2
MỤC LỤC Trang
Lời cam đoan Mục lục Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt Mở đầu
5
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về định đoạt phần vốn
góp của thành viên trong công ty TNHH
1.1
Khái niệm và bản chất pháp lý của phần vốn góp của thành
viên trong công ty TNHH
8
1.1.1
Khái niệm phần vốn góp của thành viên trong công ty
TNHH
8
1.1.2
1.4.2.1
Hiệu lực đối với các thành viên
24
1.4.2.2
Hiệu lực đối với công ty
26
1.5
Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về định đoạt phần vốn
27
3
góp
1.5.1
Các dạng tranh chấp
27
1.5.2
Hình thức giải quyết tranh chấp
40
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về định đoạt
phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
2.1
Cấu trúc và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về định
đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
43
2.2
Quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về định đoạt
phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
50
73
3.3.5
Tạo điều kiện tốt hơn nữa cho hoạt động của công ty
73
3.3.6
Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng phần vốn góp
74
3.3.7
Sửa đổi quy định về thừa kế phần vốn góp
74
Kết luận
75
Tài liệu tham khảo
77
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
SHTT
Sở hữu trí tuệ
VCCI
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
MỞ ĐẦU 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ với các nước trong
khu vực và quốc tế vì vậy nền kinh tế của nước ta có những thay đổi hết sức
căn bản để đáp ứng được với nhu cầu hội nhập. Sự phát triển nhanh chóng của
khu vực kinh tế tư nhân và sự cải cách mạnh mẽ của khu vực kinh tế nhà
nước đã thúc đẩy việc cải cách pháp luật công ty ở Việt Nam. Quốc hội đã
ban hành Luật Doanh nghiệp 2005 để tạo ra sân chơi bình đẳng cho các thành
phần kinh tế.
Ở Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm số lượng rất lớn. Do
vậy loại hình công ty TNHH chiếm vị trí quan trọng, luôn là sự lựa chọn của
người đầu tư.
Việc nhượng bán phần vốn góp trong công ty TNHH là một vấn đề
pháp lý và kinh tế có ý nghĩa lớn hiện nay, bởi nó là một tài sản kinh doanh
phụ thuộc nhà đầu tư và nhà đầu tư rất linh động khi sử dụng quyền này để
tiến hành hoạt động kinh doanh. Trong khi đó pháp luật Việt Nam hiện nay
còn khá nhiều bất cập liên quan.
Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Định đoạt phần vốn góp của thành viên
trong công ty TNHH theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn thạc
sỹ luật học của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài viết đề cập hoặc nghiên cứu một
số khía cạnh của vấn đề định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH, chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống và đầy đủ về
vấn đề: định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH. Trong xu thế phát triển
và hội nhập hiện nay, có nhiều vấn đề đặt ra trong việc định đoạt phần vốn
6
1.4 Nội dung và hiệu lực của định đoạt phần vốn góp
1.5 Các dạng tranh chấp
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊNH ĐOẠT
PHẦN VỐN GÓP CỦA THÀNH VIÊN TRONG CÔNG TY TNHH.
2.1 Cấu trúc và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về định đoạt phần
vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về định đoạt phần vốn góp của
thành viên trong công ty TNHH
2.3 Nguyên nhân của những khiếm khuyết trong quy định của pháp luật
Việt Nam về định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
Chương 3. NHỮNG KIẾN NGHỊ CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP CỦA THÀNH
VIÊN TRONG CÔNG TY TNHH
3.1 Nhu cầu hoàn thiện
3.2 Phương hướng hoàn thiện
3.3 Những kiến nghị chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về định đoạt
phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
8
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP CỦA
thành viên Công ty đối vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của
Công ty nghĩa là họ chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của Công ty trong
phạm vi phần vốn mà họ góp vào công ty. Các công ty đối vốn thông thường
có công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp vốn cổ phần.
Khác với các loại hình công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn là sản
phẩm của hoạt động lập pháp. Các loại công ty khác do các thương gia lập ra,
pháp luât thừa nhận và hoàn thiện nó. Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại
công ty trung gian giữa Công ty đối nhân và Công ty đối vốn, nó vừa có tính
chất của một Công ty đối nhân là các thành viên quen biết nhau; việc thành
lập, quản lý công ty đơn giản hơn công ty cổ phần. Nó có tính chất của công
ty đối vốn vì các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn họ đã góp vào công ty. Vì những lý do đó công ty trách
nhiệm hữu hạn có những đặc trưng cơ bản sau:
- Công ty trách nhiện hữu hạn là một pháp nhân độc lập, địa vị pháp lý
này quyết định chế độ trách nhiệm của công ty.
- Thành viên công ty không nhiều và thường là những người quen biết
nhau.
- Vốn điều lệ chia thành từng phần, mỗi thành viên có thể góp nhiều, ít
khác nhau và bắt buộc phải góp đủ khi công ty thành lập, công ty phải bảo
toàn vốn ban đầu.
- Phần vốn góp không thể hiện dưới hình thức cổ phiếu và rất khó
chuyển nhượng ra bên ngoài.
10
- Trong quá trình hoạt động, không được phép công khai huy động vốn
trong công chúng (không được phát hành cổ phiếu).
Có thể nói công ty TNHH là mô hình lý tưởng để kinh doanh ở quy mô
vừa và nhỏ. Chính sự phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam nên mô
hình công ty TNHH rất phổ biến ở nước ta.
Khi đưa ra khái niệm “trách nhiệm hữu hạn” thì luật pháp cũng phải
vi pháp lý hay hành vi thương mại. Do đó phần vốn góp cũng được hiểu theo
nghĩa kinh tế và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niệm phần vốn
góp từ phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý.
Nếu như xét từ phương diện kinh tế, phần vốn góp là sản nghiệp của
người đã góp vốn vào công ty. Phần vốn góp không phải được hình thành từ
thế giới vật chất như các tài sản hữu hình, cũng không phải được hình thành
từ con tim và khối óc như các đối tượng của sở hữu trí tụê mà phần vốn góp là
sự phân thân về giá trị của tài sản góp vốn vào công ty. Khi người góp vốn
góp vốn vào công ty thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty TNHH đổi lại
người góp vốn trở thành trái quyền đối với phần vốn góp. Tuy người góp vốn
là trái quyền đối với phần vốn góp nhưng do công ty TNHH là loại hình công
ty vừa mang tính đối nhân vừa mang tính đối vốn nên việc thực hiện các
quyền năng của trái quyền có một số hạn chế nhất định.
Xét về phương diện pháp lý thì phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà người góp
vốn đã góp vào công ty. Trong công ty thường có nhiều thành viên cùng tham
gia góp vốn để thành lập công ty. Nhưng không phải lúc nào các thành viên
góp vốn cũng góp một số vốn như nhau. Khi góp vốn vào công ty thì tài sản
góp vốn trở thành tài sản của công ty. Các thành viên góp vốn là chủ sở hữu
công ty. Lúc đó vấn đề phát sinh nếu không có sự phân biệt giữa về số vốn
góp vào công ty thì sẽ không có sự khác nhau về quyền và nghĩa vụ của các
12
thành viên góp vốn. Vì vậy khái niệm phần vốn góp là để phân biệt được tỷ lệ
góp vốn vào công ty của các thành viên góp vốn. Phần vốn góp của các thành
viên góp vốn tỷ lệ thuận với số vốn mà họ đã góp vào công ty. Dựa trên phần
vốn góp mà ta cũng có thể xác định được quyền hạn và nghĩa vụ của các
thành viên góp vốn. Trong công ty có nhiều thành viên nên việc điều hành,
quản lý, quyết định những vấn đề cũng dựa trên tỷ lệ phần vốn góp của các
thành viên trong công ty.
1.2 Phân loại các hình thức định đoạt phần vốn góp
cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế và phân định tài
sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài sản. Người lập di chúc chỉ
định một hoặc nhiều người trong di chúc và cho họ hưởng một phần hoặc
toàn bộ tài sản của mình. Nếu trong di chúc có nhiều người, mỗi người được
hưởng bao nhiêu phục thuộc vào ý chí của người có tài sản. Người có tài sản
thể hiện ý chí của mình, nhưng ý chí đó có được thực hiện hay không phụ
thuộc vào hình thức biểu lộ ý chí. Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản
của mình bằng di chúc, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa
kế theo di chúc [26, tr.482]. Qua phân tích ở trên ta thấy thừa kế theo di chúc
chỉ thể hiện ý chí của một bên đó là người để lại di sản thừa kế. Vì vậy ta có
thể thấy rằng thừa kế theo di chúc có bản chất là hành vi pháp lý đơn phương.
Thừa kế theo pháp luật là việc di chuyển tài sản của người chết cho
những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Cá nhân có quyền sở hữu
đối với tài sản của mình, sau khi chết, số tài sản còn lại được chia đều cho
những người thừa kế. Người được thừa kế của cá nhân là những người có
quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng. Những người
được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi. Mọi
14
người bình đẳng trong việc hưởng di sản của người chết, thực hiện nghĩa vụ
mà người chết chưa thực hiện trong phạm vi di sản nhận. Phạm vi những
người thừa kế rất rộng, vì vậy pháp luật quy định thành nhiều hàng thừa kế.
Trong đó hàng thừa kế thứ nhất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết
thống gần gũi nhất so với các hàng khác. Các hàng thừa kế thứ hai, thứ ba là
những hàng dự bị nếu như người chết không có những người thừa kế ở hàng
thứ nhất hoặc có nhưng họ đều không nhận hoặc không có quyền nhận [26,
tr.494]. Thừa kế theo pháp luật chỉ được đặt ra trong các trường hợp:
+ Không có di chúc
+ Di chúc không hợp pháp;
+ Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước người lập di chúc;
không thực hiện công việc không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội.
Qua phân tích ta thấy được việc thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự của
bên được tặng cho thực chất là một dạng đền bù, thể hiện quan hệ có đi có lại
giữa các bên. Do đó, hợp đồng tặng cho có điều kiện là một loại hợp đồng dân
sự song vụ, theo đó bên tặng cho có nghĩa vụ chuyển giao tài sản cho bên
được tặng cho, còn bên được tặng cho tài sản có nghĩa vụ thực hiện một công
việc theo các điều kiện mà bên tặng cho đưa ra.
c, Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Khi đã góp tài sản vào trong
doanh nghiệp, tài sản sẽ được chuyển thành tài sản của doanh nghiệp, không
còn là tài sản thuộc sở hữu của chủ thể góp vốn nữa. Vì vậy, Bộ luật dân sự
quy định quyền tài sản đối với phần vốn góp vào doanh nghiệp được sử dụng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
+ Thế chấp là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản
cho bên nhận thế chấp [26, tr.317].
16
+ Cầm cố được hiểu là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Qua đó ta thấy
để phân biệt cầm cố và thế chấp người ta không phụ thuộc vào tài sản bảo
đảm là động sản hay bất động sản, mà phụ thuộc vào đặc điểm tài sản đó có
chuyển giao cho bên nhận bảo đảm giữ hay không. Nếu tài sản bảo đảm được
chuyển giao cho bên nhận bảo đảm giữ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự,
thì hai bên đã áp dụng biện pháp cầm cố tài sản. Việc bên cầm cố giao tài sản
cầm cố cho bên nhận cầm cố phải là giao tài sản thực tế, tức là bên nhận cầm
cố thực sự giữ tài sản cầm cố chứ không phải chỉ chiếm hữu giấy tờ.
Mặt khác ta thấy rằng phần vốn góp của chủ thể góp vốn là quyền tài
sản. Với đặc điểm của quyền tài sản đó là không thể cầm nắm được vì thế
không thể có việc chuyển giao tài sản bảo đảm từ người cầm cố cho người
nhận cầm cố. Vì vậy không thể áp dụng biện pháp bảo đảm cầm cố cho tài sản
1.3 Các điều kiện đối với việc định đoạt phần vốn góp
1.3.1 Cơ sở pháp lý tạo thành các điều kiện
a, Quy định pháp luật về quyền tài sản.
Theo như phân tích ở trên ta có thể thấy rằng phần vốn góp là quyền tài
sản của thành viên góp vốn vào công ty. Theo quy định tại Điều 181 Bộ luật
dân sự: “Quyền tài sản là quyền giá trị được bằng tiền và có thể chuyển giao
trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Từ định nghĩa trên ta
khẳng định quyền tài sản phải đáp ứng được hai yêu cầu:
+ Quyền tài sản trị giá được bằng tiền.
+ Có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự.
Giá trị của các quyền tài sản có được thông qua các hình thức pháp lý
khác nhau như:
18
+ Thông qua giao kết hợp đồng dân sự như quyền đòi nợ, quyền sử
dụng tài sản thuê…
+ Được cơ quan nhà nước giao quyền sử dụng như quyền sử dụng đất,
quyền khai thác khoáng sản…
+ Bằng trí tuệ của mình sáng tạo ra tác phẩm hoặc được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu công nghiệp.
Quyền tài sản có thể được chia thành hai loại: quyền đối vật và quyền
đối nhân. Quyền đối vật được biển hiện như quyền cầm cố, quyền thế chấp,
quyền hưởng hoa lợi… Quyền đối nhân của một người thường tương ứng với
nghĩa vụ tài sản của người khác. Qua quy định tại Điều 181 ta thấy rằng
quyền tài sản là một tài sản vô hình, các tài sản vô hình ngoài việc đáp ứng
được hai điều kiện quy định tại Điều 181 Bộ luật dân sự cần phải có một số
đặc điểm sau đây:
+ Tài sản vô hình cần phải nhận dạng được. Việc nhận dạng tài sản vô
hình có thể thông qua một số chứng cứ hữu hình để có thể mô tả được loại tài
sản vô hình đó. Ví dụ: một sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá, nghệ
được hiểu là quyền quyết định số phận pháp lý của tài sản và quyền này được
thể hiện dưới hai góc độ:
+ Định đoạt về số phận thực tế của vật, tức là chủ thể có quyền định
đoạt vật làm cho vật không còn trên thực tế nữa như: tiêu dùng hết, huỷ bỏ,
hoặc từ bỏ quyền chủ sở hữu (vứt bỏ hoặc tiêu huỷ tài sản đi). Trong việc
định đoạt số phận thực tế của vật, chủ thể định đoạt vật chỉ cần bằng hành vi
của mình tác động trực tiếp đến vật đó [5, tr.445].
+ Định đoạt số phận pháp lý của vật là việc chuyển giao sở hữu đối với
tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác. Thông thường, việc định đoạt số
phận pháp lý của vật phải thông qua giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của
20
chủ sở hữu. Các hình thức định đoạt pháp lý rất đa dạng, có thể là việc định
đoạt đối với tài sản như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để lại thừa kế…
Hoặc thông qua các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp
luật. Ví dụ như: định đoạt việc phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp theo
quy định của điều lệ doanh nghiệp, hay quyết định góp vốn để thực hiện hoạt
động kinh doanh tại một doanh nghiệp nào đó…[5, tr.445].
Việc chủ sở hữu, hoặc chủ thể khác được chủ sở hữu uỷ quyền định
đoạt tài sản thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấm dứt hoặc
thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản đó. Việc định đoạt tài sản
phải tuân theo những điều kiện nhất định. Chủ sở hữu có thể tự mình định
đoạt tài sản hoặc uỷ quyền cho người khác định đoạt tài sản của mình.
c, Quy định của Hiến pháp về bảo vệ chủ sở hữu.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam,
công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đã đạt được những thành tựu bước
đầu vô cùng quan trọng, nhất là những năm đầu của thập kỷ 90. Để đáp ứng
được nhu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới trong giai đoạn hiện nay, Quốc
hội đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1980. Hiến pháp sửa đổi (được Quốc hội
thông qua ngày 15/5/1992) đã thừa kế những quy định của các bản Hiến pháp
hiện theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật dân sự
thì năng lực hành vi của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của
mình xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự. Bộ luật dân sự cũng quy định năng
lực hành vi dân sự ở từng độ tuổi nhất định phù hợp với khả năng nhận thức
của người có tài sản. Người thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên là người có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình, hoặc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác khi được
người đó uỷ quyền, trừ những trường hợp người đó bị Toà án tuyên bố mất
22
năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự khi định đoạt
tài sản. Pháp luật cũng quy định những người dưới 18 tuổi khi định đoạt tài
sản phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ những giao dịch
nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi của người
đó. Tuy nhiên đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, nếu có tài sản
riêng thì có thể tự mình định đoạt tài sản mà không phải có sự đồng ý của
người đại diện theo pháp luật của người đó.
+ Đối với những tài sản mà pháp luật quy định trình tự, thủ tục định
đoạt tài sản, thì khi định đoạt tài sản người định đoạt tài sản phải tuân thủ theo
quy định đó. Những tài sản pháp luật quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài
sản thường là bất động sản hoặc các tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở
hữu.
1.4 Nội dung và hiệu lực của định đoạt phần vốn góp
1.4.1 Nội dung của định đoạt phần vốn góp
Việc định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH thường được thực
hiện thông qua hình thức là hợp đồng. Nội dung của định đoạt phần vốn góp
chính là nội dung của hợp đồng. Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều
khoản trong hợp đồng. Một hợp đồng có thể bao gồm nhiều điều khoản do
các bên thoả thuận, điều khoản do pháp luật quy định. Các điều khoản này
làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Trong khoa học pháp lý, điều
phần vốn góp qua hình thức tặng cho, để lại thừa kế theo di chúc thì người
nhận chuyển nhượng không đòi hỏi phải có năng lực hành vi và năng lực
pháp luật dân sự đầy đủ.
+ Đối tượng được định đoạt chính là phần vốn góp của thành viên trong
công ty TNHH.
24
+ Số lượng phần vốn góp được định đoạt dựa trên tỷ lệ giá trị phần vốn
góp trên tổng số vốn điều lệ của công ty.
Đây là những nội dung bắt buộc phải có trong việc định đoạt phần vốn
góp. Ngoài ra trong việc định đoạt phần vốn góp còn có các nội dung khác tuỳ
thuộc vào hình thức định đoạt phần vốn góp.
- Định đoạt phần vốn góp thông qua hình thức chuyển nhượng thì phải
có thêm những nội dung như:
+ Giá và phương thức thanh toán. Giá cả do các bên tự do thoả thuận.
Giá của phần vốn góp phụ thuộc rất nhiều vào tình hình hoạt động của công
ty. Vì người sở hữu phần vốn góp được hưởng rất nhiều quyền lợi với tư cách
là thành viên của công ty. Nếu công ty làm ăn có lãi thì giá trị phần vốn góp
sẽ được tăng lên, ngược lại nếu công ty làm ăn thua lỗ thì giá trị phần vốn góp
sẽ bị giảm xuống. Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như
cung cầu… Về phương thức thanh toán các bên có thể thoả thuận thanh toán
bằng đồng Việt Nam, hoặc đồng ngoại tệ, bằng vàng …
+ Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên: đây là nội dung không thể thiếu
trong hợp đồng, nó quyết định một hợp đồng có hình thành và thực hiện được
hay không.
1.4.2 Hiệu lực của định đoạt phần vốn góp
1.4.2.1 Hiệu lực đối các bên tham gia định đoạt phần vốn góp
Phần vốn góp là một tài sản vô hình. Tài sản này không chiếm hữu
được. Đó chỉ là quyền định giá được bằng tiền và không gắn liền với bất kỳ
vật cụ thể nào. Luật pháp Việt Nam gọi chung những tài sản vô hình đó là
chuyển nhượng. Nhưng nếu không có các điều khoản như thế, bên nhận
chuyển nhượng sẽ phải làm gì để bảo vệ lợi ích của mình. Liệu có thể áp dụng
26
tương tự pháp luật các quyền và nghĩa vụ của bên mua và bên bán trong hợp
đồng mua bán vật cho hợp đồng mua bán quyền tài sản.
Trong luật cộng hoà Pháp, người chuyển nhượng phần hùn và cổ phần
trong công ty có nghĩa vụ của người bán đối với người mua giống như các
hợp đồng mua bán vật hữu hình, đặc biệt là các nghĩa vụ bảo đảm về các
khuyết tật bị che dấu.
Đối với các tài sản hữu hình nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu của
bên bán cho bên mua được cho là hoàn thành khi bên bán giao cho bên mua (
đối với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu) hoặc khi đăng ký quyền sở
hữu cho bên mua (đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu). Đối với tài sản
vô hình, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu là thời điểm bên mua nhận được
giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu đối với quyền về tài sản đó hoặc từ thời
điểm đăng ký việc chuyển giao quyền sở hữu (khoản 3 điều 449 Bộ luật dân
sự). Vấn đề là phần vốn góp thuộc loại tài sản nào: phải đăng ký quyền sở
hữu hay không phải đăng ký quyền sở hữu [2].
1.4.2.2 Hiệu lực đối với công ty
Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp giữa các bên giao
kết chỉ phát sinh hiệu lực với công ty khi đăng ký vào sổ thành viên công ty
hoặc khi được cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư phê chuẩn (đối với phần
vốn góp trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Theo quy định tại
khoản 2 điều 33 nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ thì trong thời
hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định thay đổi, công ty phải gửi thông
báo đến Phòng đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký kinh doanh. Kèm
theo thông báo phải có hợp đồng chuyển nhượng và các giấy tờ chứng thực đã
hoàn tất việc chuyển nhượng có xác nhận của công ty. Khi nhận được thông
báo, Phòng đăng ký kinh doanh trao giấy biên nhận và đăng ký thay đổi thành