Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Đinh Thị Thùy Nga
Pháp luật về các biện pháp
hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay
của các ngân hàng thương mại ở việt nam
Luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2010
Hà nội - 2010
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các sơ đồ MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ CÁC BIỆN PHÁP HẠN
11
1.2.2.
Các chỉ tiêu đánh giá độ rủi ro trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại
16
1.2.2.1.
Tỷ lệ nợ quá hạn
16
1.2.2.2.
Tỷ trọng nợ xấu
17
1.2.2.3.
Hệ số rủi ro tín dụng
20
1.2.3.
Hậu quả rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại đối với nền kinh tế - xã hội và các ngân hàng
20
1.2.4.
Nguyên nhân gây ra rủi ro
22
1.2.4.1.
Rủi ro do nguyên nhân khách quan
22
1.2.4.2.
Rủi ro do nguyên nhân chủ quan
24
1.3.
Các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại
Qui định về tỷ lệ khả năng chi trả
49
2.1.2.4.
Qui định về tỷ lệ cấp tín dụng
53
2.2.2.
Qui định về cấm cho vay và hạn chế cho vay
59
2.2.3.
Các qui định về loại nợ và trích lập dự phòng
62
2.2.4.
Các qui định về biện pháp đảm bảo tiền vay
66
2.2.5.
Các biện pháp khác về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại
76
2.2.5.1.
Qui định về kiểm soát, kiểm toán nội bộ
76
2.2.5.2.
Qui định về hoạt động giám sát của Ngân hàng nhà nước
81
2.2.5.3.
Qui định về thông tin tín dụng
85
2.3.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi
ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KSNB
Kiểm soát nội bộ
KTNB
Kiểm toán nội bộ
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
TCTD
Tổ chức tín dụng Danh mục các sơ đồ
trước cơ hội và thách thức lớn. Cơ hội là mở rộng được hoạt động kinh doanh,
học hỏi những kinh nghiệm quản trị trong đó có quản trị rủi ro của các ngân
hàng nước ngoài có uy tín, những thách thức đó là: gánh chịu những áp lực
của hoạt động cạnh tranh của các tổ chức tín dụng (TCTD) đặc biệt là các
ngân hàng nước ngoài và chịu ảnh hưởng bởi những tác động của cơn bão tài
chính từ một số các quốc gia trên thế giới bắt nguồn từ việc cho vay dưới
chuẩn nhà đất của Mỹ, sự sụp đổ của ngân hàng Societe General của Pháp.
Điều này đã làm cho hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
phức tạp và rủi ro nhiều hơn.
Lợi nhuận và rủi ro là hai hiện tượng luôn đi song hành với nhau, lợi
nhuận càng lớn thì rủi ro càng cao đó là một nguyên tắc luôn đúng với hoạt
2
động của mọi chủ thể kinh doanh trong đó có ngân hàng. Phát triển hoạt động
kinh doanh và hạn chế rủi ro là yêu cầu cấp thiết quan trọng đối với ngân
hàng, chỉ khi hạn chế được rủi ro ngân hàng mới thực sự phát triển và tạo sự
ổn định cho nền kinh tế. Việc thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro là nhân
tố quan trọng quyết định tính sống còn của hoạt động kinh doanh ngân hàng
và nền kinh tế. Trong đó hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu và mang lại
nhiều lợi nhuận nhất vì vậy việc thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro trong
hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng góp phần đảm bảo tính thanh
khoản của ngân hàng và đảm bảo an toàn cho toàn bộ hệ thống.
Nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động cho vay và các biện pháp hạn
chế rủi ro, pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro sẽ giúp cho các ngân
hàng thương mại nâng cao được năng lực quản lý rủi ro của mình, giúp cho
các nhà lập pháp, quản lý nhà nước hoàn thành nhiệm vụ của mình trong lĩnh
vực tiền tệ và góp phần hoàn thiện pháp luật về hạn chế rủi ro đáp ứng yêu
cầu hội nhập và phát triển kinh tế. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài "Pháp luật về
các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng
thương mại ở Việt Nam" làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
Học viện Ngân hàng.
Các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay đã được nghiên
cứu dưới hai góc độ kinh tế và pháp luật nhưng khó có thế tìm được một công
trình, đề tài nghiên cứu tổng quát pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro
trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Vì vậy,
việc nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề pháp luật về các biện pháp hạn
chế rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam là
rất cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
- Nghiên cứu tổng quan về rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro trong
hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
4
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro
trong hoạt động cho vay tại Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp hạn chế
rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phƣơng pháp
nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro trong
hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam, pháp luật về các biện
pháp rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Trong giới hạn của sự hiểu biết, luận văn chủ yếu
nghiên cứu các qui định của pháp luật Việt Nam về hạn chế rủi ro trong hoạt động
cho vay của ngân hàng thương mại, thực tiễn áp dụng tại một số ngân hàng cụ thể
là Ngân hàng Đầu tư và phát triển (BIDV), Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank).
Pháp luật nước ngoài về vấn đề này chỉ được đề cập một cách hạn chế trên cơ
sở có sự phân tích và so sánh với các qui định của pháp luật trong nước.
Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên
cứu đã nêu trên, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện
thành lập các tổ chức cho vay chuyên nghiệp, có qui mô lớn và nhanh chóng
đáp ứng nhu cầu thiết yếu của thị trường. Hoạt động cho vay được thực hiện
bởi nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội, trong đó chủ thể phổ biến nhất là
các ngân hàng thương mại.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thị trường tiền tệ và
sức ép của sự cạnh tranh. Các ngân hàng thương mại luôn tìm mọi cách là
tăng nguồn vốn huy động và mở rộng các hoạt động cho vay của mình bằng
cách đa dạng hóa các loại hình cho vay làm cho hoạt động cho vay của các
ngân hàng thương mại trở nên vô cùng đa dạng. Tính đa dạng của hoạt động
cho vay được thể hiện như sau: nếu căn cứ thời hạn cho vay, thì cho vay bao
6
gồm: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn; nếu căn cứ vào
mục đích sử dụng khoản vay thì có cho vay phục vụ cho sản xuất kinh doanh
của các tổ chức, cá nhân kinh doanh, cho vay phục vụ cho tiêu dùng… Để
đảm bảo an toàn cho hoạt động của mình, mối quan tâm thường xuyên của
các ngân hàng thương mại khi tiến hành các hoạt động cho vay là cho ai vay,
người đi vay sử dụng khoản vay như thế nào?, làm thế nào để khoản vay của
mình có thể được đảm bảo thanh toán của bởi người đi vay. Xuất phát từ tình
chất quan trọng của các hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, nên
hoạt động này luôn được sự quan tâm đặc biệt của các nhà làm luật, vậy hoạt
động cho vay là gì?.
1.1.1. Khái niệm về hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay với tư cách là một loại hoạt động tín dụng và nó có
những đặc điểm chung với đặc điểm của tín dụng, vì vậy việc nghiên cứu khái
niệm về hoạt động cho vay trước hết được xem xét thông qua việc tìm hiểu
các khái niệm về tín dụng. Tín dụng có nhiều cách hiểu khác nhau, theo các
nhà kinh tế học mác-xít quan niệm: "Đem tiền cho vay với tư cách là một việc
có đặc điểm là sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó mà vẫn giữ nguyên vẹn
giá trị của nó đồng thời lại lớn lên thêm trong quá trình hoạt động" [9, tr. 52].
Luật Dân sự 2005, Luật các tổ chức tín dụng 2004, Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về qui chế cho vay của tổ chức tín
dụng đối với khách hàng, Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005
về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín
dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Cho vay được định
nghĩa như sau: "Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín
dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích
và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi" [21].
8
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có những đặc trưng cơ
bản sau đây:
Thứ nhất, Xét về bản chất hoạt động cho vay của TCTD là giao dịch
hợp đồng, có sự thỏa thuận giữa hai bên, một bên là bên cho vay và một bên
là khách hàng (bên đi vay), hai bên thỏa thuận về mức vay, lãi suất và thời
hạn vay và tất cả những điều kiện khác có liên quan đến hoạt động cho vay, từ
đó ký kết hợp đồng tín dụng. Một trong những đặc điểm quan trọng của hoạt
động cho vay của các ngân hàng thương mại là các ngân hàng thương mại cho
vay trên cơ sở nguồn vốn huy động là chủ yếu. Điều đó có nghĩa là, nguồn
vốn cho vay của các ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn "đi vay" bởi lẽ các tổ
chức này hoạt động theo nguyên tắc "đi vay" để "cho vay", tức là không (hoặc
ít) cho vay tiền của bản thân mình mà nó sử dụng nguồn vốn huy động để cho
vay là chủ yếu.
Thứ hai, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại luôn tiềm ẩn
nhiều rủi ro. Theo quan điểm của một số tác giả thì hoạt động cho vay là hoạt
động tiêu biểu nhất của hầu hết các ngân hàng, hoạt động này đòi hỏi các
ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng trả nợ của khách
vai trò là cầu nối vốn cho nền kinh tế, giữa người thừa vốn và người cần vốn
để đầu tư.
Sơ đồ 1.1: Hoạt động cho vay của ngân hàng
Vậy, ngân hàng tập hợp các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để cho
các tổ chức, cá nhân vay để thực hiện các dự án kinh doanh, biến ý tưởng kinh
* Doanh nghiệp
*Cá nhân
* Hộ gia đình…
Ngân hàng
* Doanh nghiệp
*Cá nhân
* Hộ gia đình… 10
doanh thành thực tế. Chính vì vậy nó góp phần giải quyết được các vấn kinh
tế - xã hội như tăng trưởng, phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động…
- Hoạt động cho vay góp phần mở rộng sản xuất, thúc đẩy đổi mới
công nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học kỹ thuật…
Việc vay vốn không những giải quyết được nhu cầu vốn kinh doanh
mà còn làm thay đổi cách nghĩ, cách làm … làm thế nào để sử dụng nguồn
vốn vay một cách có hiệu quả. Việc vay vốn của các tổ chức, cá nhân đều
xuất phát từ nhu cầu mở rộng sản xuất hoặc đổi mới công nghệ, thiết bị, cải
tiến khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thương trường. Điều này sẽ làm tiền đề cho sự phát
ro không thể lường trước được. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong
hoạt động cho vay của ngân hàng có thể do nguyên nhân khách quan như:
môi trường kinh tế không ổn định hoặc do môi trường pháp lý chưa thuận lợi,
cũng có thể xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan như: nguyên nhân từ
phía khách hàng vay hoặc nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay [38]. Vậy
rủi ro trong hoạt động cho vay là gì? Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro cụ thể
như thế nào và tác động của rủi ro ra sao chúng ta lần lượt nghiên cứu và
tìm hiểu.
1.2. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm rủi ro trong hoạt động cho vay
Hoạt động ngân hàng đã và đang góp phần quan trọng vào sự phát
triển của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Ngân hàng không những giữ vị trí
trung gian tài chính mà còn là công cụ để nhà nước thực hiện chính sách tiền
tệ quốc gia thông qua việc điều tiết hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy
nhiên, hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng không những ẩn
12
chứa trong nó những rủi ro kinh doanh nói chung mà còn có những rủi ro
riêng biệt, có tính nhạy cảm cao ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tế. Luật các
tổ chức tín dụng qui định "hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán" [34].
Theo đó rủi ro trong hoạt động ngân hàng có thể gồm các loại rủi ro:
rủi ro tín dụng, rủi ro trong hoạt động nhận tiền gửi…. Theo cách phân loại
của Hiệp ước Basel II, rủi ro ngân hàng được chia thành ba loại rủi ro chính
là: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và các loại rủi ro khác
như: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro danh tiếng.
Như vậy, hoạt động cấp tín dụng chỉ là một bộ phận hợp thành của
hoạt động ngân hàng và tất cả rủi ro trong hoạt động ngân hàng đều ảnh
* Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng chịu sự quản lý vĩ mô của
nhà nước theo hành lang pháp lý quy định. Nhà nước can thiệp vĩ mô vào nền
kinh tế thị trường. Đặc biệt lĩnh vực tài chính tiền tệ chịu sự quản lý chặt chẽ
của NHNN Việt Nam. Mỗi khi có sự điều chỉnh của Chính phủ hoặc của
Ngân hàng nhà nước làm cho các ngân hàng thương mại gặp không ít khó
khăn trong hoạt động kinh doanh, thậm chí có thể phải gánh chịu những tổn
thất trong hoạt động kinh doanh của mình. Ví dụ qui định về tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc của NHNN sẽ làm giảm khối lượng tín dụng trong nền kinh tế thông
qua việc giảm trực tiếp khối lượng tiền tại các ngân hàng thương mại. Các
ngân hàng phải thắt chặt tín dụng thông qua giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng
và điều chỉnh tăng lãi suất cho vay. Điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của
ngân hàng.
* Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính có quan hệ mật thiết với
nhiều lĩnh vực, thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Bất cứ một sự
thay đổi nào của các lĩnh vực, thành phần kinh tế cũng đều tác động gây phản
ứng dây chuyền đối với các ngân hàng. Ví dụ: hiện nay tình trạng chiếm dụng
vốn, nợ đọng trong xây dựng cơ bản đã làm nhiều doanh nghiệp xây dựng gặp
phải khó khăn, mất khả năng thanh toán, không thể trả nợ cho các ngân hàng
14
thương mại làm cho nợ quá hạn của ngân hàng tăng cao, chiếm tỉ lệ lớn trong
tổng dư nợ cho vay.
Do những đặc điểm trên, rủi ro trong cho vay tồn tại như một tất yếu
khách quan và mang tính qui luật. Ông P.Volker, Cựu Chủ tịch Cục dự trữ
liên bang Mỹ cho rằng "Nếu ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đó
không phải là kinh doanh". Điều đó cho thấy rủi ro trong hoạt động cho vay
luôn tồn tại và nợ xấu là một thực trạng tất yếu ở tất cả các TCTD, kể cả các
ngân hàng đứng ở vị trí hàng đầu thế giới, bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm
kiểm soát của con người. Vì vậy, rủi ro trong hoạt động cho vay là một tất
yếu. Vấn đề quan trọng là nhìn nhận nó như thế nào và có những biện pháp
chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và
phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu
quả để ra quyết định cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều
khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm,
cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản
vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro
và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân
hàng, được phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang
tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Rủi ro
tín dụng
Rủi ro
giao dịch
Rủi
ro danh
mục
Rủi ro
nội tại
Rủi ro
tập trung
Rủi ro bảo
đảm
Rủi ro
nghiệp vụ
NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam không có bất kỳ
qui định về tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng thương mại là bao nhiêu theo
nhưng theo Thông tư số 04/1999/TT-NHNN về điều kiện để các NHTM
thành lập công ty chứng khoán, NHTM có nợ quá hạn dưới 5% tổng dư nợ
cho vay [19], nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá
17
hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng và nợ quá hạn được chia theo thời hạn
thành 04 nhóm [24]:
- Nợ quá hạn dưới 90 ngày - Nợ cần chú ý.
- Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày - Nợ dưới tiêu chuẩn.
- Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày - Nợ nghi ngờ.
- Nợ quá hạn trên 361 ngày - Nợ có khả năng mất vốn.
Do việc phân loại chất lượng tín dụng được tính theo thời gian như
vậy, nên những khoản tín dụng ở Việt Nam tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
1.2.2.2. Tỷ trọng nợ xấu
Nợ xấu: là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày mà không đòi được
và không được tái cơ cấu (Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN).
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không có qui định hạn chế về tỷ lệ nợ
xấu, tuy nhiên TCTD và NHNN đang sử dụng khuyến cáo của WB là không
quá 5% làm tiêu chuẩn cho quá trình quản lý nợ xấu. Các khoản nợ xấu ở Việt
Nam thông thường là những khoản nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và
những khoản nợ quá hạn không được Chính phủ xử lý rủi ro.
Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không
thể đòi,…) là những khoản nợ mang các đặc trưng:
- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng khi các
cam kết này đã hết hạn.
- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn
đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi.
- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị
+ Nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên.