nước với bộ phận chủ yếu là
thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư, hoặc không có khả năng đầu tư
thì DNNN cần phải đi đầu mở đường, tạo điều kiện cho các thành phần kinh
tế khác phát triển.
Thứ tư, DNNN là lực lượng đối trọng trong cạnh tranh trên thị trường
trong và ngoài nước, chống sự lệ thuộc vào nước ngoài về kinh tế trong điều
kiện mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới.
Thứ năm, DNNN mẫu mực trong việc thực hiện các chính sách xã hội,
trợ cấp xã hội như tạo việc làm cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương; ở
những khu vực kh khăn, kém phát triển, như biên giới, hải đảo, miền núi,…
1.3 CPH và bản chất của việc CP hoá DNNN
1.3.1. CPH và mục tiêu của việc CPH
a) Định nghĩa CPH
Thuật ngữ CPH xuất hiện ở Việt Nam cuối những năm 1980 đầu những
năm 1990, gắn với công cuộc cải cách DNNN.
Do tình hình kinh tế – xã hội có nhiều kh khăn trong những năm 1980
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã phát triển công cuộc đổi mới trên nhiều mặt
đời sống xã hôi, nhất là kinh tế. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lấn thứ VI Việt
Nam bắt đầu tiến hành đường lối đổi mới và dần dần chuyển sang nền kinh tế
văn ha nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực DNNN (DNNN) là một
bộ phận trọng yếu của nền kinh tế quốc dân, đã bộc lộ nhiều yếu kém, cụ thể là:
Cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, thiếu vốn, cơ chế quản lý còn nhiều lúng túng,
hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy không đáp ứng sản xuất. Không những thế còn
là vật cản sự phát huy vai trò chủ đạo kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế nhiều
thành phần. Một thời gian dài thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung và duy
trì chế độ quan liêu, bao cấp làm cho các DNNN vừa thiếu tính năng động sáng
12
CPH DNNN là việc chuyển một phần sở hữu DNNN sang sở hữu của
cổ đông nhằm mục đích huy động mọi nguồn vốn từ tất cả các thành phần
phát triển, phát huy tính tự chủ của NLĐ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Thực chất của CPH là quá trình thực hiện xã hội hóa sở hữu DNNN,
chuyển thành DN thuộc quyền sở hữu nhà nước thành DN có nhiều chủ sở
hữu với mục tiêu đảm bảo cho sự tồn tại vững chắc và sự phát triển không
ngừng của DN theo sự phát triển của nền kinh tế – xã hội. CPH DNNN là
phương thức xã hội hóa sở hữu chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu
Nhà nước là duy nhất trong DN thành công ty CP với nhiều chủ sở hữu.
b) Mục tiêu của CP hoá DNNN ở Việt Nam
Thứ nhất, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình tiếp tục đổi
mới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao
tính năng động, sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế nói chung, của khu
vực DNNN nói riêng.
Thứ hai, huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm các cá nhân các tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước, để đầu tư đổi mới công
nghệ, phát triển DN, nâng cao sức mạnh, hiệu quả của DN trên thị trường, tạo
thêm việc làm, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước.
Thứ ba, thay đổi cơ cấu DNNN và kinh tế nhà nước, đổi mới căn bản
quản lý Nhà nước đối với DNNN và phương thức hoạt động của DN nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của từng DN cũng như toàn bộ nền
kinh tế, tăng tài sản nhà nước, tạo điều kiện để khu vực kinh tế nhà nước thực
hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường.
Thứ tư, tạo điều kiện để NLĐ trong DNNN CP hóa CP, tạo động lực
làm việc, nâng cao vai trò làm chủ thực sự của họ
1.3.2 Bản chất pháp lý của việc CPH
Để xác định thực chất CPH DNNN, trước hết phải phân biệt hai quá
sở hữu Nhà nước thành công ty CP có nhiều chủ sở hữu đ là quá trình CPH
DNNN. Nghĩa là CPH không chỉ diễn ra tại các DN tư nhân, công ty trách
14
nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh mà nó diễn ra tại các DNNN. CPH là quá
trình thực hiện xã hội hóa sở hữu tại DN.
Như vậy, CPH DNNN chính là quá trình chuyển DN thuộc sở hữu Nhà
nước sang hình thức CP thông qua quá trình chào bán các cổ phiếu chứng
nhận quyền sở hữu DN cho các cổ đông. Hay c thể hiểu là thông qua quá
tình CPH DNNN mà DN trước đây thuộc sở hữu 100% của Nhà nước được
chuyển sang một loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, trong đ Nhà nước có thể
là một cổ đông.
1.4. Những tác động của CPH DNNN đối với NLĐ
1.4.1. Những tác động tích cực
CPH DNNN là việc chuyển mình mạnh mẽ của DNNN từ hoạt động có
sự bảo đảm của Nhà nước sang hoạt động một cách độc lập, tự chủ và tự chịu
trách nhiệm về chính quyết định của mình. DNNN khi được bảo đảm hoạt
động bởi Nhà nước đã thể hiện sự trì trệ, yếu kém, làm ăn thua lỗ dẫn đến
quyền lợi của NLĐ không được bảo đảm. Một thực tế là, đa số DNNN sau khi
chuyển đổi đã từ các DN thường xuyên liên tục thua lỗ trở thành các DN làm
ăn c lãi. Qua đ, quyền lợi của NLĐ được bảo đảm, đời sống của NLĐ được
nâng cao, từng bước được cải thiện.
Thu nhập của NLĐ là một thực tế rõ ràng nhất minh chứng cho hiệu
quả của hoạt động CPH DNNN đồng thời qua nâng cao thu nhập đã đảm bảo
được quyền lợi cho NLĐ. Khi các DNNN CPH, những lao động làm việc có
hiệu quả được nâng lương, được đề bạt, cất nhắc một cách nhanh chóng, qua
đ kích thích tinh thần hăng say lao động, làm việc và cống hiến của NLĐ.
Một thực trạng c thể thấy là, để đảm bảo các yêu cầu trên, hầu hết các
DN sau CPH đều đầu tư công nghệ mới, lựa chọn lao động giỏi, dẫn đến phải
sắp xếp lại lao động. Quá trình CPH DNNN, ngoài việc sắp xếp, bố trí lại
vốn, tài sản, đồng thời cũng là quá trình tổ chức, sắp xếp lại lực lượng lao
động, giảm bớt số lao động không đáp ứng được yêu cầu, không c nhu cầu
sử dụng, nên hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tốt, gp phần nâng cao hiệu
16
quả sản xuất, kinh doanh. Chính vì vậy, sau khi chuyển thành công ty CP,
nhiều DN đã giảm tới 15% – 20% số lao động so với trước (Tạp chí cộng sản
số 105 - 2006). Tình trạng suy thoái kinh tế mấy năm qua khiến Nhà nước
phải thắt chặt vốn đầu tư để kiềm chế lạm phát, lãi suất ngân hàng quá cao
khiến nhiều DN làm ăn thua lỗ phải thu hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng.
Nhiều công ty sau CPH hoạt động kém hiệu quả, dẫn đến phá sản. Hệ lụy của
quá trình này là một bộ phận NLĐ bị mất việc làm.
Hơn nữa, khi được giao quyền tự chủ trong việc quản lý nên nhiều nơi
đã xuất hiện tình trạng tùy tiện xây dựng thang bảng lương riêng, không thực
hiện nâng lương nâng bậc cho NLĐ; lách luật bằng cách chỉ trả lương tối thiểu,
phần còn lại biến báo dưới nhiều hình thức để trốn đng bảo hiểm xã hội. Điều
này gây thiệt thòi lớn cho NLĐ sau khi về hưu. Trong khi đ, do được giao
quyền quá cao, Nhà nước lại chỉ quy định mức lương tối thiểu mà không quy
định mức lương tối đa, khiến nhiều DN lợi dụng xây dựng mức lương cho lãnh
đạo tới hàng trăm triệu đồng/người/tháng, trong khi NLĐ được hưởng thấp, chỉ
được 6- 7 triệu đồng, c nơi còn thấp hơn đã gây bức xúc cho NLĐ. Nhiều nơi
không công khai doanh số, doanh thu của DN và tiền lương từng người, khiến
tổ chức công đoàn kh xây dựng thỏa ước lao động.
Thậm chí, nhiều DN sau khi CPH c vốn đầu tư nước ngoài đã cố tình
hiệu quả và bền vững. Trong đ c sự thay đổi cơ chế quản lý điều hành của
DN, bố trí hợp lý bộ máy tổ chức, tinh giản lao động gián tiếp, quyền của DN
được mở rộng và chủ động hơn, đáp ứng kịp thời cơ chế thị trường, nâng cao
ý thức trách nhiệm của NLĐ và cán bộ quản lý Thông qua đ, DN được tổ
chức một cách hiệu quả, đồng thời mang lại những lợi ích cho NLĐ. Để đảm
bảo các yêu cầu trên, hầu hết các DN sau CPH đều đầu tư công nghệ mới, lựa
chọn lao động giỏi, dẫn đến phải sắp xếp lại lao động. Tình trạng suy thoái
kinh tế mấy năm qua khiến Nhà nước phải thắt chặt vốn đầu tư để kiềm chế
lạm phát, lãi suất ngân hàng quá cao khiến nhiều DN làm ăn thua lỗ phải thu
hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng. Nhiều công ty sau CPH hoạt động kém
18
hiệu quả, dẫn đến phá sản. Hệ lụy của quá trình này là một bộ phận NLĐ bị
mất việc làm. Do vậy, một bộ phận lớn NLĐ trước đây làm việc trong các
DNNN với những chế độ bắt nguồn từ bao cấp của nhà nước, cuộc sống của
họ vốn dựa vào DN. Khi DN CPH, những lao động phổ thông chưa qua đào
tạo sẽ bị mất việc làm trong DN CPH. Dĩ nhiên, cơ hội tìm việc của họ là
mong manh vì ngay cả nơi họ đã từng làm việc cũng đã không c việc làm
cho họ, không kiếm được việc làm cần thiết dễ đẩy những NLĐ đến cảnh đi
nghèo và những tiêu cực xã hội.
Thứ hai, CPH sẽ chuyển những tài sản của Nhà nước thành tài sản cho
một bộ phận nhỏ của người mua CP khi đánh giá không đúng giá trị tài sản
của DN. Vì vậy, CPH có khả năng biến những người có quyền trong DN và
trong bộ máy nhà nước trực tiếp quản lý DNNN thành những tỷ phú. Việc
đánh giá không đúng tài sản của DNNN khi CPH, và tiếp đ là cơ chế bán CP
không rõ ràng làm cho tài sản của nhà nước trở thành tài sản của một nhóm
người. Họ thường là những quan chức trong các cơ quan công quyền, hoặc bộ
Osco thì được Osco chi tiền thưởng Tết, ai không đi thì làm đơn xin nghỉ việc.
Với thông báo này, một số công nhân rất hoang mang nên phải theo
Osco ra Bình Dương làm việc. Số lao động không đi được vì nơi làm việc quá
xa, phải xin nghỉ việc. Anh Nguyễn Thế Tuyển, công nhân Xí nghiệp Giày
Khánh Hội, cho biết: “Chúng tôi làm việc từ trước khi c ban giám đốc hiện
nay, thế mà sau khi CP, chúng tôi được gì? Trong khi chỉ riêng người nhà của
giám đốc, năm 2004 đã c hơn 5% CP”. Chỉ hơn 10 ngày sau khi NLĐ
chuyển sang làm việc ở Bình Dương, Công ty CP Khánh Hội công bố mức lãi
của năm 2005 là 17,3 tỉ đồng, cổ tức được chia 24%.
Theo báo cáo của Sở LĐ-TB-XH TPHCM, từ tháng 5-2003 đến nay,
toàn TP đã CPH được 149 DN. Tổng số lao động của 149 DN này trước khi
CPH là 43.803 người. Sau CPH, c 3.169 lao động dôi dư. Tổng cộng kinh
phí hỗ trợ cho lao động dôi dư gần 89,5 tỉ đồng. Đây là con số được thống kê
theo kế hoạch CPH của DN, còn thực tế sau CP, số liệu NLĐ nghỉ việc không
20
kiểm soát được. Đặc biệt, các DN chuyển mục đích kinh doanh từ sản xuất
sang dịch vụ – thương mại, gần như toàn bộ NLĐ phải nghỉ việc. [57]
Khi thực hiện CPH, lao động dôi dư sẽ xuất hiện, bao gồm lao động dôi
dư thực tế và lao động dôi dư tiềm tàng.
Lao động dôi dư thực tế là bộ phận lao động mất việc làm do DN giải
thể, phá sản hoặc thu hẹp phạm vi sản xuất.
Trong quá trình mở cửa để hội nhập với khu vực và trên thế giới có rất
nhiều các DN mà đặc biệt là các DNNN không có những chuyển biến tích cực
thích ứng với những đòi hỏi của cơ chế thị trường như trình độ công nghệ lạc
hậu, đội ngò cán bộ quản lý yếu kém, thiếu sự năng động, sáng tạo trong sản
xuất kinh doanh, thái độ ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp, bù lỗ của Chính phủ.