MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các sơ đồ Danh mục các hộp MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP
BẤT CHÍNH
5
1.1.
Khái niệm và các đặc trưng của hoạt động bán hàng đa cấp
5
30
2.1.
Các quy định pháp luật về hoạt động bán hàng đa cấp bất
30
chính ở Việt Nam
2.1.1.
Các quy định pháp luật xác định hành vi bán hàng đa cấp bất chính
30
2.1.2.
Trình tự, thủ tục, xử lý đối với hành vi bán hàng đa cấp bất
chính theo Luật Cạnh tranh năm 2004
35
2.2.
Thực tiễn xử lý các hành vi bán hàng đa cấp bất chính ở Việt
Nam hiện nay
46
2.2.1.
Thực tiễn bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam
46
2.2.2.
Thực tiễn xử lý các hành vi bán hàng đa cấp bất chính ở Việt
Nam hiện nay
55
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CỦA VIỆC XỬ LÝ CÁC HÀNH VI BÁN HÀNG
ĐA CẤP BẤT CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
61
Trang
2.1
Trình tự, thủ tục, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh và hành vi bán hàng đa cấp bất chính
36
Danh môc c¸c hép
Sè hiÖu
hép
Tªn hép
Trang
2.1
Một số doanh nghiệp bán hàng đa cấp có hành vi vi phạm
bị Cục Quản lý cạnh tranh xử lý
57
1
MỞ ĐẦU
bán hàng đa cấp bất chính trong thời gian qua. Tuy nhiên, những quy định về
bán hàng đa cấp bất chính trong Luật cạnh tranh và Nghị định 110 dường như
mới chỉ mang tính chất tình thế, chưa thực sự giải quyết được thấu đáo vấn đề
bản chất của hoạt động bán hàng đa cấp bất chính, các dạng thể hiện của loại
hành vi này với tính chất là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chính vì
vậy mà hiệu quả áp dụng chưa cao, chưa đáp ứng được kỳ vọng của các nhà
lập pháp cũng như các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và người
tiêu dùng.
Với mong muốn có được cái nhìn bao quát về các hành vi bán hàng đa
cấp bất chính, đồng thời, tổng kết, đánh giá những kinh nghiệm có được từ
thực tiễn xử lí các vụ việc bán hàng đa cấp bất chính của cơ quan quản lý
cạnh tranh trong thời gian qua đề từ đó có những đề xuất thích hợp cho việc
hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này, tác giả mạnh dạn lựa chọn
đề tài: "Pháp luật về bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam" làm luận văn
tốt nghiệp của mình. Đây thực sự là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc cả về lý
luận và thực tiễn đồng thời còn có tính thời sự cao.
2. Tình hình nghiên cứu
Bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng mới xuất hiện ở nước
ta. Vì vậy, pháp luật về bán hàng đa cấp với tính chất là một lĩnh vực pháp
luật điều chỉnh hoạt động bán hàng này cũng mới hình thành ở nước ta trong
thời gian gần đây. Mặc dù vậy, pháp luật về bán hàng đa cấp lại là một lĩnh
vực pháp luật nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu pháp lý và kinh tế. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của các công trình đó
hoặc là còn quá hẹp, phần lớn mới chỉ dừng lại ở hình thức các bài viết trên
báo hoặc là các tài liệu kinh tế được dịch từ tài liệu nước ngoài.
Thuộc về các công trình kể trên, đáng chú ý là các công trình như:
"Pháp luật về quản lý đối với hoạt động bán hàng đa cấp" được đăng trên
3
Tạp chí Khoa học pháp lý số 4 (35)/2006 của Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Sơn, một
cấp bất chính của Việt Nam;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bán
hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Các nội dung nghiên cứu dưới khía cạnh kinh tế về bán hàng đa cấp
không thuộc phạm vi nghiên của đề tài này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài của luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng những quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, đường lối, quan
điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập.
Phương pháp luận nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phép
biện chứng duy vật để nhìn nhận, đánh giá về pháp luật về cạnh tranh không
lành mạnh nói chung, pháp luật về bán hàng đa cấp bất chính nói riêng.
Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu: so
sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê một cách thích hợp để triển khai các
nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về bán hàng đa cấp bất chính.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bán hàng đa cấp bất chính và thực
tiễn xử lý các hành vi bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bán hàng
đa cấp bất chính và nâng cao hiệu quả của việc xử lý các hành vi bán hàng đa
cấp bất chính ở Việt Nam hiện nay.
5
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH
kỳ một giá trị nào cho xã hội. Phải đến một phán quyết của Tòa án thương
mại Liên bang Mỹ năm 1979, bán hàng đa cấp mới chính thức được thừa
nhận hợp pháp. Đây cũng là căn cứ cho sự ra đời của đạo luật đầu tiên về bán
hàng đa cấp tại Mỹ.
Cho đến nay, phương thức kinh doanh này đã trở nên phổ biến ở hầu
khắp các nước trên thế giới. Đặc biệt, do tận dụng được hệ thống thông tin
liên lạc rất phát triển hiện nay mà phương thức kinh doanh này dễ dàng tác
động đến mọi ngõ ngách trong xã hội và ảnh hưởng ngày càng lớn trong tỉ
trọng nền kinh tế thế giới.
Theo pháp luật nhiều nước, "kinh doanh đa cấp là phương thức phân
phối lẻ hàng hóa, dịch vụ thông qua mạng lưới những cá nhân phân phối gồm
nhiều tầng khác nhau" [27, tr. 5], trong đó:
Mỗi người đều có trách nhiệm bán lẻ sản phẩm và có quyền tuyển
dụng, đào tạo người mới tham gia mạng lưới của mình;
Mỗi phân phối viên được nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi
ích kinh tế khác từ kết quả tiêu thụ sản phẩm của mình và của mạng lưới do
mình trực tiếp tổ chức và được doanh nghiệp thừa nhận.
Pháp luật Việt Nam không nhìn nhận theo cách hiểu này mà quan
niệm về bán hàng đa cấp theo cách khác, theo đó kinh doanh đa cấp chỉ được
hiểu là "Bán hàng đa cấp" và được định nghĩa tại khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh
tranh năm 2004 như sau:
Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa
đáp ứng các điều kiện sau:
1. Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua
mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;
7
2. Hàng hóa được người tham gia tiếp thị trực tiếp cho
người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa
điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh
bởi những người tham gia, doanh nghiệp sẽ thiết lập trực tiếp mối quan hệ
mua bán sản phẩm với người tiêu dùng mà không qua bất kỳ khâu trung gian
nào. Do đó, doanh nghiệp sẽ không tốn các chi phí liên quan đến việc thành
lập, duy trì và phát triển mạng lưới phân phối dưới dạng các cửa hàng giới
thiệu sản phẩm hoặc các đại lý phân phối sản phẩm. Chính đây là nguyên do
tạo nên một ưu thế trội của phương thức bán hàng đa cấp so với phương thức
bán hàng thông thường, bởi người tiêu dùng có thể mua hàng với giá gốc
hoặc ít ra cũng thấp hơn nhiều lần nếu như hàng hóa được mua bán theo
phương thức truyền thống, tránh được việc giá cả bị đẩy lên cao nhiều lần,
hạn chế nạn hàng giả, hàng nhái… Bên cạnh đó, đặc điểm này của hoạt động
bán hàng đa cấp cũng dẫn tới hai khả năng: (i) Doanh nghiệp bán hàng đa
cấp đồng thời cũng là doanh nghiệp trực tiếp sản xuất sản phẩm (ở các nước
phát triển, trường hợp này là đa số) hoặc (ii) Doanh nghiệp chỉ phân phối
hàng hóa do công ty khác sản xuất bằng cách tiếp thị và bán lẻ bằng phương
thức đa cấp.
Tuy có thể cùng là nhà sản xuất, nhà cung ứng dịch vụ, nhà nhập
khẩu nhưng sự khác biệt giữa doanh nghiệp bán hàng đa cấp so với doanh
nghiệp kinh doanh thông thường là ở chỗ doanh nghiệp thông thường chuyển
hàng đến tổng đại lý, tổng đại lý chuyển hàng đến đại lý cấp một, cấp hai…
qua rất nhiều khâu trung gian mới đến tay người tiêu dùng. Ngược lại, doanh
nghiệp bán hàng đa cấp bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng thông qua
mạng lưới "phân phối viên" (mạng lưới đa cấp). Các phân phối viên này nhận
hàng tại doanh nghiệp và giao hàng đến tận tay khách hàng. Tức là doanh
nghiệp đã loại bỏ được việc phải thành lập các đại lý hay cửa hàng, phòng
trưng bày sản phẩm, thay vào đó, các phân phối viên này chủ động tìm kiếm
và tiếp xúc khách hàng. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp thường cung cấp tài
9
liệu cũng như hướng dẫn cho những người này các thông tin và đặc tính của
sản phẩm để mỗi phân phối viên có thể giới thiệu chi tiết tới khách hàng. Điều
thông qua những người tham gia được tổ chức ở nhiều cấp khác nhau (đa cấp).
Trong hoạt động bán hàng đa cấp, người ta chú ý nhiều nhất đến mạng
lưới đa cấp. Mạng lưới đa cấp hiểu đơn giản bao gồm những phân phối viên
đảm nhiệm việc tiếp thị và bán lẻ hàng hóa cho doanh nghiệp. Những người
này có thể được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như hợp tác viên, cộng tác
viên, phân phối viên, đại diện bán hàng, nhà phân phối độc lập, trực tiêu
viên… nhưng đều nhận nhiệm vụ tiếp thị, quảng cáo và bán sản phẩm. Những
người này có ảnh hưởng quyết định tới sự thành bại của hoạt động bán hàng
đa cấp. Các phân phối viên khi tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp thường
làm hai việc chính: (i) bán sản phẩm và (ii) xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản
phẩm. Hoạt động thứ hai có nhiều điểm đáng chú ý hơn so với hoạt động thứ
nhất, đây cũng là hoạt động dễ nảy sinh tiêu cực. Bởi các phân phối viên
trong bán hàng đa cấp sau khi dùng thử sản phẩm hoặc được giới thiệu về tính
năng và công dụng của sản phẩm, họ sẽ tìm kiếm những người mua sản phẩm,
đặc biệt là những người có khả năng tham gia vào mạng lưới. Đối tượng của
các phân phối viên thường là bạn bè, người thân và phương pháp được sử
dụng thường là gặp gỡ trực tiếp. Lý do khiến những phân phối viên tích cực
phát triển mạng lưới bởi thu nhập của mỗi thành viên trong mạng lưới bán
hàng đa cấp không chỉ bao gồm doanh thu bán hàng của mình, mà còn từ
doanh thu bán hàng của những người trong mạng lưới tiêu thụ do họ lập ra.
Đặc điểm này thể hiện rất rõ tính chất mạng lưới của hoạt động bán hàng đa
cấp. Hệ thống này cho phép các thành viên tự giới thiệu thêm người vào mạng
lưới, người mới này đồng thời cũng là cấp dưới của thành viên giới thiệu. Một
phân phối viên do đó, vừa là cấp trên vừa là cấp dưới trong mạng lưới bán
hàng đa cấp. Về cách thức tổ chức mạng lưới, mỗi doanh nghiệp lại có những
chính sách khác nhau trong thiết lập hệ thống bán hàng của mình. Sự khác
biệt chủ yếu nằm ở chỗ một cấp trong mạng lưới có bao nhiêu thành viên,
mạng lưới được tổ chức thành bao nhiêu cấp. Hệ quả của việc tổ chức mạng
11
Như vậy, khi phân tích về tổ chức mạng lưới đa cấp, cần phải làm rõ
một số nội dung sau:
Người tham gia bán hàng đa cấp là các phân phối viên trong việc tiếp
thị, bán lẻ hàng hóa (được gọi với những tên như cộng tác viên, đại lý, nhà
phân phối độc lập, trực tiêu viên ) trực tiếp cho người tiêu dùng mà không
nhân danh doanh nghiệp bán hàng đa cấp. Như vậy, không phải là trực tiếp
thiết lập quan hệ với người tiêu dùng, doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực
hiện việc giới thiệu và bán lẻ thông qua mạng lưới người tham gia, cũng có
quan hệ độc lập với khách hàng. Do người tham gia bán hàng đa cấp không là
nhân viên của mình nên doanh nghiệp bán hàng đa cấp không phải chịu trách
nhiệm trước khách hàng tiêu thụ sản phẩm về hành vi của phân phối viên, mà
chịu trách nhiệm trong giới hạn phạm vi chất lượng sản phẩm và các thông tin
liên quan đến sản phẩm do họ cung cấp.
- Khi tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, các phân phối viên không
phải là các đại lý phân phối theo quy định của Luật Thương mại, không thuộc
các cửa hàng tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp bán hàng đa cấp thành lập.
Luật Cạnh tranh quy định người tham gia tiếp thị hàng hóa tại nơi ở, nơi làm
việc của người tiêu dùng mà không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của
doanh nghiệp hay của người tham gia. Do trực tiếp gặp gỡ người tiêu dùng để
giới thiệu và bán lẻ sản phẩm, người tham gia không phải đăng ký kinh doanh
khi tham gia bán hàng đa cấp.
- Người tham gia được tổ chức thành những cấp khác nhau theo
phương thức, mỗi người tham gia tổ chức một mạng lưới phân phối mới, khi
được doanh nghiệp chấp nhận; số lượng người tham gia ở cấp sau luôn nhiều
hơn so với cấp trước nó, làm cho phương thức kinh doanh này tạo ra một hệ
thống phân phối theo hình tháp. Trong quan hệ nội bộ, người tham gia ở cấp
trên có vai trò tổ chức và điều hành hoạt động của những người trong mạng
lưới cấp dưới.
bán hàng đa cấp, các phân phối viên được nhận hoa hồng trực tiếp từ doanh
số bán hàng của mình và phần trăm hoa hồng từ doanh số bán hàng của
phân phối viên cấp dưới. Số tiền nhận được từ doanh số bán hàng của mạng
14
lưới cấp dưới thường được gọi là "hoa hồng quản lý". Nhiều nhà kinh tế cho
rằng "hoa hồng quản lý" là chi phí trả cho hoạt động giới thiệu và đào tạo
nhân viên.
1.2. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT
CHÍNH - MỘT LOẠI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
1.2.1. Bán hàng đa cấp bất chính
Như đã phân tích ở trên, bán hàng đa cấp đem lại nhiều lợi ích thiết
thực cho người tiêu dùng: mua được hàng trực tiếp từ nhà sản xuất nên tránh
được nạn hàng giả, hàng kém chất lượng Dưới góc độ của doanh nghiệp,
bán hàng đa cấp tiết kiệm được một loạt các chi phí như quảng cáo, chi phí
vận chuyển, chi phí thuê mặt bằng trưng bày sản phẩm Mặt khác, bán hàng
đa cấp tạo ra một lượng lớn việc làm cho xã hội bởi không giới hạn người
tham gia, đó là chưa kể đến cách thức bán hàng trực tiếp và chủ yếu dựa trên
quan hệ thân quen làm cho doanh số bán hàng tăng lên đáng kể.
Cùng với sự phát triển của bán hàng đa cấp, phương thức kinh doanh
theo kiểu bán hàng đa cấp bất chính đã xuất hiện ở Việt Nam. Đây là phương
thức kinh doanh trong đó, doanh nghiệp và những tầng trên trong mạng lưới
người tham gia được hưởng các khoản lợi ích kinh tế chủ yếu từ tiền đóng
góp của những người mới tham gia mà không phải là từ lợi nhuận của việc
bán lẻ sản phẩm cho người tiêu dùng.
Điều 48 Luật cạnh tranh năm 2004 quy định:
Cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây nhằm thu
lợi từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp:
phạm là "nhằm thu lợi bất chính". Trong khi đó, pháp luật của một số nước
khác như Canađa, Đài Loan tập trung phân tích về bản chất gian dối của
hành vi vi phạm. Trong đó, các nhà làm luật ở những quốc gia này tập trung
mô tả các thủ đoạn gian dối của doanh nghiệp khi đưa ra thông tin về (i) lợi
ích mà những người tham gia được hưởng, hoặc (ii) lợi ích sẽ được hưởng
16
khi tham gia vào mạng lưới, để từ đó thiết lập được hệ thống phân phối đa
cấp [3, tr. 95-96].
1.2.2. Các đặc điểm của bán hàng đa cấp bất chính
Bán hàng đa cấp là phương thức kinh doanh được thừa nhận bởi
nhiều quốc gia trên thế giới. Từ bản chất, bán hàng đa cấp không mang tính
chất tiêu cực. Pháp luật các nước không lên án hoạt động bán hàng đa cấp,
bán hàng đa cấp chỉ được coi là đối tượng của pháp luật cạnh tranh khi có dấu
hiệu cạnh tranh không lành mạnh.
Dưới góc độ lý thuyết cạnh tranh, sự không lành mạnh của hành vi
cạnh tranh được xác định căn cứ vào khả năng gây thiệt hại của nó đối với thị
trường, đối với đời sống xã hội và bản chất trái đạo đức, tập quán kinh doanh
hơn là dựa vào khả năng thu lợi cho người thực hiện. Mặt khác, tự thân bốn
hành vi bị cấm đoán đã bao hàm trong đó mục đích bất chính của người thực
hiện. Do đó, doanh nghiệp chỉ cần thực hiện một trong bốn hành vi đã liệt kê
tại Điều 48 Luật cạnh tranh năm 2004, đã là bán hàng đa cấp bất chính.
Không coi mục đích "thu lợi bất chính từ việc dụ dỗ tham gia mạng lưới bán
hàng đa cấp" là một căn cứ độc lập để xác định sự vi phạm, Nghị định 110 đã
quy định rõ các hành vi bị cấm đoán. Việc xác định tính không lành mạnh của
bán hàng đa cấp bất chính phải dựa trên việc phân tích các biểu hiện của hành
vi vi phạm, nhất là các dấu hiệu về sự chiếm dụng vốn, dồn hàng cho người
tham gia và lừa dối.
Bán hàng đa cấp bất chính mang bản chất của sự chiếm dụng vốn
Luật Cạnh tranh quy định "cấm doanh nghiệp yêu cầu người muốn
nên chưa thể ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với họ;
- Về bản chất, đặt cọc trong các giao dịch phát sinh trên thị trường là
biện pháp bảo đảm vật chất mà các chủ thể phải thực hiện với nhau nằm đảm
bảo cho việc thực hiện một nghĩa vụ; việc trả tiền là nghĩa vụ thanh toán của
một chủ thể cho việc được hưởng một lợi ích ngang giá. Vì vậy, việc doanh
18
nghiệp bán hàng đa cấp buộc người muốn tham gia phải thực hiện các nghĩa
vụ nói trên như một điều kiện để xem xét việc có được tham gia mạng lưới
hay không là trái với bản chất của việc đặt cọc hay của nghĩa vụ trả tiền trong
các thương vụ.
Từ các lý lẽ trên, những khoản tiền mà doanh nghiệp bán hàng đa cấp
có được từ nghĩa vụ vô lý đã áp đặt cho người muốn tham gia phải thực hiện
là những khoản tài chính bất chính mà doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã
chiếm dụng được.
Bán hàng đa cấp bất chính phản ánh chiến lược dồn hàng cho
người tham gia
Theo Luật Cạnh tranh năm 2004, việc dồn hàng cho người tham gia
được thực hiện thông qua các hành vi: doanh nghiệp bán hàng đa cấp yêu cầu
người muốn tham gia phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu để được
quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; hoặc không cam kết mua lại với
mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại.
Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị bán lẻ sản phẩm đến tay
người tiêu dùng, theo đó những người tham gia chỉ là người giúp doanh
nghiệp tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm, mà không phải là các đại lý bao tiêu hay
người tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bán hàng đa cấp. Hợp đồng tham
gia bán hàng đa cấp có tính chất của hợp đồng hợp tác giữa doanh nghiệp bán
hàng đa cấp và người tham gia. Người tham gia không phải là người tiêu dùng
trong giao dịch này (trừ phi họ là người có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm, khi đó,
họ sẽ giao kết một thương vụ khác với doanh nghiệp bán hàng đa cấp). Trong
hai mục đích: (i) kích thích người tham gia nỗ lực tiếp thị và bán hàng hóa;
(ii) thúc đẩy người tham gia xây dựng, tổ chức và vận hành mạng lưới cấp
dưới có năng lực và hoạt động hiệu quả.
Khi đem lại cho người tham gia những lợi ích chủ yếu từ việc giới
thiệu những người tham gia mới mà không từ kết quả tiếp thị và bán hàng hóa
20
của họ, hệ thống bán hàng đa cấp bị coi là không bình thường. Bởi lẽ, với lợi
ích được hưởng, người tham gia sẽ chỉ chú trọng đến việc dụ dỗ người khác
tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp mà không nỗ lực tiến hành các hoạt động
tiếp thị và bán hàng hóa. Với hành vi này, khi thiết lập mạng lưới bán hàng đa
cấp, doanh nghiệp bán hàng đa cấp dường như không quan tâm đến việc tiếp
thị và tiêu thụ háng hóa mà chỉ tìm cách tổ chức mạng lưới đa cấp. Đương
nhiên, mạng lưới đa cấp này không được pháp luật thừa nhận, các khoản chi
để thành lập mạng lưới đa cấp là rất lớn trong khi thu nhập từ việc bán hàng
hóa là không đáng kể. Mặt khác, nếu bán hàng đa cấp truyền thống luôn khống
chế một giới hạn cấp tham gia nhất định được hưởng hoa hồng, tiền thưởng
và thường là mức hoa hồng sẽ giảm dần theo cấp tham gia (vì số lượng thế hệ
có hạn cho nên người tham gia càng chậm, càng xa vị trí của người cầm đầu
thì mức lợi ích được hưởng càng ít vì phần lợi ích thu được từ doanh số bán
hàng phải chia cho những cấp ở tầng trên). Khi hệ thống bán hàng đa cấp
dành lợi ích không từ hiệu quả tiếp thị hoặc doanh thu bán lẻ mà từ việc giới
thiệu người mới tham gia vào hệ thống thì doanh nghiệp sẽ không bao giờ
khống chế thế hệ, cấp bán hàng được hưởng hoa hồng, tiền thưởng. Số tiền
doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải trả cho người tham gia sẽ tăng dần theo
cấp số gia tăng của số lượng người mới tham gia. Lúc này, nguy cơ xảy ra các
cuộc khủng hoảng về tài chính cho doanh nghiệp bán hàng đa cấp, đe dọa lợi
ích của xã hội, của những người tham gia là tất yếu. Do đó, các doanh nghiệp
bán hàng đa cấp luôn tìm mọi cách để bù đắp khoản chi phí đã trả cho người
tham gia, đặt ra những điều kiện về mức hàng hóa tối thiểu mà người tham gia
tiếp thị để bán lẻ sản phẩm một cách độc lập, người tiêu dùng cuối cùng sẽ chỉ
biết đến người tham gia đã trực tiếp giới thiệu và bán sản phẩm cho họ. Do
đó, việc đổ trách nhiệm qua lại giữa người tham gia và doanh nghiệp bán
hàng đa cấp rất dễ xảy ra. Ví dụ, các thông tin trong tờ rơi hay tài liệu mà
người tham gia phân phối sản phẩm nước trái nhàu NONI cung cấp cho người
tiêu dùng không thể xác định là do người tham gia hay do doanh nghiệp bịa ra.
22
Khi báo giới và cơ quan chức năng vào cuộc, người đứng đầu văn phòng đại
diện của công ty Tahitan Noni International tại Việt Nam đã phủ nhận mọi
trách nhiệm, cho rằng chính người tham gia tự nghĩ ra mà công ty không được
biệt các thông tin nói trên. Công ty chỉ kiểm soát số lượng sản phẩm được bán
ra từ những người tham gia.
1.3. NHU CẦU ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI BÁN
HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH
Người Việt Nam mới chỉ làm quen với phương thức bán hàng đa cấp
trong thời gian gần đây. Trong khi đó, các nhà làm luật và những người có
trách nhiệm quản lý kinh tế của chúng ta chỉ quan tâm đến việc điều chỉnh
pháp luật sau khi xảy ra hàng loạt các vụ việc lừa đảo, chiếm dụng vốn liên
quan đến các doanh nghiệp bán hàng đa cấp trên thị trường gây ra những xáo
trộn lớn trong đời sống kinh tế - xã hội. Do chỉ được tiếp nhận từ mặt trái của
hiện tượng, nhiều nhà quản lý đã gay gắt cho rằng cần phải cấm đoán triệt để
việc xây dựng hệ thống bán hàng đa cấp. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy rằng,
hệ thống này vẫn cứ phát sinh, hoạt động và lôi kéo được rất nhiều người
thuộc nhiều tầng lớp khác nhau ở nhiều địa phương tham gia. Do đó, vấn đề
được đặt ra cho khoa học pháp lý và cho công tác xây dựng pháp luật là cần
nhanh chóng nghiên cứu, thiết kế khuôn khổ pháp lý phù hợp để điều tiết có
hiệu quả hoạt động này, đồng thời ngăn ngừa các toan tính sử dụng phương
thức bán hàng đa cấp như một công cụ lừa đảo, xâm hại lợi ích của xã hội.