Đ ẠI H ỌC QU ỐC GIA H À N ỘI
KHOA LU ẬT
HO ÀNG V ĂN TH Ứ
Đ ỊA V Ị PH ÁP L Ý C ỦA NH À Đ ẦU T Ư
TR ÊN TH Ị TR Ư ỜNG CH ỨNG KHO ÁN VI ỆT NAM LU ẬN V ĂN TH ẠC S Ĩ LU ẬT H ỌC
Đ ỊA V Ị PH ÁP L Ý C ỦA NH À Đ ẦU T Ư
TR ÊN TH Ị TR Ư ỜNG CH ỨNG KHO ÁN VI ỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50
LU ẬN V ĂN TH ẠC S Ĩ LU ẬT H ỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS, Phạm Duy Nghĩa
H À N ỘI, N ĂM 2009
trên thị trường chứng khoán có vai trò đặc biệt quan trọng. Do đó, việc nghiên
cứu để tìm ra những luận cứ khoa học, những định hướng và giải pháp cho việc
bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán là đòi hỏi bức thiết cả về lý luận
và thực tiễn. 2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, sự ra đời của thị trường chứng khoán gắn với quá trình
chuyển đổi nền kinh tế và nó còn khá mới mẻ đối với nhiều người dân. Do vậy
việc nghiên cứu về thị trường chứng khoán nói chung và địa vị pháp lý của nhà
đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng, trong đó bao gồm cả quyền và
nghĩa vụ của nhà đầu tư dưới góc nhìn pháp luật chưa có nhiều đề tài nghiên
cứu, đề cập sâu về vấn đề này. Vì vậy, việc cần làm sáng tỏ địa vị pháp lý của
nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán để đề ra các biện pháp đảm bảo các
quyền của nhà đầu tư được đảm bảo trên thực tế, tránh những thiệt hại, rủi ro
cho các nhà đầu tư đang đặt ra hết sức cấp bách.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Đề tài sẽ tập nghiên cứu những quy định pháp lí cũng như những cơ sở
lí luận của vấn đề địa vị pháp lý của nhà đầu tư, từ đó xác định rõ quyền của nhà
đầu có những quyền, lợi ích cũng như nghĩa vụ gì khi tham gia thị trường chứng
khoán. Đề tài sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá thực tiễn về xu hướng bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, cũng như trách nhiệm của nhà đầu tư, qua đó nêu lên
kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư.
4. Phương pháp nghiên cứu luận văn
Dựa trên phương pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
- Tổng hợp, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thông qua các
ví dụ cụ thể liên quan đến nội dung nghiên cứu.
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN,
NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Những vấn đề lý luận về thị trường chứng khoán
1.1.1. Một số vấn đề cơ bản về chứng khoán
Trong đời sống kinh tế, thuật ngữ chứng khoán (stock, security) được
tìm hiểu theo những yêu cầu, mục đích khác nhau. Đây là khái niệm phức tạp vì
bản thân nó đã hàm chứa một loạt quan hệ kinh tế phức tạp phát sinh giữa người
cần vốn và người có vốn.
Chứng khoán theo quan điểm truyền thống là phương tiện xác nhận
quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc
vốn của tổ chức phát hành. Hình thức tồn tại của chứng khoán rất đa dạng, phụ
thuộc vào thực tế phát triển nền kinh tế. Chứng khoán có thể có hình thức chứng
chỉ, hình thức bút toán ghi sổ dần phát triển do yêu cầu của nhà phát hành và sở
hữu chứng khoán. Khi công nghệ phát triển, hình thức điện tử cũng được ghi
nhận như một dạng tồn tại của chứng khoán. Một số nhà nghiên cứu kinh tế cho
rằng chứng khoán là mọi sản phẩm tài chính có thể chuyển nhượng được. Với
cách hiểu này, đối tượng được coi là chứng khoán thực sự đa dạng: cổ phiếu,
trái phiếu, các công cụ tại thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu
ngân hàng và các loại thương phiếu. Cách hiểu này cũng có thể dẫn tới khả năng
thống nhất các bộ phận của thị trường tài chính: thị trường tiền tệ, thị trường
ngoại hối, thị trường chứng khoán thành một thị trường chứng khoán duy nhất.
Tuy nhiên, nếu xem xét cấu trúc thị trường tài chính, việc tiếp tục tồn tại những
từ chứng khoán sang tiền thông qua một giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc
thông qua nghiệp vụ ngân hàng. Tính thanh khoản tạo ra sự hấp dẫn đối với
người đầu tư, thỏa mãn nhu cầu của họ đồng thời cũng hạn chế rủi ro làm giảm
sút giá trị tiền tệ của chứng khoán. Có thể nói rằng, khả năng thanh khoản của
mỗi chứng khoán là khác nhau, điều đó cũng có ý nghĩa trong việc xác định
hiệu suất vốn đầu tư của nền kinh tế đồng thời tạo ra sức cạnh tranh cho các chủ
thể phát hành. Tính thanh khoản của một loại chứng khoán phụ thuộc vào uy tín
của chủ thể phát hành, vào chi phí chuyển đổi và sự biến động của thị trường. 6
Cuối cùng, nói tới chứng khoán, đồng thời cũng phải nói tới tính rủi ro của chứng
khoán, thể hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn. Cũng như bất kỳ hoạt
động đầu tư, kinh doanh nào khác, việc kinh doanh chứng khoán là "đầu tư một
lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai" thì cả quãng thời
gian đó cũng chính là thời gian chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro tiềm tàng đến
đâu còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn
cùng các cam kết khác chính là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới độ rủi ro.
Mức độ rủi ro của chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với tính sinh lời và tính
thanh khoản của chứng khoán.
Chứng khoán rất đa dạng về chủng loại và phong phú về cách thức biểu
hiện. Đây cũng là một trong những lý do mà pháp luật nhiều quốc gia không đưa
ra một định nghĩa cụ thể về chứng khoán. Mặc dù vậy, có thể khái quát một số
loại chứng khoán tiêu biểu, hiện đang được phát hành và giao dịch phổ biến.
Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận sự góp vốn và quyền
liên quan đến phần vốn góp của chủ sở hữu chứng khoán đối với đối tượng phát
hành ra nó. Chứng khoán vốn tồn tại dưới hai dạng cơ bản là cổ phiếu và chứng
chỉ quỹ đầu tư. Ngoài ra, còn có các chứng khoán phái sinh từ loại chứng khoán
vốn như chứng quyền.
pháp nhân, mặc dù đều là chứng khoán vốn; chứng chỉ quỹ đầu tư khác với cổ
phiếu ở chỗ chứng chỉ quỹ đầu tư mang lại cho người đầu tư lợi nhuận không
trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể phát hành mà từ toàn bộ
hoạt động đầu tư của quỹ.
Một loại chứng khoán rất phổ biến, tạo ra sự ổn định tương đối trong
giao dịch trên thị trường là trái phiếu. Trái phiếu là phương tiện vay nợ, theo đó
chủ thể phát hành ra nó cam kết sẽ trả lại cả gốc và lãi vào một thời gian nhất
định trong tương lai. Với tính chất là một hợp đồng vay, người cấp vốn được
hưởng khoản lãi cố định không phụ thuộc vào kết quả sử dụng vốn của người
nhận vốn; nhưng không có quyền tham gia hoạt động quản lý đối với bên nhận
vốn. Do có sự khác biệt về mệnh giá, về lãi suất, về quyền đối với chủ thể phát
hành mà người đầu tư có thể lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp nhất. 8
Trên thực tế tồn tại rất nhiều loại trái phiếu khác nhau, tùy thuộc vào vị
thế của người phát hành cũng như các cam kết đi kèm của nhà phát hành. Vị thế
của một loại trái phiếu có liên quan trực tiếp đến tính thanh khoản của trái phiếu
và mức độ sôi động của thị trường. Trái phiếu chính phủ có độ an toàn cao, lãi
suất loại trái phiếu này thường là cơ sở để các doanh nghiệp tính toán lãi suất
trái phiếu dự định phát hành. Trái phiếu doanh nghiệp do doanh nghiệp phát
hành nhằm tăng vốn vay để mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, có
những khác biệt nhất định so với trái phiếu của các tổ chức tín dụng. Trong mỗi
loại trái phiếu, tùy mục đích thu hút đầu tư mà nhà phát hành có thể lựa chọn
những loại trái phiếu cụ thể khác nhau. Chẳng hạn, trái phiếu chuyển đổi, trái
phiếu lãi suất thả nổi, trái phiếu thu nhập, trái phiếu trả trước thường có khả
năng thu hút đầu tư nếu xét dưới góc độ cơ hội sinh lời. Trái phiếu chính phủ,
trái phiếu có bảo đảm có khả năng thu hút đầu tư nếu xét theo góc độ an toàn.
Ngoài những chứng khoán cơ bản nêu trên, có những loại chứng khoán
Thị trường chứng khoán được hình thành, phát triển trong những điều
kiện hoàn cảnh cụ thể. Đó là nền kinh tế thị trường với những qui luật vốn có
của nó. Tại đó, cơ hội kinh doanh, khả năng chuyển đổi mới hình thành và tồn
tại. Đối với nền kinh tế tập trung không thực hiện được những hoạt động này.
Nếu trong thời kỳ đầu, thị trường chứng khoán chỉ xuất hiện ở các nước có nền
kinh tế tự do phát triển như Hà Lan, Anh, Đức, Hoa Kỳ thì hiện nay mô hình
thị trường này đã lan rộng và trở thành hiện tượng phổ biến của các quốc gia có
nền kinh tế thị trường. Mặc dầu vậy, phù hợp với trình độ phát triển nền kinh tế,
thực lực nền kinh tế mà mức độ phức tạp, đa dạng cũng như mức độ sôi động
của thị trường chứng khoán các quốc gia là khác nhau. Sự khác biệt ấy không
chỉ dừng lại giữa các quốc gia, ngay ở những khu vực phát triển kinh tế khác
nhau trong một quốc gia, mức độ lưu hoạt vốn của các bộ phận thị trường (mang
tính địa phương) cũng khác nhau rõ rệt. Điều đó có thể thấy rất rõ qua hoạt động
của các loại thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức, Úc, 10
Nhật Bản Cùng với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế, hoạt động của thị
trường chứng khoán các quốc gia ngày càng trở nên gần nhau hơn, thông qua các
liên kết giao dịch, nhu cầu kinh doanh, đầu tư của tất cả các đối tượng.
Hình thái tồn tại, hoạt động cụ thể của thị trường chứng khoán rất đa
dạng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đối tượng tham gia, đặc tính của hàng hóa
giao dịch tại thị trường và do vậy có nhiều cách phân loại khác nhau.
Nếu xét theo tiêu chí lưu thông chứng khoán, có thể phân ra thị trường
sơ cấp và thị trường thứ cấp. Tại thị trường sơ cấp, các chứng khoán lần đầu
tiên được bán cho các nhà đầu tư nên còn được gọi là thị trường phát hành. Điều
đó cũng có nghĩa, thông qua thị trường sơ cấp, những nguồn đầu tư mới thực sự
được chuyển cho nhà phát hành. Thị trường thứ cấp diễn ra các giao dịch chứng
khoán chưa được thanh toán. Bộ phận thị trường này không làm tăng nguồn vốn
chức của nó; điều đó cũng có nghĩa sự an toàn hay rủi ro, cơ hội kiếm lời là
khác nhau trong các giao dịch trên thị trường.
Để hoạt động bình thường, thị trường chứng khoán phải tuân thủ những
qui định rất nghiêm ngặt, chặt chẽ. Các giao dịch chứng khoán về hình thức bên
ngoài có vẻ "hỗn loạn", nhưng thực chất lại là những giao dịch trật tự với những
nguyên tắc nhất định.
Từ cơ cấu thị trường chứng khoán có thể cho thấy nguyên tắc công
bằng, công khai, trung gian được thể hiện trong các giao dịch, nhưng ở các bộ
phận thị trường khác nhau thì yêu cầu của những nguyên tắc này là khác nhau.
Nguyên tắc công bằng yêu cầu các giao dịch phải đảm bảo quyền lợi của
tất cả các bên dưới các hình thức khác nhau ở các bộ phận thị trường. Chẳng hạn,
trong giai đoạn phát hành chứng khoán, nếu đó là chứng khoán phát hành ra
công chúng thì yêu cầu phải dành tỷ lệ chứng khoán tối thiểu cho các nhà đầu tư
phổ thông. Tại thị trường tập trung, phương thức đấu giá là hình thức thực hiện
nguyên tắc công bằng. Theo đó, có thể thực hiện đấu giá liên tục hoặc đấu giá
theo định kỳ nhưng đều đi đến một kết quả duy nhất là người bán sẽ bán được
với giá cao nhất và người mua sẽ mua được với giá thấp nhất, không phân biệt các
chủ thể đó là ai. Như vậy, nguyên tắc đấu giá tạo ra sự bình đẳng giữa các chủ thể 12
cùng có nhu cầu như nhau. Nguyên tắc công bằng đối với thị trường riêng lẻ
phản ánh trong cơ cấu hoạt động và phân phối các lợi ích giữa các nhà đầu tư
riêng lẻ.
Nguyên tắc công khai đòi hỏi trước hết các thông tin liên quan đến
chứng khoán phải được cung cấp cho tất cả các đối tượng quan tâm. Phương
thức cung cấp thông tin và nội dung thông tin phải đảm bảo đáp ứng được yêu
cầu tìm hiểu về cung cầu thị trường đối với từng loại chứng khoán, giá trị thực
của các loại chứng khoán để có thể đưa ra được những quyết định đầu tư có
Trong thị trường chứng khoán, dù ở giai đoạn phát triển nào và ở bộ
phận nào của thị trường thì cũng tồn tại hai loại chủ thể chủ yếu là nhà phát
hành và nhà đầu tư chứng khoán. Nhà phát hành là tất cả chủ thể huy động vốn
bằng cách bán chứng khoán cho người đầu tư. Tùy theo điều kiện cụ thể, pháp
luật mỗi nước qui định rõ những đối tượng nào là "nhà phát hành". Ở thị trường,
thường là các doanh nghiệp (bao hàm cả các tổ chức tín dụng) và Chính phủ
(bao gồm cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương). Đối tượng
thứ hai là nhà đầu tư chứng khoán - những chủ thể có nhu cầu đầu tư bằng cách
mua các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Loại chủ thể đầu tư này
rất đa dạng và đông đảo, mục đích của các nhà đầu tư cũng không giống nhau.
Thường thì người ta chia nhà đầu tư thành hai nhóm cơ bản: nhà đầu tư có tổ
chức và nhà đầu tư cá thể. Nhà đầu tư có tổ chức có thể chỉ chiếm số lượng nhỏ so
với nhà đầu tư cá thể nhưng đối tượng này lại có tiềm năng lớn, khả năng phân tích
đánh giá chứng khoán tốt. Nhà đầu tư cá thể chiếm tỷ trọng đông đảo về số lượng
nhưng lại là đối tượng thường được quan tâm của nhà quản lý với mục đích bảo
vệ quyền lợi cho họ.
Để tạo ra tính thanh khoản của chứng khoán, hiệu suất sử dụng vốn của
nền kinh tế, các giao dịch thứ cấp được rất nhiều nhà kinh doanh quan tâm và
coi đây là nghiệp vụ kinh doanh chính của mình. Hành vi kinh doanh chứng
khoán cũng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận như hành vi kinh doanh khác,
nhưng do đặc điểm của chứng khoán rất phức tạp và rủi ro dây chuyền nên chủ
thể thực hiện kinh doanh chứng khoán thường phải đạt những tiêu chuẩn nhất 14
định, cho dù mỗi quốc gia có thể cho phép tổ chức và cá nhân cùng kinh doanh
hoặc chỉ cho phép tổ chức kinh doanh. Chủ thể kinh doanh chứng khoán thường
tồn tại dưới hình thức công ty chứng khoán hoặc những hình thức cá biệt khác.
Ngoài những chủ thể chủ yếu trên còn có thể có một số đối tượng khác
truyền thống mà đại diện là thị trường tín dụng. Nếu như trước đây các tổ chức
tín dụng là chỗ dựa tiềm tàng về vốn cho các doanh nghiệp, từ nguồn vốn nhỏ
nhất trong thời gian ngắn nhất đến nguồn vốn lớn nhất trong thời gian dài nhất
theo nhu cầu thì thị trường chứng khoán đã mở ra cơ hội huy động vốn mới cho
các doanh nghiệp. Nội dung, hình thức huy động vốn của doanh nghiệp thông
qua thị trường chứng khoán rất đa dạng, không đơn thuần là nguồn vốn vay; bản
thân các nguồn vốn kèm theo cam kết của doanh nghiệp phát hành cũng thể
hiện nhu cầu và tính cạnh tranh to lớn.
Thứ hai, thị trường chứng khoán còn là công cụ thực hiện chính sách tài
chính tiền tệ quốc gia và các chính sách vĩ mô khác. Thị trường chứng khoán
phản ánh các giá cả chứng khoán của các doanh nghiệp và các ngành kinh tế.
Mức độ dao động giá chứng khoán cho thấy dấu hiệu và kết quả đầu tư của nền
kinh tế, không loại trừ cả những dấu hiệu tiêu cực. Việc thực hiện tốt chính sách
tài chính quốc gia tạo căn cứ chắc chắn cho việc ổn định giá trị đồng tiền, là nội
dung cơ bản và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ quốc gia. Chính vì thế, có
thể nói rằng, thị trường chứng khoán tạo môi trường thuận lợi cho Chính phủ
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Đối với các quốc gia chuyển đổi, thị
trường chứng khoán còn là nhân tố thúc đẩy tiến trình đa hình thức sở hữu nền
kinh tế. Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc trong
giai đoạn 1983 đến nay đã chỉ ra rằng, thị trường chứng khoán giúp Chính phủ
thực hiện tốt công cuộc cải tổ nền kinh tế.
Thứ ba, thị trường chứng khoán đóng vai trò tạo khả năng thanh khoản
cho các chứng khoán. Nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán của họ thành
tiền mặt hoặc các loại chứng khoán mà họ mong muốn khác tại thị trường.
Chính tính thanh khoản của chứng khoán giúp cho thị trường sôi động đồng thời
cũng là một trong những yếu tố quyết định mức hấp dẫn của chứng khoán đối 16
17
yết tại thị trường tập trung hiện nay đều là cổ phiếu của các công ty cổ phần hình
thành từ con đường cổ phần hóa. Ngược lại, thị trường chứng khoán cũng có ảnh
hưởng không nhỏ đến quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, từ giai đoạn
cổ phần hóa đến giai đoạn niêm yết chứng khoán và khi có nhu cầu phát hành
chứng khoán để tăng vốn doanh nghiệp.
Cuối cùng, là cần có sự phân tích các yếu tố tác động qua lại của thị
trường chứng khoán trong thị trường tài chính. Hệ thống pháp luật phản ánh
chính sách tiền tệ quốc gia, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tiền của toàn xã
hội. Chính sách lãi suất của Chính phủ làm thay đổi cơ cấu tiền trong lưu thông,
làm ảnh hưởng trực tiếp đến luồng tiền và mức độ giao dịch của các nhà đầu tư
trên thị trường chứng khoán. Lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương (Ngân
hàng Nhà nước đối với Việt Nam) có ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất thị trường
tín dụng (bao gồm cả lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất tái chiết khấu),
đồng thời kích ứng mức độ sôi động thị trường chứng khoán (thông qua biến
động các chỉ số giá chứng khoán). Những biến động về lãi suất như vậy sẽ ảnh
hưởng lớn tới nguồn cung vốn cho các nhà kinh doanh trong mở rộng đầu tư và
hình thành vốn, làm cho nguồn vốn được đưa vào đầu tư có chi phí thấp nhất,
các bộ phận thị trường tài chính có mức độ tự cạnh tranh cao nhất. Ngoài ra, thị
trường ngoại hối cũng như cán cân thương mại cũng ảnh hưởng trực tiếp đến
các giao dịch trên thị trường chứng khoán. Đối với đồng nội tệ có sức mua ổn
định, chỉ số giá chứng khoán có mức độ cân bằng tương đối so với thị trường nước
ngoài sẽ không xảy ra tình trạng luồng tiền được chuyển ra đầu tư nước ngoài
bằng con đường chứng khoán hay các con đường khác. Sức mua đối ngoại của
đồng tiền ổn định cũng tạo cho nhà đầu tư chứng khoán an tâm, không có sự
chuyển dịch đầu tư từ bộ phận thị trường này sang bộ phận thị trường khác, xa
lánh thị trường chứng khoán (chẳng hạn từ thị trường chứng khoán chuyển sang
thị trường ngoại hối, thị trường bất động sản ). Những yếu tố kinh tế như tốc
độ tăng trưởng, chính sách đầu tư của Nhà nước, thay đổi cơ cấu tổ chức hoặc
TTCK và công ty cổ phần, Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, Hà Nội,
1989, tr. 98). TTCK là nơi thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư
sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tạo thành nguồn vốn khổng
lồ tài trợ cho nền kinh tế mà các định chế tài chính khác không làm được. Thông
qua các công cụ cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng khoán khác, TTCK cho
phép các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, kể cả Chính phủ, chính quyền địa
phương huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, đưa vào đầu tư phát
triển. ở Việt Nam, trong một thời gian khá dài, kể từ khi có Luật Đầu tư nước
ngoài (năm 1986), chúng ta chủ yếu chú trọng tới việc thu hút nguồn vốn nước
ngoài mà gần như lãng quên nguồn vốn trong nước. Điều này cũng hoàn toàn dễ
hiểu, bởi dưới góc độ nào đó, việc huy động vốn trong nước còn khó hơn huy
động vốn từ nước ngoài vì chúng ta còn thiếu một hệ thống cơ sở hạ tầng về tài
chính để tập trung chuyển tải các đồng vốn nằm phân tán, rải rác trong công
chúng đến những doanh nghiệp cần vốn. Để khắc phục nhược điểm này thì việc
xây dựng và phát triển TTCK là một trong các tiền đề tạo cơ sở hạ tầng đó.
TTCK ra đời, một mặt tạo cơ hội cho các doanh nghiệp lựa chọn hình thức huy
động vốn, không chỉ phụ thuộc vào kênh ngân hàng với những thủ tục, trình tự
cho vay rườm rà, với những điều kiện quá ngặt nghèo như yêu cầu bắt buộc phải 19
có tài sản bảo đảm. Mặt khác, TTCK giúp cho Chính phủ và các doanh nghiệp
huy động được nguồn vốn dài hạn tối đa phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế
và sản xuất. TTCK cùng với hệ thống ngân hàng sẽ tạo nên hệ thống tài chính đủ
mạnh, cung cấp các nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, phục vụ công
cuộc xây dựng, đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Thông qua TTCK
nguồn vốn “vô tận” từ nước ngoài cũng được huy động một cách tối đa, xuất
phát từ đặc điểm của thị trường này là vốn tài chính tạo thành những dòng chảy
tự do, dòng vốn này sẽ tự động chảy vào những “vũng trũng” – những thị trường
nhân có các quyền được pháp luật thừa nhận và bên cạnh các quyền đó phải
thực hiện các nghĩa vụ nhất định. Đây là một chỉnh thể thống nhất tạo ra địa vị
pháp lý của một cá nhân hoặc một tổ chức. Hay nói cách khác địa vị pháp lý
chính là do yếu tố quyền và nghĩa vụ xác lập nên. 20
Địa vị pháp lý của nhà đầu tư chứng khoán được hiểu là nhà đầu tư được
pháp luật thừa nhận thông qua các quyền và nghĩa vụ khi tham gia thị trường
chứng khoán. Điều này cũng có nghĩa được hiểu nói đến địa vị pháp lý của nhà
đầu tư là nói đến nhà đầu tư có những quyền gì được pháp luật thừa nhận, bảo
vệ và đi đôi với những quyền đó là thực hiện nghĩa vụ của nhà đầu tư. Quyền và
nghĩa vụ là mối quan hệ song hành, khi tham gia thị trường ngoài những quyền
lợi của mình thì nhà đầu tư cũng phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định.
Khi nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán, họ sẽ phải biết hoặc
bắt buộc phải biết pháp luật cho họ những quyền gì và đi đôi với các quyền ấy
họ phải thực hiện nghĩa vụ gì? Vấn đề xác định địa vị pháp lý của nhà đầu tư
trên thị trường chứng khoán thực chất là xác định quyền và nghĩa vụ của nhà
đầu tư. Mặc dù trong Luật chứng khoán năm 2006 gần như không đề cập đến
khái niệm địa vị pháp lý của nhà đầu tư hoặc gần như không đề cập đến quyền
lợi, nghĩa vụ của nhà đầu tư nhưng trên cơ sở các quy định của Luật doanh
nghiệp năm 2005, Quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán, Quy
chế giao dịch chứng khoán, Quy chế đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng
khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành do Uỷ ban chứng khoán ban
hành….thì địa vị pháp lý của nhà đầu tư bao gồm các quyền, lợi ích và nghĩa vụ
sau:
1.2.2. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
1.2.2.1. Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị
tư nhằm mang lại hiệu quả cao.
- Về tài chính, nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực tài chính lớn và có thể huy
động vốn từ nhiều cổ đông với mục đích kinh doanh chứng khoán trong một
khoảng thời gian dài để thu về lợi nhuận. Nhà đầu tư tổ chức đầu tư theo danh
mục đầu tư và xác định mức lợi nhuận kỳ vọng khi mức lãi từ danh mục đầu tư
đó đạt được, thường nhà đầu tư tổ chức có thể bán ngay hoặc có thể để lại trong
danh mục đầu tư của mình đối với những cổ phiếu tăng trưởng trong dài hạn. 22
Mặt khác, nhà đầu tư tổ chức thông thường luôn dành một khoản vốn để dự
phòng rủi ro khi thị trường đi xuống, bắt đáy thị trường để bình quân giá trị của
những cổ phiếu đã mua trước đó. Nhà đầu tư tổ chức thường biết trước và đón
lõng khi có những nhận định, phân tích để sẵn sàng cắt lỗ bằng cách mua từ từ
và sử dụng lợi nhuận thu được để tiếp tục tái đầu tư.
- Về chiến lược đầu tư, nhà đầu tư tổ chức thường có chiến lược đầu tư
lâu dài với mong muốn đạt được lợi nhuận, kỳ vọng đặt ra.
Chính vì những lẽ trên, nhà đầu tư là tổ chức luôn được đánh giá là nhà
đầu tư chuyên nghiệp và có khả năng đạt được kỳ vọng cao vào những danh
mục đã đầu tư. Trong điều kiện thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn non trẻ
và còn nhiều ràng buộc bởi chế định pháp lý nên nhìn chung so với các nước có
thị trường chứng khoán phát triển thì nhà đầu tư là tổ chức ở Việt Nam chỉ
chiếm một tỷ lệ nhỏ so với các nhà đầu tư là cá nhân.
1.2.2.3. Nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân là chủ thể tham gia thị trường chứng khoán có vị trí
đặc biệt quan trọng. Theo thống kê của Uỷ ban chứng khoán nhà nước, tính đến
hết quý II năm 2009, thị trường chứng khoán Việt Nam có trên 500.000 tài
khoản cá nhân, chiếm khoảng 4% dân số trong cả nước. Nhà đầu tư cá nhân là
những người có vốn tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục
là hiện tượng làm cho cổ phiếu của một số ngân hàng thương mại rất có giá trong thời
gian vừa qua bởi lẽ, người ta cho rằng, đầu tư vào ngân hàng là chắc ăn nhất, đặc biệt
là các ngân hàng thương mại nhà nước. Sự sai, đúng về cách nhận thức này như thế
nào cũng nên để cho các nhà đầu tư chứng khoán tự tìm hiểu và tự bình luận. Có một
thực tế mà không phải nhà đầu tư chứng khoán nào cũng được biết đến một cách
tường tận là, theo lộ trình mở cửa của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong cam kết gia
nhập WTO thì trong vòng 5 năm kể từ khi gia nhập, Việt Nam có thể hạn chế quyền
của một chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam từ
các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo tỷ lệ trên mức
vốn được cấp của chi nhánh phù hợp với lộ trình sau: (1) Ngày 1 tháng 1 năm 2007:
650% vốn pháp định được cấp; (2) Ngày 1 tháng 1 năm 2008: 800% vốn pháp định
được cấp; (3) Ngày 1 tháng 1 năm 2009 : 900% vốn pháp định được cấp; (4) Ngày 1
tháng 1 năm 2010 : 1000% vốn pháp định được cấp; (5) Ngày 1 tháng 1 năm 2011:
Đối xử quốc gia đầy đủ…”[28] Diễn biến thị trường chứng khoán thời gian qua cho thấy nhà đầu tư cá
nhân Việt Nam còn “yếu bóng vía”, thiếu tính chuyên nghiệp và là người hứng
nhiều thiệt hại nhất so với nhà đầu tư là tổ chức. Phương thức đầu tư của nhiều
người trong số này là khi chỉ số chứng khoán tăng thì sẵn sàng mua vào với bất
cứ giá nào, khi chỉ số chứng khoán xuống thì sẵn sàng xả hàng bất kể đang