1 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch là một trong những nhu cầu tất yếu của con người, của xã hội. Một khi
xã hội phát triển thì nhu cầu này càng phong phú và đa dạng. Nhu cầu du lịch thực
chất là nhu cầu văn hóa, bởi đó là nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức những giá trị văn
hóa nghệ thuật thông qua các lọai hình cụ thể như di tích lịch sử, lễ hội, phong tục tập
quán, nghệ thuật ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn… và tìm hiểu những bản sắc văn hoá
của một dân tộc, một địa phương, một quốc gia.
Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế càng phát triển và các quốc gia trên thế
giới ngày càng xích lại gần nhau thì văn hóa dân tộc ngày càng trở thành trung tâm
của sự chú ý. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng một cách chung
nhất ta có thể hiểu văn hóa theo 2 định nghĩa:
• Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt
của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ,
cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ nó đã cấu thành nên
một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó
từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình. (định nghĩa của Unesco).
• Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.(định nghĩa
của PGS.TS Trần Ngọc Thêm)
Như vậy, văn hóa có vai trò, tầm quan trọng vô cùng lớn và tác động đến mọi
mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là đối với ngành du lịch của Việt Nam.
Văn hóa giải quyết vấn đề gia tăng lượng khách du lịch
Hiện nay, có rất nhiều loại hình du lịch: du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du
lịch công vụ, du lịch văn hóa,….Khi sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn về mặt văn hóa
sẽ dẫn đến số lượng khách du lịch đến Việt Nam sẽ tăng lên. Đặc biệt, với loại hình
du lịch văn hóa thì văn hóa chính là động cơ, mục đích của chuyến đí. Hơn thế nữa,
những ấn tượng về văn hóa sẽ làm cho khách du lịch khó quên về chuyến đi của mình
và quay trở lại Việt Nam, và sẽ giới thiệu và quảng cáo những giá trị ấy.
ảnh thương hiệu du lịch Việt Nam. Hình ảnh thương hiệu du lịch quốc gia sẽ đẹp và
ấn tượng hơn trong lòng du khách vì nhân tố văn hóa chứ không phải chỉ vì cơ sở vật
chất hay một logo du lịch đẹp.
Từ những nhận định trên ta có thể thấy được rằng xu hướng du lịch văn hóa
ngày càng phát triển mạnh. Đồng thời yếu tố văn hóa ngày càng được chú trọng trong
vấn đề kinh doanh, đặc biệt trong kinh doanh du lịch.
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
3 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Trong văn hóa Việt Nam thì yếu tố văn hóa tinh thần rất được coi trọng, gắn
với mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là mảng văn hóa nghệ thuật biểu diễn. Nền văn
hóa biểu diễn của Việt Nam rất phong phú như Múa rối nước, hát quan họ, hát ca trù,
… Nhưng thực tế, chỉ có múa rối nước là khá thu hút khách du lịch. Trong dòng chảy
của cuộc sống nhiều biến động, con người sẽ tìm về với những truyền thống tốt đẹp
của tổ tiên, vì thế cần phát triển hơn nữa các loại hình văn hóa nghệ thuật biểu diễn,
mà trong đề tài này tôi xin được đề cập đến nghệ thuật biểu diễn ca trù.
Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định ca trù là một bộ môn nghệ thuât lâu đời,
độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng ca nhạc của người Việt Nam. Ca trù
gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý
sống của người Việt. Do vậy nghiên cứu ca trù cũng là góp phần vào việc nghiên cứu
các giá trị truyền thống trong văn hóa Việt Nam.
Ca trù là một DI SẢN VĂN HÓA ĐẶC SẮC của Việt Nam. Đặc sắc ở sự
phong phú làn điệu, thể cách, cả không gian, thời gian biểu diễn và phương thức
thưởng thức; Đặc sắc còn vì từ cội nguồn nó gắn bó mật thiết với lễ nghi, phong tục,
với sinh hoạt cộng đồng. Ca trù làm người ta nhớ tới những tao nhân mặc khách với
lối chơi ngông, chơi sang, rất tinh tế và giàu cá tính sáng tạo của những danh nhân
như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà…Và cùng với đó là
mối quan hệ giữa văn nhân (nhà thơ, nhà báo, họa sĩ) với Ả đào - mối quan hệ quan
trọng nhất của lối thưởng thức ca trù. Bởi quá trình tham gia sinh hoạt ca trù là quá
trình văn nhân sáng tạo, thể nghiệm và thưởng thức các tác phẩm của mình.
Sau năm 1945, trong một thời gian khá dài sinh hoạt ca trù vốn tao nhã và
- Giá trị và khả năng phát triển của ca trù.
- Biết được thực trạng ca trù hiện nay
- Biết được thực trạng ca trù trong kinh doanh du lịch
- Đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài để bảo tồn và phát triển ca
trù, đưa ca trù vào kinh doanh du lịch.
3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận của ca
trù, và hoạt động ca trù trong kinh doanh du lịch.
- Phạm vi không gian: Tại điểm du lịch Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: 01/03/2010 – 12/05/2010
3.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin và xử lý dữ liệu.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp liên ngành.
- Phương pháp phỏng vấn điều tra
4. Bố cục chuyên đề
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
5 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Chương 1: Tổng quan về ca trù và khả năng khai thác ca trù để phát triển du lịch.
Chương 2: Thực trạng hoạt động ca trù của ca trù để phát triển du lịch tại Hà Nội.
Chương 3: Các giải pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát triển ca trù trong kinh
doanh du lịch tại Hà Nội.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện chuyên đề
Nguyễn Thị Hoa
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ CA TRÙ VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC
CA TRÙ ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
cửa đình, hát nhà trò (hát ở đình, đền, miếu), hát cửa quyền (trong cung phủ), hát nhà
tơ (hát ở dinh quan, tư gia các gia đình quyền quý), hát ả đào, hát cô đầu (hát ở các ca
quán)...
Ca trù đã để lại những dấu ấn sâu đậm về đời sống tinh thần của con người
Việt nam xưa. Theo một số nhà nghiên cứu: ca trù có thể có từ thời Triệu đà, thời Lý,
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
7 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Trần và hưng thịnh từ Triều Lê, được bắt nguồn từ những lối ca vũ trong cung vua
chúa thời xưa. Ca vũ của ta một phần chịu ảnh hưởng của ca vũ Trung Quốc, một
phần chịu ảnh hưởng của điệu múa Chiêm Thành và của các rợ do các cuộc chinh
phục thời Lý, Trần du nhập vào.
Tương truyền vào thời vua Lý Thái Tổ ( 1010 – 1028) đã từng có một ca nhi
hát hay múa giỏi tên là Đào Thị biểu diễn xuất sắc dòng nhạc này và rất được vua
khen ngợi. Người thời đó mộ danh tiếng của Đào Thị nên cứ phàm là con hát thì đều
gọi là “Ả đào”. Vì vậy nên từ những ngày đầu ca trù được biết đến với cái tên hát ả
đào.
Tuy vậy, ca trù lại có cội nguồn từ lối hát cửa đình - một lối hát tín ngưỡng
thờ thành hoàng làng. Lối hát cửa đình từ những ngày đầu được các trưởng tộc,
trưởng làng dùng vào việc cầu trời đất, thánh thần. Lấy âm nhạc làm tín hiệu truyền
lời thỉnh cầu của dân làng đến các đấng thần linh. Do đó, ca trù gắn liền với nghi thức
tế thần ở các đình làng, ngoài những điệu hát còn có các nghi lễ với vũ điệu và cả các
cách thi tuyển tại đình làng trong dân gian nên các lề lối biểu diễn ca trù được gọi là
thể cách. Thể cách ca trù vừa bao gồm làn điệu, vừa bao gồm các hình thức diễn
xướng khác như múa, biểu diễn kỹ thuật nghề (đàn, trống). Trong 49 tài liệu Hán
Nôm có liên quan đến ca trù được khảo sát trong có 8 bản mang tên Ca trù thể cách.
Các học giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề trong sách Việt Nam ca trù biên khảo
cũng gọi là các thể ca trù. Về sau, các bậc vua chúa cũng lấy dòng nhạc này để hát
cúng trời đất và tổ tiên nơi thái miếu.
Theo như dân gian truyền miệng thì vào đời nhà Lê, Đinh Lễ - tự là Nguyên
Sinh, người làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con nhà gia thế, tính tình
đã được sự nghiên cứu chỉnh sửa của các chuyên gia về âm luật trong chốn cung đình
nên đã trở thành một bộ môn nghệ thuật sâu sắc, có tính thẩm mỹ cao. Thường được
dùng trong các dịp yến tiệc, khánh tiết và tiếp đãi sứ thần.
Theo nhiều nguồn sử liệu thì từ xa xưa, giáo phường ca trù (ả đào) là một tổ
chức xã hội nghề nghiệp có tính thống nhất, được Nhà nước phong kiến công nhận và
đặt định một chức sắc trông coi giáo phường - gọi là quản giáp. Ca trù có mặt ở nhiều
tỉnh miền bắc, đến tận Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, trung bình cứ mỗi huyện có
vài làng ả đào. Các làng lại liên kết với nhau để hợp nhất thành từng giáo phường có
tên gọi riêng, chia nhau chấn giữ các cửa đình, cửa đền trên địa bàn huyện để kiếm kế
sinh nhai. Trong giáo phường, người quản giáp (còn gọi ông trùm hàng huyện) chịu
trách nhiệm trông coi, sắp đặt mọi việc. Ðây là chức vị được chính những người làm
nghề trong giáo phường bầu chọn, phải là một kép đàn có đủ tài đức song toàn. Dưới
ông ta là hội đồng các ông trùm họ (còn gọi là ông trùm cửa đình). Mọi việc làm ăn
đều được phân chia rõ ràng, không bao giờ có chuyện lấn sân, tranh giành quyền lợi.
Xưa, giáo phường được xem như một tổ chức rất ổn định, người trong giáo phường
có những luật tục riêng, duy trì mối quan hệ nghề nghiệp, yêu thương đùm bọc lẫn
nhau.
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
9 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Từ khi Thăng Long không còn là kinh đô nữa, dòng nhạc ca trù ngoài phần
làm hát cúng, mang tính chất linh thiêng thì ca trù vẫn được những gia đình quan lại
và những bậc hào hoa kẻ sĩ trong các Phường, Hội trên đất cố đô ưa chuộng.
Dòng nhạc ca trù ở đất Hà Thành vẫn phát triển theo nhịp sống riêng của nó.
Chỉ mới nói sơ đến địa văn hóa của giáo phường, đã thấy được cả nghìn năm lịch sử
của nghệ thuật ca trù Việt Nam. Từ không gian cung đình đến nơi thôn dã, từ môi
trường nghi lễ tín ngưỡng đến nơi bầu rượu, túi thơ tri âm tri kỷ, ở đâu cũng thường
có sự hiện diện của ca trù. Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, có thể
khẳng định tính kinh điển mẫu mực của loại hình nghệ thuật đặc biệt này. Nhưng vào
đầu thế kỷ XX , lối ăn chơi của người phương Tây đã tràn vào Việt Nam, cả Hà Nội
và các tỉnh thành lân cận rộ lên cơn sốt đào rượu. Các quán cô đầu thi nhau mọc lên
đã dẹp nạn đào rượu nhưng do giận cá chém thớt, người dân Hà nội nói riêng và
người dân cả nước nói chung cũng ác cảm lây với lối hát ca trù. Một hoạt động nghệ
thuật của giới nghệ sĩ đã bị đánh đồng với điều xấu xa như là tàn dư của chế độ
phong kiến. Ðể rồi ca trù dần dà biến mất khỏi đời sống nghệ thuật của người Việt,
chấm dứt vị trí hàng đầu của môn nghệ thuật đã có nghìn năm lịch sử. Nếu tính từ
nửa cuối thế kỷ 20 đến nay, đã ngót 60 năm trôi qua, âm nhạc ca trù chỉ còn là ký ức
của một thời. Các nghệ sĩ tài danh lần lượt nối gót về cõi vĩnh hằng. Các đào nương,
kép đàn đã từng một thời vang bóng cũng dấu phách, dấu đàn chỉ muốn giấu nghề,
mai danh ẩn tích, vì không chịu nổi điều tiếng thế gian và không dám nhắc đến hai từ
ca trù nữa. Cũng có người chuyển qua làm nghề khác, thi thoảng tụ họp để nhớ về
một thuở hoàng kim. Dòng nhạc này cũng từ đó bị lãng quên và mất dần. Sự mai một
của ca trù đã nghiêm trọng đến mức giờ đây, khi tái tạo, phục dựng trong đời sống
âm nhạc đương đại, phần lớn công chúng không khỏi ngỡ ngàng bởi nó quá xa lạ.
Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát là người có công đầu tiên trong việc tuyên truyền
giá trị nghệ thuật của ca trù.
Năm 1976, Giáo sư Trần Văn Khê ở Pháp về đã tìm và thu băng giọng hát của
bà Quách Thị Hồ và đem đi giới thiệu với thế giới. Năm 1978, Hội đồng âm nhạc
quốc tế của Unesco và Viện nghiên cứu quốc tế về âm nhạc đã trao bằng danh dự cho
bà vì công lao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn âm nhạc truyền thống có giá trị
văn hoá nghệ thuật cao.
Năm 1977, mới bắt đầu thấy lác đác sống dậy làn điệu ca trù qua sóng của Đài
Tiếng Nói Việt Nam.
Năm 1988, tại liên hoan tiếng hát âm nhạc truyền thống tại Bình Nhưỡng với
sự tham gia của 29 quốc gia, băng ghi âm tiếng hát của bà Quách Thị Hồ đã đại diện
cho Việt Nam được xếp thứ hạng cao nhất.
Và đến năm 1991, với sự nỗ lực của đào nương Lê Thị Bạch Vân câu lạc bộ
ca trù Hà Nội ra đời và theo sau đó là một vài câu lạc bộ nhỏ lẻ tiếp bước thế nhưng
tất cả đều chỉ dừng lại ở mức độ hoạt động tự phát.
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
11
cả năm cung, bảy thanh”. (Vũ trung tùy bút).
Âm luật ca trù, với những cung bậc đàn hát còn lại đến nay, chững tỏ rõ rang
điều đó với sắc thái dân tộc rõ rệt và nhiều điểm sáng tạo độc đáo trong việc vân
dụng năm âm căn bản. Âm luật ca trù có năm cung chính:
- Cung Nam: Điệu nhanh, hơi trong, nhưng bằng phẳng và xuống thấp.
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
- Cung Bắc: Điệu khoan, hơi đục, nhưng rắn rỏi và lên cao.
- Cung Huỳnh: Điệu xúc, ngặt, hát dính vào nhau, giọng rất trong.
- Cung Pha: Trong với đục pha lẫn, hơi ai oán, giọng hát chệch đi, lơ lớ.
- Cung Nao: Điệu chênh chênh, đục ở dưới, trong ở trên, đang ở cung nọ
chuyển sang cung kia, cung Nao chen vào giữa (gọi là nửa cung).
Những tên gọi năm cung: Nam, Bắc, Huỳnh, Pha, Nao với định nghĩa các
cung như trên hoàn toàn là do nghệ nhân kể lại, qua kinh nghiệm thực tiễn đàn, hát cổ
truyền.
Hát ca trù thời cổ có cả một dàn nhạc lớn. Sách cổ cho biết ở giáo phường có:
Một phách lớn bằng tre già, hình dẹt, dài 3 – 4 thước, khi các nhạc công đứng vào vị
trí rồi, thì 1 ả đào già ngồi gõ phách cầm nhịp cho các buổi hòa tấu. Các nhạc khí
khác gồm: sáo, tiêu, đàn đáy, trống cơm, sinh tiền, sênh, trống mảnh, …
- Hát trong cung đình có trúc sinh (đàn khô) giống như cái thùng vuông trên có
từng miếng tre già ken vào nhau, gõ bằng dùi cầm nhịp. Có đàn tranh, đàn
chin dây, đàn cổ cầm, kèn các loại hòa theo. Dàn nhạc ca trù thời cổ lớn như
vậy.
- Hát Cửa Đình nông thôn thời cận đại chỉ còn một số nhạc khí bát âm và đàn
đáy, phách, sênh, chiêng, trống.
- Hát ca quán, thính phòng càng đơn giản hơn, chỉ gồm có một người hát và 3
nhạc khí: đàn, phách, trống (trống con).
1.2.2. Tiếng hát và cách hát ca trù:
Hát ca trù là một lối hát rất khó. Để thực hiện được các cung chính và biến
vành rõ chữ, không một tiếng hát nào thừa ra ngoài đàn. Hát Cửa Đình tế thần,
giỗ tổ phải hát khuôn thật giỏi.
- Hát hàng hoa là hát theo tính cách tài tử, phóng khoáng, nơi lỏng phần nào về
khuôn bậc, tiếng hát ít công phu hơn hát khuôn. Nhưng hát hàng hoa cũng có
những cái hay của nó với tính chất phóng khoáng, luôn luôn sáng tạo.
Dù là hát khuôn hay hát hàng hoa, người đào nương đều phải đảm bảo các tiêu
chuẩn nghệ thuật dưới đây:
- Hát hay:
• Quán: Ăn nhịp với đàn phách, không chệch choạc
• Xuyến: tiếng hát tròn trĩnh, mượt đẹp, vững vàng.
• Dằn: tiếng hát tròn và đều.
• Thét: tiếng vút cao như suối vọt lên cao.
• Khuôn: tiếng tròn phẳng, đúng khuôn bậc.
• Rẫy: tiếng hát rền, giòn.
• Diệu: tiếng bắt tự nhiên, linh hoạt.
• Vỡi: cao vút, trong sáng.
- Hát kém:
• Lỏi: chệch, sai đàn phách.
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
• Ngang: không đúng cung bậc.
• Cản: sai bằng trắc của chữ trong câu hát.
• Chặn: hát thấp, không lên được.
• Hụt: hát trước nhịp.
• Sa: hát sau nhịp.
Hát đúng cung bậc là để đảm bảo về Nhạc. Để đảm bảo diễn cảm ý thơ, tình
thơ, thì đào nương còn phải hát đúng lời thơ, bên cạnh việc học thuộc các bài thơ thì
người hát ca trù còn phải hiểu được ý thơ, nội dung bao trùm của các bài thơ một
cách trọn vẹn nhất. Hát nói có thể nói là thể hát ca trù phổ biến nhất của ca trù, chủ
• Khổ lá đầu: Sau khổ rải đến khổ lá đầu. Khổ này thường gõ trước câu
hát, nhưng cũng có lúc gõ trong câu hát như ở hát Mưỡu hay Gửi thư.
Sau những khi ngâm Sa mạc, để hát sang Tỳ bà thì gõ phách rung.
Hát khổ nào dóc cho thành khổ ấy thì gõ phách dóc.
Hát khoan hát rải thì gõ phách thưa.
Hát dồn, hát dựng, hát khổ xếp thì gõ phách mau.
Khổ phách phải không thiếu, không thừa, quyện với tiếng hát, tiếng đàn làm
một. Nhưng không phải bén, quyện một cách thụ động, mà tùy theo ý thơ, tình thơ,
tiếng phách khi mau, khi thưa, róc rách như suối reo, ríu ran như chim hót, đồng ca
theo tiếng hát của đào nương, càng nổi bật trong những quãng không hát, chỉ có
phách gõ như “khổ siết”. Chưa nghe hát chỉ nghe phách đã có thể biết trình độ người
hát rồi.
Tiếng phách giòn lắng xa…câu hát của nhạc sĩ Văn Cao trong bài Thiên Thai
chính là tiếng phách ca trù. Ả đào muốn hát hay thì gõ phách phải giỏi, phải “sắc
tay”. Trong các kì thi “chầu cử”, “chầu cầm”, ả đào hát hay đáng bậc thủ khoa mà
phách nhụt thì cũng bị hạ xuống á nguyên như trường hợp mẹ bà Quách Thị Hồ thời
xưa. Năm 1984, một số nhạc sĩ của Hội âm nhạc Việt Nam đến gặp bà Phẩm – tay
phách số một của ấp Thái Hà 50 năm trước đây, tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa, xứng đáng với tiếng đồn “Phách Phẩm” bao thời
lẫy lừng.
1.2.3.2. Đàn đáy:
Đàn đáy ra đời có thể là vào đời Lê, như các thần phả Tổ ca trù đã nói. Trong
thư tịch đời Lê để lại có cây “Đới cầm” tức là cây đàn đeo vào người để đứng mà
gẩy cho đỡ mỏi. “Đới” còn có nghĩa là “đái”, gọi chệch ra là “đáy”.
Người kép gảy cây đàn đáy thùng vuông rọc dài. Cây đàn đáy có một chiếc
cần đàn dài 1m20, và 3 dây to, nhỏ khác nhau: dây đài (to), dây trung (vừa), và dây
tiểu (nhỏ). Nhiều nơi gọi dây đài là dây hàng, và có 11 phím.
Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát nói về quan hệ hòa tấu giữa cây đàn đáy và tiếng
phách và tiếng hát như sau: “Khi hòa tấu thì đàn ghìm với giọng hát, nhưng tiết tấu
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
quanh đi quẩn lại, mà vẫn đàn bài nào ra bài ấy, không như các loại đàn khác, mỗi
điệu hát là một bản đàn khác nhau.
1.2.3.3. Trống chầu
Kép gảy đàn, cô đầu gõ phách và hát, còn quan viên thì đánh trống. Tiếng
trống chầu là điểm độc đáo nhất của nghệ thuật ca trù. Bởi vì người đánh trống, hòa
tấu với đàn, phách và tiếng hát không phải là nhạc công mà chính là người khách –
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
người quan viên (cũng gọi là cầm chầu) mất tiền thuê đàn hát. Trong lối hát cửa đình,
người cầm chầu đánh trống lớn là tiên chỉ, hoặc thứ chỉ, những người chức sắc, vai
vế nhất làng. Ở ca quán, thính phòng, nhà tư, người cầm chầu ở mọi tầng lớp: quan
lại, công chức, nhà nho, nhà văn, nhà buôn,… Nhưng bất cứ ai, nếu đàn, hát hay mà
trống chầu bập bõm, đánh không đúng phép tắc hoặc thô tục thì cả chầu hát nhạt nhẽo
hẳn đi vì không đảm bảo tính nghệ thuật, chất thơ, chất nhạc.
Trống chầu phải làm các việc: ngắt mạch câu văn, khổ phách, khen câu thơ
hay, tiếng đàn, tiếng hát tài tình. Vì vậy, người cầm chầu vừa phải am hiểu nghệ thuật
ca trù, sành nghe đàn, hát, phách, vừa phải có trình độ văn hóa hiểu văn chương, có
tâm hồn thơ. Người ta ví người đánh trống như quan trường, người hát như học trò đi
thi: văn chương phải theo ý quan trường; người đánh trống như tướng cầm quân,
người hát như quân lính ra trận: tiến thoái phải theo lệnh ông tướng điều khiển.
Trống Cửa Đình là trống lớn, như trống trường thời xưa. Dùi lớn bằng gỗ.
Trống có chiêng kèm theo với nguyên tắc trống phải đánh trước khi phách ngắt nhịp
để chiêng điểm vào đúng phách. Đàn, hát hay thì thưởng bằng những chiếc thẻ tre
hoặc gỗ sơn son, mỗi thẻ có quy định là bao nhiêu tiền, để cộng lại trao cho đào kép
sau chầu hát.
Trống ca quán, thính phòng là loại trống nhỏ, cao 22cm, mặt trống rộng 20cm.
Roi bằng gỗ nguyệt quí, gỗ khổng, hoặc gỗ duối, gỗ găng, dài khoảng 36cm, gọi là
“roi chầu”. Roi chầu đánh vào mặt trống thành tiếng “tom”, đánh vào tang trống
thành tiếng “chát”.
Phép đánh trống chầu.
Trong một cuộc hát ca trù, người cầm chầu điều khiển hoàn toàn việc đàn hát
bằng roi chầu, không phải dùng đến lời nói. Nhưng vì ca trù là lối chơi thưởng thức,
nhạc thơ tao nhã, nên phong cách cầm chầu cũng phải rất tao nhã, rất thơ. Từ cách
thức cầm roi, đánh trống, đến thưởng đàn, thưởng hát đều có quy định:
- Không để trống trước mặt mình mà đặt chếch sang trái, cách đầu gối
khoảng 15 – 20 cm (nếu ngồi trên chiếu)
- Cầm roi một cách nhẹ nhàng, ngửa bàn tay giơ roi lên, rồi đảo úp bàn tay
đập roi xuống mặt trống.
- Trước khi đánh trống phải đè một phần bàn tay trái xuống mặt trống để
xem thử tình hình mặt trống căng hay chùng để xử lý âm thanh cho chuẩn.
Nếu mặt trống tốt thì đánh lối “phóng diện” tức là không bịt mặt trống. Nếu
mặt trống chùng hoặc mới bưng, mới hơ lửa, quá căng thì đè bàn tay trái lên
mặt trống mà đánh. Trống mới thì đè gần mặt, trống cũ thì đè xa mặt. Tuyệt
đối không cầm roi chầu đánh thử hết mặt trên đến mặt dưới, như thế là tỏ ra
trình độ đánh trống còn thấp kém.
Tiếng trống đánh phải thanh tao, rắn rỏi, tròn trĩnh, xinh xắn, đều đặn. Không
được lập cập, do dự, hấp tấp, lỡ cỡ với đàn phách.
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
19
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Tiếng “chat” gõ vào tang trống rất quan trọng. “Chát” để khen thưởng, “chát”
để thau cho cả một khổ trống để giảm tiếng động khi cần thiết trong những bài hát
cần thưởng văn là chính, ít đánh trống. Trống phải vụ về tinh thần mới tuyệt diệu,
nếu hay về hình thức thì chỉ là người theo lề lối, đúng đàn, đúng phách, chớ không có
ý nhị gì. Người ta nói: văn là người, tiếng trống cầm chầu cũng vậy. Bậc quân tử
tiếng trống đĩnh đạc, người giang hồ tiếng trống ly kỳ bay bướm, người lịch thiệp
duyệt tiếng trống tao nhã, người quê mùa tiếng trống thô lỗ, người bịp bợm tiếng
trống láu lỉnh. Khách chơi lão luyện có thể nghe tiếng trống mà đoán được tư cách
con người.
một chầu đêm.
Hát cửa đình tuy nghi tiết nghiêm túc kính cẩn, nhưng đàn phách nhàn nhã,
không công phu bằng hát khuôn.
Hát cửa đình gồm có 12 thể: Giáo trống, Giáo hương, Dân hương, Thét nhạc,
Hát giai, Đọc phú, Đọc thơ, Gửi thư, Đại thạch, Bỏ bộ, Múa bài bong, tấu nhạc và
múa tứ linh.
1.2.4.3. Hát thi.
Hát thi chia làm bốn giai đoạn: Vãn, Chầu thi, Chầu cầm, và thi lại (Phúc
hạch).
- Vãn: Thoạt tiên, ban giám khảo sát hạch sơ qua tài năng của đào kép để lựa
chọn người vào hát Chầu thi, Vãn là đào hát mấy câu Gửi thư, hoặc Thổng
thiên thai, kép hát mấy câu Thơ cách để tỏ ra mình hát được.
- Chầu thi: những đào kép đã qua kỳ Vãn, được ban giám khảo chứng nhận và
yết lên bảng mới được vào hát Chầu thi. Các khúc hát trong Chầu thi là:
• Kép: giáo đầu, ca đàn, thơ cách, hát giai câu một, hát nói giai, giáo thơ
phòng, Hà nam câu một, nói Hà nam, dạo đọc phú, đọc phú.
• Đào: Thơ phòng; Hà liễu câu một; nói Hà liễu; trở tay ba; nhạc nhang;
chúc Tam Thanh; thét nhạc; ngâm vọng; bắc phản; mưỡu; hát nói; nhịp
ba cung bắc hoặc Chừ khi; đại thạch; hãm; gửi thư; dóng chinh phu;
dựng huỳnh.
• Đào kép cùng hát: Vói luồn..
- Chầu cầm: những người đã trúng tuyển kì thi hát Chầu thi mới được vào
Chầu cầm. Các khúc hát trong Chầu cầm:
• Kép: Ngâm sang hát giai; hát giai câu một; hát nói giai; xướng tầng;
ngâm phú; hát sử và dã sử; phản huỳnh; làm trò vui (trai thi mạnh)
• Đào: Màn đầu hát gái; Hà liễu câu một; nói Hà liễu; trở tay ba; màn
đầu hát truyện; hát truyện; dựng huỳnh; làm trò vui (gái thi mềm)
- Thi lại (phúc hạch): Đào kép qua Chầu cầm mới được vào kỳ Thi lại để ban
giám khảo cân nhắc hơn kém mà định giải nhất nhì.
Khi đào kép vào hát thi, nếu đàn được mà hát kém thì ban giám khảo tuyển
(2 câu 7 chữ tiếp theo câu lục bát). Trong nhạc truyền thống bác học có thơ lục bát,
lục bát biến thể, lại có thêm các thể thơ theo Đường luật ngũ ngôn thất ngôn.
Ca trù sử dụng tất cả các thể thơ trên, ngoài ra còn dùng thơ 8 chữ không có
trong thi ca cổ, chỉ sau nay mới thông dụng trong Thơ mới Việt Nam. Thơ 8 chữ
dùng trong Hát nói, gồm 11 câu chia làm 3 khổ:
Khồ đầu: 4 câu gồm 2 câu lá đầu và 2 câu xuyên thưa
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Khổ giữa: 4 câu gồm 2 câu chữ Hán ngũ ngôn hay thất ngôn và 2 câu xuyên
mau.
Khổ xiết: 3 câu gồm câu dồn, câu kết và câu keo.
Qui định theo lề lối gọi là đủ khổ, nhưng vẫn có thể gặp những câu 11, 12, 13
chữ, hoặc thêm khổ, gọi là dôi khổ.
Chưa thể loại nhạc cổ nào đa dạng về thơ như vậy.
Ca trù là một loại nhạc thính phòng, như Ca Huế miền Trung, ca Tài tử miền
Nam. Nhưng trong các loại ca nhạc thính phòng khác, bài ca có nét nhạc cố định, nếu
đặt lời mới cũng phải tuân theo nét nhạc đó. Riêng Ca trù, trong các « lối» hay « thể»
(khoảng 15 thể Hát chơi, 12 thể Hát cửa đình), giai điệu không cố định mà tùy theo
thanh giọng của lời thơ. Thành ra, những bài Gửi thư, Hát ru, Bắc phản, Mưỡu có
những giai điệu khác nhau, cùng một thể Hát nói có cả trăm bài (theo sách Ca trù
biên khảo - Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề) .
Mỗi loại thơ đều có nét nhạc và tiết tấu đặc biệt tạo ra nhiều thể trong Ca trù.
Lục bát và lục bát biến thể có trong Mưỡu, Bắc phản, Xẩm huê tình, hay ngâm theo
Sa Mạc hoặc Bồng Mạc, thơ 8 chữ trong Hát nói.
1.2.5.2. Thanh nhạc và khí nhạc trong ca trù
Trong Ca trù thanh nhạc và khí nhạc đi song song với nhau và mỗi loại đều có
nét đặc thù.
Về thanh nhạc:
Có lẽ ngoài hát Tuồng có những kỹ thuật phong phú và độc đáo, còn các bộ
nữ và laya như chiếc váy phất phơ theo bước chân, đếm được bước đi mà không đếm
được cái phất phơ của chiếc váy. Hai chiếc phách cái, phách con trong Ca trù của
người Việt cũng tạo được một loại tiết tấu hiện ẩn như thế.
b). Đàn đáy: chỉ dùng duy nhất trong Ca trù. Thùng đàn hình chữ nhựt hay
hình thang, mặt đàn bằng cây ngô đồng, có mặt mà không có đáy, cần rất dài, gắn 10
hay 11 phím bằng tre rất cao, phím đầu ở ngay giữa bề dài của dây đàn. Đàn mắc 3
dây tơ, lên cách nhau một quãng 4, đánh dây không nhấn cho tiếng trầm, bấm phím
thành tiếng cao. Không có cầu đàn ở đầu đàn trước khi quấn dây vào trục, nên trên
đàn đáy có cách nhấn khác thường: «nhấn chùn » lẽ ra phải có độ cao hơn một quãng
2 thì lại phát ra một âm đồng độ cao mà màu âm khác. Phím đàn gắn theo thang âm
chia quãng 8 thành 7 quãng đồng đều (equiheptatonic), thể hiện dễ dàng quãng ba
trung bình giữa thứ và trưởng (neutral 3rd between the minor 3rd and the major 3rd),
một quãng đặc thù của lưu vực sông Hồng thường gặp trong Hát ru, Hát nói và Sa
mạc. Nhạc công phải đánh rõ tiếng vê, tiếng vẩy, tiếng lia, tay trái phải biết cách
nhấn, rung, nhấn chùn, bấm 3 dây khi đàn chữ «dinh dinh dinh». Khi chân phương
khi dìu dặt, khi mạnh khi nhẹ, tiếng đàn trong đoạn sòng đầu, lưu không hay phụ hoạ
theo lời ca chẳng những có nét nhạc, mà còn tạo nên «hồn nhạc».
c) Trống chầu. Trống chầu Ca trù khác trống chầu trong Tuồng, Hát bội, từ
kích thước đến cách đánh. Kích thước và hình thức rất gần trống đế của Chèo nhưng
NguyÔn ThÞ Hoa Líp : Du lÞch 48
24
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
cách đánh và chức năng hoàn toàn khác. Dùi trống không gọi là “dùi” mà là “roi
chầu”. Roi chầu bằng gỗ, dài hơn dùi trống khác. Người đánh trống cầm roi trong tay
mặt, gõ vào tang trống - gọi là “chát”, đánh roi sát trên mặt trống - gọi là “tom”.
Người cầm chầu gọi là “quan viên”, phải sành Ca trù, biết rõ các khổ đàn, khổ phách,
biết đàn thế nào là hay, hát thế nào là “khuôn”, là “hàng hoa” và không đánh trống
“bịt miệng ả đào”, lại phải nắm rõ các công thức xuyên tâm, song châu, liên châu, hạ
mã, lạc nhạn để khen chê, thưởng phạt đúng nơi đúng cách, dáng ngồi, tay cầm roi,
tay vịn mặt trống phải phong lưu đài các. Nghe tiếng chầu, thính giả biết giá trị và
Triều Tiên có biểu diễn độc tấu đàn Kayageum với phụ hoạ của trống Chang
gu (trượng cổ), nhưng không có hát.
Các nước Á rập có thanh nhạc là chánh, phụ hoạ chỉ có đàn dây khảy Ud, đàn
cung kéo Keman, đôi khi có trống Daff.
Người Ba Tư có hát là chánh, phụ hoạ có đàn dây khảy Târ hoặc Setâr, có đàn
cung kéo Kemantche, và trống Zarb cũng gọi là Tombak..
Ấn Độ có nhiều phong cách hát những câu thơ, những bài thơ như Dhrupad
cổ điển, Kheyal bán cổ điển, bay bướm, Thumri tình cảm, phóng khoáng. Nhạc khí
phụ hoạ chỉ làm nền mà không hòa theo giai điệu, có trống phụ hoạ nhưng không có
tiếng phách.
Và trong tất cả các loại nhạc kể trên đếu không có trống chầu phê phán.
1.2.5.4. Ca trù là một truyền thống xuất phát từ nước Việt
Ca trù xuất phát từ Việt Nam chứ không du nhập từ nước ngoài, có huyền
thoại về xuất xứ cây đàn đáy, về các vị Tổ sư (theo sách Ca trù biên khảo của Đỗ
Trọng Huề và Đỗ Bằng Đoàn).
Ca trù được tổ chức chặt chẽ thành phường, giáo phường, do trùm phường và
quản giáp cai quản. Ca trù có qui chế về sự truyền nghề, cách học đàn học hát, có
những phong tục trong sự nhìn nhận đào nương rành nghề, như lễ mở xiêm áo (thầy
cho phép mặc áo đào nương để biểu diễn chánh thức lần đầu tiên trong đình làng gọi
là Hát cửa đình), có nhũng qui chế về việc chọn đào nương đi hát thi (ngoài tài năng
và sắc diện cần phải có đức hạnh tốt).
Các cuộc Hát thi và phát giải được tổ chức rành rẽ, các lễ hội được cử hành rất
nghiêm chỉnh.
Ca trù được nhiều nhạc sĩ, nhạc học gia nước ngoài theo học, tìm hiểu,
nghiên cứu: TS Barley Norton (Anh) Thạc sĩ Alienor Anisensel (Pháp) GS Stephen
Addiss (Mỹ). Ca trù được giới thiệu tại Đại học Sorbonne Paris, Đại học Hawaii at
Manoa Honolulu (GS Trần Văn Khê thuyết giảng).
Ca trù được cơ quan, tổ chức quốc tế tôn vinh và xuất bản dưới dạng đĩa hát.
Tổng thư ký Hội đồng quốc tế Âm nhạc thuộc Unesco Jack Bornoff, Giám đốc Viện
quốc tế nghiên cứu Âm nhạc với phương pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh (Đức), GS