Quy chế pháp lý của thương nhân trong kinh doanh du lịch tại Việt Nam - Pdf 28


1đại học quốc gia hà nội

khoa luật

phùng thị thanh hiền

quy chế pháp lý của thơng nhân
trong kinh doanh du lịch tại việt namChuyờn ngnh : Lut kinh t
Mó s : 60 38 50 luận văn thạc sĩ luật học
Ngi hng dn khoa hc : TS. Ngụ Huy Cng
Lời cam đoan
Mục lục

mở đầu
1
Chơng 1:
Những vấn đề lý luận cơ bản về quy chế pháp lý của thơng
nhân trong kinh doanh du lịch

3
1.1. Các đặc điểm của kinh doanh du lịch và sự cần thiết xây dựng
quy chế pháp lý của thơng nhân trong kinh doanh du lịch
3
1.1.1. Khái niệm kinh doanh du lịch 3
1.1.2. Đặc điểm của kinh doanh du lịch 6
1.1.3. Sự cần thiết xây dựng quy chế pháp lý của thơng nhân
trong kinh doanh du lịch
7
1.2. Khái luận về thơng nhân và quy chế pháp lý của thơng nhân

10
1.2.1. Khái niệm và phân loại thơng nhân 10
1.2.1.1.

Khái niệm thơng nhân 10
1.2.1.2.

Phân loại thơng nhân 21
1.2.2. Những nội dung căn bản của quy chế thơng nhân 35
1.2.2.1.

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân kinh doanh phát
triển khu du lịch, điểm du lịch
65
1.3.2.5.

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân kinh doanh dịch vụ
trong khu du lịch, điểm du lịch
66
1.3.3. Điều kiện chấm dứt kinh doanh du lịch 68
1.3.3.1.

Đối với các doanh nghiệp trong nớc 68
1.3.3.2.

Đối với các doanh nghiệp nớc ngoài 71
Chơng 2:
thực trạng quy chế pháp lý của thơng nhân trong kinh
doanh du lịch ở việt nam

74
2.1. Nguồn pháp luật điều tiết kinh doanh du lịch 74
2.2. Thực trạng các quy định pháp luật về vào nghề kinh doanh
du lịch
78
2.3. Thực trạng các quy định pháp luật về kinh doanh du lịch 83
2.4. Thực trạng các quy định pháp luật về chấm dứt kinh doanh
du lịch
87
2.5. Nguyên nhân những khiếm khuyết của quy chế pháp lý đối
với thơng nhân trong kinh doanh du lịch tại Việt Nam

phát triển thị trường du lịch, mở rộng giao lưu thương mại với nước ngoài.
Các qui định pháp luật về thương nhân là điều kiện để thương nhân tiến hành
các hoạt động thương mại của mình phù hợp với sự phát triển chung của nền
kinh tế.
Qui chế pháp lý của thương nhân trong kinh doanh du lịch đã được
các nhà luật học nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, bởi lẽ kinh doanh
du lịch chỉ có thể phát triển khi có một môi trường pháp lý thuận tiện cho các
thương nhân kinh doanh trong lĩnh vực du lịch. Hiện nay, mặc dù Luật Du
lịch đã được ban hành, song vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn
phát triển trong lĩnh vực này. Hàng loạt các văn bản dưới luật và thực tiễn thi
hành luật cần phải xem xét. Vì vậy tôi lựa chọn đề tài "Quy chế pháp lý của
thương nhân trong kinh doanh du lịch tại Việt Nam" làm đề tài cho luận
văn tốt nghiệp cao học luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kinh doanh du lịch là một lĩnh vực mới phát triển trong những năm
gần đây. Đã có một số công trình nghiên cứu không chuyên pháp lý về lĩnh

6
vc ny, song cha cú mt cụng trỡnh no nghiờn cu mt cỏch h thng,
chuyờn bit v y v vn ny, trong khi thc tin ũi hi phi hon
thin ch nh ny mt cỏch bc bỏch. Chớnh vỡ vy, õy l ti u tiờn
nghiờn cu qui ch thng nhõn trong lnh vc du lch cp lun vn thc
s lut hc.
3. Mc tiờu v nhim v nghiờn cu
Lun vn tp trung nghiờn cu cỏc vn lý lun v quy ch phỏp lý
ca thng nhõn trong kinh doanh du lch ti Vit Nam. ỏnh giỏ thc tin
cng nh hiu qu ca cỏc qui nh phỏp lut i vi lnh vc ny, v nờu lờn
nhng kin ngh cú th ỏp dng trong vic hon thin phỏp lut v quy ch
phỏp lý ca thng nhõn trong kinh doanh du lch.
4. Phng phỏp nghiờn cu

Vit Nam. Tuy nhiờn cho n nay, khụng ch Vit Nam, nhn thc v ni dung
du lch vn cha thng nht. Trc thc t phỏt trin ca ngnh du lch cỏc nh
kinh t, cỏc chuyờn gia nghiờn cu v du lch vn a ra nhiu quan im khỏc
nhau v khỏi nim du lch. Phỏp lnh Du lch nh ngha: "Du lch l hot ng
ca con ngi ngoi ni c trỳ thng xuyờn ca mỡnh nhm tha món nhu cu
tham quan, gii trớ, ngh dng trong mt khong thi gian nht nh". Lut Du
lch nm 2005 quan nim: "Du lch l cỏc hot ng cú liờn quan n chuyn i
ca con ngi ngoi ni c trỳ thng xuyờn ca mỡnh nhm ỏp ng nhu cu
tham quan, tỡm hiu, gii trớ, ngh dng trong mt khong thi gian nht nh".
Vic lm rừ v thng nht cỏc ni dung c bn trong khỏi nim v du
lch cú ý ngha quan trng, nú giỳp cho cỏc nh lm lut, cỏc nh kinh doanh
hiu mt cỏch rừ rng trong quỏ trỡnh nghiờn cu lut v u t trong kinh
doanh. Bi du lch khụng ch l mt ngnh kinh doanh m cng l mt hin
tng xó hi.
Vy kinh doanh du lch l vic thc hin liờn tc mt, mt s hoc tt c
cỏc cụng on ca quỏ trỡnh u t, cung ng dch v du lch. ỏp ng nhu cu
tham quan, tỡm hiu, gii trớ, ngh dng ca con ngi ngoi ni c trỳ thng
xuyờn ca mỡnh trong khong thi gian nht nh, nhm mc ớch sinh li.

8
Theo Điều 38 của Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội Việt Nam
ban hành năm 2005: Kinh doanh du lịch là kinh doanh dịch vụ bao gồm các
ngành nghề sau đây:
- Kinh doanh lữ hành;
- Kinh doanh lưu trú du lịch;
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch;
- Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch;
- Kinh doanh dịch vụ du lịch khác.
Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu du lịch, đòi
hỏi cần phải có các loại hình du lịch tương ứng. Vai trò cụ thể của từng loại

vật chất ngày càng được cải thiện tốt hơn, con người có điều kiện chăm lo đến
đời sống tinh thần nhiều hơn, số người đi du lịch ngày càng tăng nhanh. Cùng
với sự phát triển của hoạt động du lịch, sự cạnh tranh của các cơ sở lưu trú
nhằm thu hút ngày càng nhiều khách và nhất là những khách có khả năng
thanh toán cao đã làm tăng tính đa dạng của hoạt động kinh doanh lưu trú.
Ngoài các hoạt động chính nói trên thì điều kiện cho những cuộc hội họp, các
mối quan hệ, cho việc chữa bệnh, vui chơi giải trí ngày càng tăng nhanh.
Theo đó, kinh doanh dịch vụ lưu trú được bổ sung thêm các dịch vụ giải trí,
thể thao, y tế, dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, dịch vụ giặt là…
3. Kinh doanh vận chuyển khách du lịch (Transportation)
Đặc trưng nổi bật của hoạt động du lịch là sự dịch chuyển của con
người từ nơi này đến nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ, thường
với khoảng cách xa. Do vậy, khi đề cập tới hoạt động du lịch nói chung, đến
hoạt động kinh doanh du lịch nói riêng không thể không đề cập tới hoạt động
kinh doanh vận chuyển khách du lịch. Kinh doanh vận chuyển khách du lịch
là hoạt động kinh doanh, nhằm giúp khách du lịch dịch chuyển từ nơi cư trú

10
thường xuyên của mình đến điểm du lịch cũng như là vận chuyển cho khách
du lịch theo tuyến du lịch, theo chương trình du lịch và tại các khu du lịch.
Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh này có nhiều phương tiện khác
nhau như ô tô, tầu hoả, máy bay, tàu thuỷ… Thực tế cho thấy, ít có doanh
nghiệp du lịch nào có thể đảm nhiệm toàn bộ việc vận chuyển khách du lịch
từ nơi cư trú thường xuyên của họ đến điểm du lịch và tại điểm du lịch.
4. Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch
Khu du lịch, điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn. Kinh
doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch bao gồm đầu tư nâng cấp, bảo tồn
các tài nguyên du lịch đã có. Khai thác các tài nguyên du lịch tiềm năng, đầu
tư phát triển khu du lịch, điểm du lịch mới. Kinh doanh xây dựng kết cấu hạ
tầng du lịch, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch. Khu du lịch, điểm du

trình công nghệ khác nhau.
- Sản phẩm của hoạt động kinh doanh du lịch phần lớn là những sản
phẩm dịch vụ mang tính vô hình. Vì thế việc quản lí và đánh giá chất lượng
chất lượng sản phẩm rất khó khăn nó phụ thuộc nhiều vào trạng thái tâm lý
cũng như kì vọng của khách du lịch.
- Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch, dịch vụ diễn ra đồng
thời, trong cùng một địa điểm. Do đó, sản phẩm du lịch không thể tồn kho, cất
giữ như các sản phẩm hàng hoá thông thường khác.
1.1.3. Sự cần thiết xây dựng qui chế pháp lý của thương nhân
trong kinh doanh du lịch
Du lịch Việt Nam đang phát triển nhanh chóng thu hút sự tham gia
của nhiều tổ chức cá nhân và cộng đồng dân cư, nhiều loại hình dịch vụ mới
ra đời, sự cạnh tranh trong nước và khu vực ngày càng trở nên gay gắt. Thực
hiện chủ trương của Đảng phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của
đất nước, yêu cầu ban hành một quy chế pháp lý trong kinh doanh du lịch rõ
ràng minh bạch, giảm bớt các thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý thông
thoáng, công bằng và các chính sách ưu đãi để đảm bảo:

12
- Thu hút được được nhiều nhà đầu tư trong nước và quốc tế tham gia
đầu tư và phát triển du lịch
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển được kinh tế đất nước
- Phát triển và bảo vệ được tài nguyên du lịch
- Củng cố và phát triển giao lưu quốc tế
Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2007:
- Khách du lịch quốc tế ước đạt 4,2 triệu lượt, tăng 17,2 % so với năm 2006.
- Khách du lịch nội địa ước đạt 19,2 triệu lượt, tăng 9,7% so với năm 2006.
- Thu nhập xã hội về du lịch năm 2007 đạt 56 nghìn tỷ đồng, tăng
9,8% so với năm 2006.
- Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển với nhịp độ tăng trưởng

hội hoá trong lĩnh vực du lịch được đảm bảo bằng các chính sách khuyến
khích mọi tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển du lịch khuyến khích dân cư
tham gia hưởng lợi từ hoạt động du lịch, du lịch được sử dụng như công cụ
hữu hiệu để xoá đói, giảm nghèo.
Xây dựng qui chế pháp lý để xác định nội dung phù hợp với tình hình
phát triển hiện nay. Cụ thể, bổ sung ngành nghề kinh doanh phát triển khu du
lịch, điểm du lịch nhằm khuyến khích việc tôn tạo, xây dựng khu du lịch,
điểm du lịch mới nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của du
khách, bổ sung quy định về đại lý lữ hành, hợp đồng lữ hành; các quy định về
đảm bảo an toàn, an ninh, cứu hộ, cứu nạn, bảo hiểm du lịch và giải quyết các
yêu cầu kiến nghị của khách du lịch sẽ giúp khách yên tâm hơn khi đi du lịch,
nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng của các dịch vụ du lịch, đảm bảo
quyền lợi của khách du lịch.
Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam được bầu là thành viên không
thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế được nâng cao đã mở ra những vận hội to lớn cho đất nước.

14
Việt Nam tiếp tục được thế giới đánh giá là một đất nước ổn định, hoà bình,
một điểm đến an toàn, thân thiện. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
trong lĩnh vực kinh doanh du lịch có ý nghĩa quan trọng, tạo môi trường pháp
lý ổn định cho các hoạt động du lịch, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về
du lịch trong bối cảnh du lịch Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng, toàn
diện với khu vực và thế giới. Thực hiện những cam kết với WTO trong lĩnh
vực dịch vụ du lịch yêu cầu cần xây dựng các văn bản pháp luật và các văn
bản có liên quan điều chỉnh phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện để du
lịch hội nhập toàn diện vào thị trường quốc tế. Thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài và thuận tiện cho khách nước ngoài đến Việt Nam.
1.2. KHÁI LUẬN VỀ THƯƠNG NHÂN VÀ QUI CHẾ PHÁP LÝ CỦA

mại Pháp, Bộ luật Thương mại Czech cho rằng: "Hành vi thương mại (được
xem như hành vi của thương nhân) được hiểu là một hoặc do các thương nhân
tiến hành một cách độc lập với danh tính của mình và tự chịu trách nhiệm
nhằm mục đích kiếm lợi nhuận" [15].
Cách định nghĩa của Czech chính là dựa vào tiêu chí chủ thể để đánh
giá một hành vi thương mại. Với cách định nghĩa như thế, hành vi thương mại
lệ thuộc rất nhiều vào chủ thể thực hiện hành vi. Điều này có nghĩa là mọi
hành vi do thương nhân thực hiện vì mục tiêu lợi nhuận đều được coi là hành
vi thương mại. Xin lưu ý rằng ngoài ra còn có nhiều trường hợp đặc biệt khác
chẳng hạn như thương nhân thực hiện một hành vi không trực tiếp sinh lời,
nhưng lại phục vụ cho hoạt động thương mại khác của anh ta. Hoặc có những
loại hành vi không cần thiết phải do thương nhân thực hiện mới được coi
hành vi thương mại như hành vi lập hối phiếu, hành vi khai thác mỏ
Cách định nghĩa hành vi thương mại dựa vào tiêu chí bản chất của
hành vi có thể nói là cách định nghĩa phổ biến hiện nay. Theo đó, hành vi
thương mại không còn lệ thuộc nhiều vào chủ thể thực hiện hành vi nữa

16
Chúng được liệt kê, được gọi tên ra một cách độc lập bất kể đến việc chúng
có phải do một thương gia thực hiện hay không.
Ban đầu, các nhà làm luật đưa ra một số hành vi được coi là mang tính
bản chất thương mại, mặc định chúng là các hành vi thương mại và quy định
trong các đạo luật thương mại, "hành vi thương mại là những hành vi chế tạo,
lưu chuyển, trung gian có mục đích kiếm lời trực tiếp hay gián tiếp, trừ những
ngoại lệ luật định" [24, tr. 25].
Về sau, các hành vi thương mại theo cách liệt kê có hạn định nêu trên
bộc lộ những nhược điểm của nó, đó là khi thực tế thương mại xuất hiện thêm
nhiều loại hành vi thương mại khác với hành vi quy định trong luật. Vì thế sự
liệt kê có hạn đó đương nhiên trở thành vật cản làm hạn chế sự phát triển của
hoạt động thương mại cũng như phạm vi điều chỉnh của luật thương mại đối

do thương gia thực hiện; 2) hành vi phải được làm vì nhu cầu thương mại [21].
Không có sự phân biệt rõ ràng giữa hành vi thương mại và hành vi
dân sự.
Theo quy định của pháp luật một số quốc gia, hành vi thương mại là
một trong những yếu tố làm cơ sở để xác định tư cách thương gia của một chủ
thể tham gia thực hiện các hoạt động thương mại. Ví dụ, Bộ luật Thương mại
Pháp và Bộ luật Thương mại Trung kỳ có quy định: "Thương nhân là những
người làm những hành vi thương mại và lấy những hành vi đó làm nghề
nghiệp của mình".
Bản thân hành vi thương mại rất phức tạp, cho nên các mối quan hệ,
các lợi ích có liên quan của những người có liên quan được xác lập thông qua
các hành vi này là những vấn đề nhạy cảm hơn so với những quan hệ dân sự.
Để thuận lợi cho việc kiểm soát của nhà nước đối với hoạt động này, cần phải
xác định thế nào là hành vi thương mại, rồi tập hợp chúng lại dưới sự điều
chỉnh của một hệ thống các quy phạm pháp luật.
Theo Điều 632 của Bộ luật Thương mại Pháp thì các hành vi thương
mại do bản chất có hai loại là hành vi thương mại ngay cả khi chúng được
thực hiện một cách riêng rẽ, và hành vi chỉ được coi là thương mại khi nó
được thực hiện thông qua một doanh nghiệp [18, tr. 20-24].

18
Các hành vi thương mại riêng rẽ bao gồm:
- Việc mua động sản để bán lại không kể tới việc có gia công, sửa
chữa, hoàn thiện hoặc làm tăng thêm giá trị hay không;
- Việc mua bán bất động sản để bán lại hoặc mua để xây dựng lại rồi
bán toàn bộ hay từng phần;
- Hoạt động làm trung gian để mua hoặc bán các bất động sản, cơ sở
kinh doanh, cổ phần của công ty kinh doanh bất động sản;
- Hoạt động môi giới thương mại;
- Hoạt động ngân hàng hay hối đoái;

a. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b. Có những am hiểu trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cần thiết;
c. Có đủ các điều kiện vật chất khác như: số vốn tối thiểu tương ứng,
tài sản, thiết bị kỹ thuật;
d. Tìm kiếm được thị trường.
Trong khi điều kiện a là đòi hỏi pháp lý, thì điều kiện b, c, d là do
thương nhân kiểm nghiệm trên thực tế. Một chủ thể không có đủ điều kiện tối
thiểu như vậy sẽ không thể tồn tại được trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt
và sẽ bị thương trường tự đào thải.
Bộ luật Thương mại Nhật Bản xác định những người thực hiện các
giao dịch thương mại như một nghề nghiệp nhân danh bản thân mình, những
người bán hàng như một nghề nghiệp trong các cửa hàng hoặc ở những nơi
tương tự hoặc những người làm nghề khai mỏ, thậm chí không tham gia các
giao dịch thương mại như một nghề nghiệp và những công ty được thành lập
theo Bộ luật Thương mại đều được coi là thương nhân, theo qui định này thì
hành vi khai thác mỏ luôn được coi là hành vi thương mại. Vì vậy, bất kể ai
thực hiện hành vi này đều được coi là thương nhân. Cũng theo điều luật này

20
thì những người chuyên thực hiện hành vi thương mại luôn được coi là thương
nhân chia thành hai nhóm: thương gia thể nhân và thương gia pháp nhân.
Bộ luật Thương mại Nhật Bản còn cho rằng, các giao dịch do thương
nhân thực hiện nhằm mục đích nghề nghiệp cũng là các hành vi thương mại
(Điều 503).
Luật Thương mại của Đức quan niệm công ty thương mại là các thương
nhân bởi hình thức - bất kỳ một thực thể nào được thành lập dưới hình thức
công ty thương mại đều được xem là thương nhân hoặc bất kỳ hành vi nào
nhằm thành lập một công ty thương mại đều được xem là hành vi thương mại.
Bộ luật Thương mại Cộng hoà Czech mô tả "thương nhân là:
- Người (thể nhân hoặc pháp nhân) được ghi tên vào sổ đăng ký

vậy một chủ thể được coi là thương nhân phải có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất: Các chủ thể phải tồn tại dưới dạng cá nhân, pháp nhân, tổ
hợp tác, hộ gia đình.
Cá nhân được hiểu là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ, không bị pháp luật cấm kinh doanh thương mại.
Pháp nhân là những tổ chức có đủ những điều kiện được pháp luật công
nhận có khả năng tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập (Điều 84
Bộ luật Dân sự). Bộ luật Dân sự phân biệt ít nhất 5 loại pháp nhân khác nhau
trong đó có pháp nhân là các tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, các quĩ xã hội và các tổ chức
khác theo luật định.
Hộ gia đình bao gồm nhiều thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh
doanh là chủ thể trong các quan hệ kinh doanh đó (Điều 106 Bộ luật Dân sự).
Tổ hợp tác là sự liên kết trên cơ sở hợp đồng hợp tác của từ ba cá nhân
trở lên, có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, cùng đóng góp tài sản, công
sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu
trách nhiệm (Điều 111 Bộ luật Dân sự 2005).

22
Cơ cấu chủ thể này được sao chép nguyên vẹn từ Bộ luật Dân sự phù
hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam, nơi mà gia đình và các liên kết đơn giản
giữa những người kinh doanh nhỏ có một vị trí nhất định trong nền kinh tế.
Nhưng muốn trở thành thương nhân thì hộ gia đình và tổ hợp tác sẽ là thương
nhân chứ không phải là các thành viên trong đó.
Thứ hai: Các chủ thể trên chỉ trở thành thương nhân nếu tiến hành các
hoạt động được gọi là hoạt động thương mại.
Các hoạt động thương mại theo Luật Thương mại Việt Nam được qui
định tương đối đơn giản bao gồm ba nhóm:
Hoạt động thương mại mua bán hàng hoá;
Hoạt động thương mại dịch vụ gắn với mua bán hàng hoá;

hiệu như sau:
Một chủ thể hoạt động độc lập là chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp cho
các hành vi của mình, có quyền tự do quyết định nội dung hoạt động hoặc thời
gian làm việc của mình. Vì thế thương nhân khác với công chức, viên chức.
Thứ tư: Các hoạt động thương mại phải được các chủ thể tiến hành
một cách thường xuyên.
Luật thương mại nêu lên điều kiện này song cũng không định nghĩa
thế nào là thường xuyên. Có thể hiểu tính thường xuyên như sau: Chủ thể tiến
hành các hoạt động thương mại trên cơ sở có kế hoạch lâu dài, như một nghề
nghiệp để thu nhập và các hoạt động thương mại đó được tiến hành song song
cùng thời gian và không gian.
Ngoài những điều kiện nêu trên muốn trở thành thương nhân các chủ
thể phải được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Luật thương mại Việt Nam qui định, các chủ thể có đủ điều kiện để
kinh doanh thương mại theo qui định của pháp luật, nếu có yêu cầu hoạt
động thương mại thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh và trở thành thương nhân. Đăng ký kinh doanh
theo luật Việt Nam là một thủ tục bắt buộc, là một sự kiện pháp lý thiết lập

24
tư cách thương nhân. Thiếu điều kiện này thì các chủ thể cũng không thể
trở thành thương nhân [20, tr. 54].
Từ việc xem xét khái niệm về thương nhân như trên, ta có thể đưa ra
một số điểm chung nhất về thương nhân như sau:
Thương nhân là những người thực hiện các hành vi thương mại mang
tính chất nghề nghiệp. Tính chất nghề nghiệp được hiểu là chủ thể của hành vi
đó khi tham gia thương trường, họ thực hiện nguyên tắc phân công lao động
xã hội. Họ tìm cách sinh sống bằng loại hành vi đó và hiểu theo nghĩa pháp lý
và quản lý nhà nước, họ được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Sự thừa nhận
của pháp luật trong trường hợp này thể hiện chủ yếu trong việc đăng ký hoạt

kinh tế thị trường, thương nhân là người trực tiếp tiến hành các hoạt động
thương mại với nhiều mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau trong quan hệ
kinh doanh đa dạng giao dịch thương mại ngày càng phức tạp vì vậy yêu cầu
điều chỉnh của pháp luật càng trở nên cấp thiết. Xây dựng các qui định của
pháp luật về thương nhân nhằm:
- Tạo ra môi trường pháp lý bình đẳng cho hoạt động của thương nhân.
- Tạo tiền đề cho thương nhân tiến hành các hoạt động thương mại của
mình phù hợp với sự phát triển chung của nền kinh tế
- Thúc đẩy sự phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ thương mại
- Mở rộng giao lưu thương mại với nước ngoài
- Nghiêm cấm những hành vi đầu cơ, lũng đoạn thị trường, bán phá
giá, vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
Xây dựng hoàn chỉnh pháp luật về thương nhân cũng chính là tiền đề
tạo điều kiện cho các hành vi thương mại được hiện thực hoá trên thương
trường, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thị trường thương mại.
1.2.1.2. Phân loại thương nhân
Từ luật thực định của các quốc gia có thể chia thương nhân thành hai
loại cơ bản là thương gia thể nhân và thương gia pháp nhân.

Trích đoạn Quyền và nghĩa vụ của tổ chức cỏ nhõn kinh doanh lưu trỳ du lịch Quyền và nghĩa vụ của tổ chức cỏ nhõn kinh doanh phỏt triển khu du lịch, điểm du lịch Quyền và nghĩa vụ của tổ chức cỏ nhõn kinh doanh dịch vụ trong khu du lịch, điểm du lịch Đối với cỏc doanh nghiệp trong nước Đối với cỏc doanh nghiệp nước ngoà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status