BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________
Trần Thị Phi Nga
ĐẶC TRƯNG TIỂU THUYẾT THẾ SỰ CỦA
MA VĂN KHÁNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người Hướng Dẫn Khoa Học:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
MỞ ĐẦU
1 - Lí do chọn đề tài:
Vào những năm 60, Ma Văn Kháng, một bút danh lạ, đã gây cho người đọc sự chú ý đặc
biệt. Trong số các nhà văn hiện đại Việt Nam, ông là người có thời gian gắn bó với miền đất
vùng biên ải khá dài (22 năm (1954 - 1976) ông sống và làm việc ở vùng miền núi Lào Cai -
mảnh đất mà ông xem như quê hương thứ hai của mình). Văn nghiệp của ông chủ yếu tập trung
vào hai mảng đề tài chính là: cuộc sống của người dân vùng biên ải phía Bắc và cuộc sống
thành thị đầy rẫy sự phức tạp của miền xuôi sau những năm
1975. Từ tác phẩm đầu tay Phố cụt
- truyện ngắn mở đầu văn nghiệp của Ma Văn Kháng in trên tuần báo Văn Nghệ số 136 ngày
3/3/1961 đến nay, ông đã đóng góp cho văn học hiện đại Việt Nam hơn một trăm truyện ngắn
(khảo sát trong 4 tập “Truyện ngắn Ma Văn Kháng” của n
hà xuất bản Công An nhân dân -
2003), 12 cuốn tiểu thuyết và một số tác phẩm viết cho thiếu nhi…
Cùng với các nhà văn hiện đại, các sáng tác của Ma Văn Kháng vừa khẳng định sự thành
công trong văn nghiệp của ông, vừa khẳng định vai trò của ông trong việc góp phần vào sự đổi
mới của văn xuôi nghệ thuật nước ta. Với số lượng tác phẩm khá nhiều, đề cập đến nhiều vấn
đề của cuộc sống người dân m
iền núi và cuộc sống thành thị miền Bắc sau những năm 1975,
tác phẩm của Ma Văn Kháng đã thu hút được sự quan tâm của giới phê bình và bạn đọc. Phong
phú về vốn sống, cũng như ngôn ngữ, trong các tác phẩm của mình, Ma Văn Kháng luôn xen
cài vào những dòng triết lí sâu xa về con người, về lẽ sống ở đời.
Để hiểu một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về Ma Văn Kháng, thiết nghĩ cần tìm hiểu
những đặc sắc nghệ thuật trong các tác phẩm của ông một cách toàn diện và có hệ thống. Ở đây
chúng tôi chọn khảo sát mảng tiểu thuyết của ông cũng nhằm mục đích đó.
2 - Lịch sử vấn đề:
Về mảng tiểu thuyết,
Kháng, tác giả Lý Ho
àn Thục Trâm nhận xét rằng: “Qủa thật, Ma Văn Kháng là một trong số ít
những nhà văn đương đại rất tâm đắc với nhân vật n
gười trí thức. khi người đọc bắt đầu có
phần hoa mắt với chân dung đặc tả của người chiến sĩ trong đời sống hậu chiến hay người
nông dân trong giai đoạn đô thị mới nông thôn nhan nhãn trong hàng loạt tiểu thuyết; thì
người trí thức của Ma Văn Kháng tuy đôi khi chỉ mới ở mức những bức kí họa sơ sài nhưng đã
đem lại một hứng thú nhất định” [
79]. Và khi “gặp gỡ người trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn
Kháng, người đọc không tránh khỏi những xúc cảm bâng khuâng nhẹ nhàng của sự thanh lọc
tâm hồn” [79 ].
Người phụ nữ đời nào cũng vậy, là tặng phẩm tuyệt diệu của tạo hóa, nhưng sự phản ánh
họ trong văn học - cái nhìn nghệ thuật của nhà văn thì mỗi thời mỗi khác, mỗi người mỗi khác.
Trong sáng tác của Ma Văn Kháng nói c
hung, nhân vật nữ xuất hiện khá nhiều và chiếm được
cảm tình của không ít độc giả. Trong tiểu thuyết của ông, nhân vật nữ cũng được xây dựng khá
công phu. Đúng như tác giả Nguyễn Nguyên Thanh nhận xét: “Viết về người phụ nữ nhan sắc,
Ma Văn Kháng có khả năng khám phá tinh tế và sắc sảo”. Đào Đồng Điện cho rằng: “nhà văn
Ma Văn Kháng khi làm một cuộc đột phá vào mảng đề tài gia đình, ông gần như giao phó hoàn
toàn chủ đề cho các nhân vật nữ”.
Nhận xét về nhóm tiểu thuyết viết về đề tài miền núi, tác giả Nguyễn Ngọc Thiện cho
rằng: “Cuốn tiểu thuyết Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1980), Vùng biên ải (1983)
viết sau các tập truyện ngắn về miền núi, là một sự hội tụ, kết tinh cao độ vốn sống về con
người và cuộc sống miền núi, mà ông tích lũy suốt hơn 20 năm gắn bó với nó. Người đọc có thể
tìm thấy những bức tranh si
nh động, những chuyện, những con người và con đường của người
dân tộc thiểu số đã tìm tòi để hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc ở Việt nam như thế nào.
Khát vọng sống trong độc lập và tự do, lịch sử đấu tranh đau thương mà anh dũng, quả cảm,
đời sống t
hường nhật, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ của các dân tộc
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - phát sinh được sử dụng để làm rõ sự ra đời và phát
triển của tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong tương quan với hoàn cảnh xã hội, văn học .
- Phương pháp so sá
nh để khu biệt những đặc trưng của tiểu thuyết Ma Văn Kháng bên
cạnh tiểu thuyết của những nhà văn cùng thời.
- Vận dụng những hiểu biết về thi pháp học hiện đại kết hợp với cảm thụ truyền thống để
khảo sát và nhận định tác phẩm theo quan niệm, hiểu biết của m
ình. Dựa vào những nhận xét,
nghiên cứu của những người đi trước để có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm.
- Ngoài ra các thao tác thống kê, phân tích, tổng hợp, giải thích được vận dụng trong toàn
văn bản.
5 - Đóng góp của luận văn:
Tập trung nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, luận văn nhằm:
- Tìm hiểu đặc trưng tiểu thuyết Ma Văn Kháng, tập trung ở mảng đề tài thế sự.
- Đánh giá những đóng góp của Ma Văn Kháng trong quá trình phát triển, đổi mới của
văn xuôi Việt Nam.
6 - Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu (6 trang) và phần Kết luận (3 trang), luận văn được tổ chức thành 3
chương như sau:
- Chương 1: Tiểu thuyết và khái quát về tiểu thuyết Ma
Văn Kháng (42 trang).
- Chương 2: Tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng: Cảm hứng nghệ thuật và loại hình
nhân vật (49 trang).
- Chương 3: Tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng: Các đặc trưng nghệ thuật (54 trang).
Tài liệu tham
khảo (6 trang)
của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt
giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [64,
tr.277].
Tuy nhiên, tiểu thuyết là một “phạm trù lịch sử’, nó luôn luôn biến động và chưa định
hình. Vì vậy mà nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Không thể cho tiểu thuyết một định nghĩa cố
định, tiểu thuyết lúc nào cũng phát triển và biến đổi. Tiểu thuyết có một khả năng tung hoành
không bờ”. Nội dung mà tiểu thuyết miêu tả, phản ánh rất đa dạng. Có khi là một vấn đề lớn,
mang tính thời đại; có khi đó chỉ là những vấn đề rất đơn giản của cuộc sống thường nhật.
Nhưng dù lớn, dù nhỏ, dù rộng,
dù hẹp thì cái đích cuối cùng mà nhà văn muốn vươn đến là thể
hiện quan điểm của mình về thế giới quan, nhân sinh quan.
Tiểu thuyết có thể xây dựng những bức tranh cuộc sống rộng lớn, qui mô, về những số
phận lắt léo phức tạp của con người. Bức tranh đó cho phép người nghệ sĩ có được sự tự do cả
về thời gian lẫn không gian. Ví dụ như: thời gian của Tây Du kí có thể là hơn 515 năm; còn thời
gian của Tam Quốc chí là hơn 80 năm… Hồng Lâu Mộng kể về mọi chuyện xảy ra trong gia
đình họ Giả - không gian là một lâu đài; Chiến tranh và hòa bình kể về câu chuyện của một nửa
Châu Âu; không gian của Tắt đèn lại là một làng quê; không gian Sống mòn lại là một vùng
ngoại ô nhỏ…. Mặt khác trong tiểu thuyết, nhà văn có thể mặc sức phóng đi sự tưởng tượng của
m
ình nhằm tạo được sự lôi cuốn về phía độc giả.
Vốn là một thể loại u
yển chuyển, mềm dẻo nên dường như tiểu thuyết không bị đóng
khung trong những quy phạm chật hẹp như một số thể loại khác. Theo giáo sư Phan Cự Đệ, tiểu
thuyết “tự bản chất nó vốn không có tính quy phạm. Đó chính là hiện thân của sự uyển chuyển.
Đó là một thể loại luôn luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn luôn soát lại tất cả
những hì
nh thức đã hình thành của mình. Một thể loại như thế chỉ có thể là một thể loại được
xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang tiến triển” [12, tr.500]. Nhưng để
có một tiểu thuyết hay, những nhà viết tiểu thuyết đã phải vất vả, lăn lộn, trải nghiệm cùng cuộc
hợp của tiểu thuyết đã khiến c
ho thể loại văn học này mang đậm chất văn xuôi. Chất văn xuôi
trong tiểu thuyết là phương tiện để nhà văn đi sâu vào mô tả mọi cảm xúc, mọi khía cạnh phức
tạp nhất trong tâm hồn con người. Tiểu thuyết tái hiện cuộc sống một cách khách quan, không
thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng hóa và tất cả những gì có thể xảy ra trong cuộc sống thì đều
có thể xảy ra trong tiểu thuyết.
Khi miêu tả cuộc sống, tiểu thuyết có thể khai thác tất cả mọi
mặt của cuộc sống: cái cao cả lẫn cái phàm tục, cái nghiêm túc và cái buồn cười, cái bi và cái
hài, cái lớn lẫn cái nhỏ, những cái đơn giản và những cái lắt léo, cả ánh sáng và bóng tối… Đó
là thế giới mà con người đang sống, và nhà văn một lần nữa giúp ta hiểu sâu hơn về nó.
Tính văn xuôi của tiểu thuyết được thể hiện ngay trong ngôn ngữ nghệ thuật. Để phản
ánh cuộc sống bì
nh thường hằng ngày, ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết phải mang tính
chính xác, khách quan. Đó là thứ ngôn ngữ rất gần với ngôn ngữ miêu tả sự việc trong hồi ký,
nhật ký, thứ ngôn ngữ kể chuyện chính xác, rất thật và không cần tô điểm. Chính thứ ngôn ngữ
này đã tạo ra sức hấp dẫn đặc biệt của nghệ thuật tiểu thuyết.
Trong cuộc sống đời thường, có khi
ta bắt gặp những xung đột nội tâm rất tế nhị, nhưng
cũng rất dữ dội. Và nếu không có sự khai thác sâu sắc của tiểu thuyết chắc hẳn chúng ta không
thể nào khám phá hết được những cung bậc tình cảm của con người.
Trong tiểu thuyết, tình tiết thường là éo le. Chính những tình tiết đó sẽ giúp cho tiểu
thuyết có một sắc thái riêng biệt, chúng cho phép phân biệt tiểu thuyết với những thể loại khác.
Bởi vì những tình t
iết trong tiểu thuyết là những tình tiết được kết cấu ở một mức độ cao hơn,
tinh vi hơn. Chúng không chỉ thuật lại sự việc một cách đơn thuần theo đúng thứ tự thời gian
mà nó xảy ra
, mà điều quan trọng là đó là những tình tiết được phối hợp theo một hệ thống
nhân quả khăng khít.
Và để thực sự gây được hứng thú cho người đọc, bên cạnh lựa chọn những tình tiết éo le,
tiểu thuyết còn phải xây dựng được những nhân vật là những con người có cá tính. Bởi theo
thuyết, nhà văn có thể vừa thể hiện tính hoành tráng của lịch sử và tính anh hùng l
ãng mạn của
chất sử thi, vừa thể hiện những diễn biến tình cảm, vẻ đẹp hình thức và tâm hồn của con người.
Qua những trang văn tiểu thuyết, chúng ta cũng có thể chiêm ngưỡng những bức tranh thiên
nhiên, con người, xã hội rất đỗi sinh động, thi vị không khác gì trong hội họa. Hơn thế, tiểu
thuyết còn có thể sử dụng cả hồi kí, nhật kí, bút kí, phóng sự, thư từ… để làm chất liệu. Ch
ính
vì thế đã hình thành nên nhiều loại tiểu thuyết khác nhau. Tiểu thuyết – sử thi (kiểu Vỡ bờ của
Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng, Vùng trời của Hữu Mai…), tiểu thuyết phóng
sự (kiểu Lều chõng của Ngô Tất Tố, Bút nghiên của Chu Thiên…), tiểu thuyết hoạt kê, trong
đó có ảnh hưởng của hài kịch, biếm họa (kiểu Số đỏ của Vũ Trọng Phụng…), tiểu thuyết tự
truyện (kiểu Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Thời thơ ấu của M.Goócki, Những lời tự
thú của J.J. Rousseau…).
Tính tổng hợp đó đã đem
lại cho tiểu thuyết một mảnh đất rộng rãi. Ở đó, nhà văn tự do
khai thác thế giới xung quanh và vận dụng tối đa tài năng của mình. Với tiểu thuyết, cái bao la,
vĩ đại của cuộc sống ngoài kia hay những ngõ sâu của tâm hồn con người đều được miêu tả,
khám phá.
Trên đây là những đặc trưng tiêu biểu của tiểu thuyết. Song trên con đường hình thành,
tiểu thuyết hiện đại Việt Nam vẫn còn có những đặc điểm khác, đánh dấu giai đoạn phát triển từ
truyện kể dân gian, truyện ngụ ngôn sang truyện Nôm, từ những tiểu thuyết chịu ảnh hưởng của
tiểu thuyết cổ Trung Quốc sang tiểu thuyết hiện đại.
1.1.3. Đôi nét về lịch
sử:
Tiểu thuyết thế giới có thể chia thành hai bộ phận, đó là tiểu thuyết phương Tây và tiểu
thuyết phương Đông.
Ở phương Tây, tiểu thuyết xuất hiện vào t
hời kì xã hội cổ đại tan rã và văn học cổ đại suy
tàn. Cá nhân con người tự nhận thức về mình, nhận thấy lợi ích, quyền lợi, và nguyện vọng của
mình không phải lúc nào cũng gắn liền và hòa tan với cộng đồng xã hội cổ đại. Từ đó, nhiều
phong tục tập quán của nhân dân, từ đó có thể khái quát lên được những nguyện vọng của nhân
dân để báo
cáo với triều đình.
Thời cổ đại, ở Trung Quốc, dần dần hình thành một loạt các thể tự sự như: thần thoại, cổ
tích, truyền thuyết, tiếu thoại… Và chính những thể loại tự sự này là mầm mống của tiểu thuyết
Trung Hoa. Đến đời Tống, ở Trung Hoa, có hình thức thoại bản – một hình thức văn học diễn
xướng (giảng xướng). Hình thức văn học này xuất phát từ nhu cầu phi
êu lưu, kiếm sống của
một nhóm nghệ nhân. Họ đã tập hợp lại và cùng nhau đi đến mọi nơi, dừng lại biểu diễn võ
nghệ, kết hợp diễn xướng, đóng trò có cốt truyện, có kịch tính, có cao trào. Khi đến cao trào thì
họ dừng lại, vì thế đã gây nên sự tò mò ở người xem và hôm sau họ sẽ phải đến để xem
tiếp.
Đây chính là mầm mống của thể loại tiểu thuyết chương hồi.
Ở Trung Hoa, đời Minh – Thanh chính là thời kì hoàng kim của tiểu thuyết cổ điển
Trung Quốc. Giai đoạn này có những cuốn tiểu thuyết đặc sắc bậc nhất được gọi là “Tứ đại kì
thư” như: Tam Quốc chí, Hồng Lâu Mộng, Thủy Hử, Tây Du kí. Sau này, các nhà nghiên cứu đã
mở rộng ra với nhữn
g tác phẩm như: Nho Lâm ngoại sử, Đông Chu liệt quốc, Liêu Trai chí dị,
Kim Bình Mai.
Về tên gọi, nếu xét về triều đại thì nó có tên gọi là tiểu thuyết Minh Thanh, nếu xét về
mặt lịch sử thì gọi là tiểu thuyết cổ điển, còn xét về đặc điểm cấu trúc thì người ta gọi đó là tiểu
thuyết chương hồi. Cảm hứng chủ yếu của tiểu thuyết đời Minh là cảm hứng sử thi. Nội dung
tiểu thuyết là dựng lên những bức tranh hoành tráng, qui m
ô, trong đó có những nhân vật phi
thường. Còn tiểu thuyết đời Thanh lại nghiêng về cảm hứng thế sự, chuyển cái nhìn vào số
phận riêng tư, luân lý và thế thái nhân tình (Hồng Lâu Mộng, Chuyện làng Nho…). Tuy nhiên,
giữa hai giai đoạn tiểu thuyết này có sự chuyển tiếp, có những tác phẩm với vai trò là cầu nối.
Một trong những cầu nối tiêu biểu là tác phẩm Tây Du kí. Ở tiểu thuyết này, vừa có cảm hứng
sử thi và con người phi thường, vừa có cảm hứng thế sự và nhân vật đời thường (nhân vật Trư
Bát Giới: ham ăn, mê gái, trung thành với thầy nhưng lười biếng…).
Đến cuối thế kỉ XIX, khi nhìn lại văn xuôi Quốc ngữ, chúng t
a không thể không nhắc đến
tiểu thuyết Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887). Đây là cuốn tiểu thuyết
viết bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện đầu tiên ở Nam Kỳ và cũng là tác phẩm đầu tiên viết theo
kiểu tiểu thuyết phương Tây. Trong bối cảnh văn học Nam Bộ lúc ấy, Truyện Thầy Lazarô
Phiền được xem như là một sự cách tân về cảm hứng sáng tạo, giọng điệu và lối viết tiểu
thuyết. Trong tiểu thuyết truyền thống, lối tự sự theo dòng thời gian một chiều mà ta thường bắt
gặp là: hội ngộ - lưu lạc - đoàn viên. Nguyễn Trọng Quản đã không đi theo trật tự ấy mà lấy
trạng thái tâm
lí làm đối tượng miêu tả và sự ăn năn, day dứt làm chủ đề.
Vào những năm đầu thế kỉ XX, tiểu thuyết bắt đầu thu hút được sự chú ý của đông đảo
quần chúng. Trong giai đoạn này, tiểu thuyết được hình thành qua ba chặng: dịch thuật, phóng
tác và sáng tác. Bước đầu là dịch thuật những tiểu thuyết của Trung Quốc và phương Tây để
làm
quen, học hỏi. Chặng thứ hai là phóng tác, dựa vào cốt truyện rồi tổ chức lại kết cấu, họa
lại các tình tiết và quan trọng là Việt hóa các yếu tố: không gian, thời gian và nhân vật…Và đã
có những tiểu thuyết mô phỏng theo cốt truyện Tàu của Nguyễn Tử Siêu, Tân Dân Tử…, và
không ít tiểu thuyết mô phỏng tiểu thuyết Pháp của Hồ Biểu Chánh như Chúa tàu Kim Quy,
Cay đắng mùi đời… Những tiểu thuyết đó đã được Việt hóa, và ít nhiều mang tính cách An
Nam. Sự mô phỏng đó không tránh khỏi những bất cập, nhưng theo như Vương Trí Nhàn nhận
xét thì nó cũng đã “cướp được một số đông độc giả của các tiểu thuyết Tàu mà bắt đầu biến đổi
được chút ít cái sở kiến của quần chúng An Nam” [56, tr. 62]
Đi qua giai đoạn phóng tác, các tác giả chuyển sang sáng tác. Từ 1920 đến 1930 được
xem là những năm c
huẩn bị và hình thành của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại với những cuốn
tiểu thuyết quốc ngữ như: Kim Anh lệ sử (1924) của Trọng Khiêm, Tố Tâm (1925) của Hoàng
Ngọc Phách, Quả dưa đỏ (1925) của Nguyễn Trọng Thuật, Tiền bạc, bạc tiền (viết 1925, in
1926) của Hồ Biểu Chánh… Nhìn chung, trong giai đoạn này, tiểu thuyết Nam Bộ ra đời sớm
hơn và phát triển hơn. Nghệ thuật tiểu thuyết Nam
Những mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Việt Nam thời kỳ 1930 –
1945, thực tiễn đấu t
ranh của phong trào cách mạng cũng như ánh sáng của chủ nghĩa xã hội
khoa học đã giúp các nhà văn hiện thực phê phán thấy rõ hơn vấn đề giai cấp và cuộc đấu tranh
giai cấp trong xã hội. Lúc này, các nhà tiểu thuyết hiện thực phê phán thông qua những tác
phẩm của mình, đã lên án một cách gay gắt cái xã hội thực dân nửa phong kiến ở chặng đường
tan rã của nó. Thời kỳ này, nội dung chủ yếu của tiểu thuyết hiện thực là tập trung vào những
vấn đề xã hội: cuộc đời cùng khổ của tầng lớp nông dân (Tắt đèn, Bước đường cùng, Vỡ đê),
công nhân (Lầm than), những thủ đoạn áp bức, bóc lột của bọn cường hào (Giông tố, Cái thủ
lợn).
Thời kỳ 1936 – 1939, tuy có những hạn chế về điều kiện sáng tác, gặp phải sự kiểm
duyệt gay gắt của bọn thực dân Pháp, nhưng ít nhiều, các nhà tiểu thuyết cũng cố gắng hoàn
thành nhiệm vụ “người thư kí t
rung thành của thời đại”. Họ đả kích bọn kẻ thù của cách mạng
bằng cách lên án những thối nát, tàn nhẫn, thói dâm ô của chúng.
Trong Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã phát hiện và vạch trần được một số
mặt của cái xã hội thực dân phong kiến t
hời thuộc Pháp: những tên công sứ nguy hiểm, những
tên thực dân cáo già, các chính sách đàn áp, lừa phỉnh, chủ trương “chấn hưng Phật giáo”, cái
sa đọa của phong trào Âu hóa…
Với Bước đường cùng, Lá ngọc cành vàng…, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan lại
nhằm vào bọn quan lại với một bút pháp phóng đại sinh động. Có thể nói không quá lời rằng,
tiểu thuyết của ông như là “những bức tranh triển lãm các kiểu quan”.
Bọn địa chủ, cường hào ở nông thôn lại bị đả kích mạnh mẽ trong những tác phẩm của
Ngô Tất Tố. Với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã góp
“một tiếng nói đanh thép đòi hủy bỏ chế độ thuế
thân và gấp rút cải thiện đời sống lam lũ, cực khổ của nông dân ở thôn quê”, vì thế mà Tắt đèn
được xem là “một tác phẩm lớn có tính nhân dân sâu sắc nhất trong tiểu thuyết hiện thực phê
phán Việt Nam” [12, tr.108].
đắn con người bình thường mà thường chỉ nhấn mạnh mặt tầm thường bản năng của con người
(Phá vây, trên mảnh đất này, Mở hầm…).
Và những hạn chế đó đã được khắc phục nhanh chóng trong các tiểu thuyết chống Mỹ
cứu nước.
Tiểu thuyết chống Mỹ chủ yếu tập trung vào các chủ đề chính như: Tổ quốc và chủ nghĩa
xã hội, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quần chúng. Trong khói
lửa chiến tranh, một loạt
những tiểu thuyết đã ra đời, kịp thời phản ánh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân
tộc ta. Tiêu biểu như: Vào lửa (1966), Mặt trận trên cao (1967) của Nguyễn Đình Thi, Cửa
sông (1967) của Nguyễn Minh Châu, Sao băng (1968) của Nguyễn Gia Nùng, Đường trong
mây, Ra đảo (1970) của Nguyễn Khải, Vùng trời (1971) của Hữu Mai, Dấu chân người lính
(1972) của Nguyễn Minh Châu, Thôn ven đường (1973) của Xuân Thiều… Nhìn chung, tiểu
thuyết chống Mỹ cứu nước đã “đi sâu vào các mũi nhọn của cuộc sống và trực tiếp m
iêu tả cái
hiện thực nóng bỏng tính chất thời sự”. Khi miêu tả con người, tiểu thuyết chống Mỹ cứu nước
đã phản ánh được sự lớn mạnh và phát triển không ngừng của họ qua những thử thách của
chiến tranh cách mạng.
Cũng như ở miền Bắc, tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền Nam cũng gặt hái
được những thành tựu rất đáng kể, cùng góp phần “xây dựng một nền t
iểu thuyết Việt Nam
mang tính chất dân tộc và hiện đại”. Sự có mặt của những cuốn tiểu thuyết như: Hòn đất (1966)
của Anh Đức, Gia đình má Bảy (1968) của Phan Tứ, Ở xã Trung Nghĩa (1969) của Nguyễn
Thi, Rừng U Minh (1970) của Trần Hiếu Minh, Đất Quảng (1971) của Nguyễn Trung Thành,
Mẫn và tôi (1972) của Phan Tứ… đã ch
o thấy tiểu thuyết đang có những bước phát triển mạnh
mẽ.
Đến những năm 80, do có độ lùi về thời gian, cộng thêm độ chín của tài năng khiến cho
các tác gia tiểu thuyết một lần nữa có thể nhìn bao quát toàn cảnh hai cuộc kháng chiến, “miêu
tả chiến tranh một cách toàn diện và sâu sắc hơn, không chỉ tập trung vào những thắng lợi vĩ đại
mà cả những mất mát hy sinh, không phải chỉ ở phía ta mà cả ở phía địch…”. Từ đây, tiểu
[12,
tr.276].
Trên đây là đôi nét về lịch sử hình thành và phát triển của thể loại tiểu thuyết nhìn một
cách khái quát nhất. Trong quá trình đó, tiểu thuyết Việt Nam không tránh khỏi những hạn chế
nhất định. Nhưng với những thành tựu đã đạt được rất đáng phấn khởi, nó góp phần đẩy mạnh
sự phát triển không ngừng của văn xuôi Việt Nam, góp phần hiện đại hóa nền văn học và hội
nhập với văn học thế giới.
Tiểu thuyết hôm
nay có được những thành tựu đó là nhờ vào đội ngũ những nhà văn tài
năng, tâm huyết. Mặt khác, họ phải luôn ý thức được rằng tiểu thuyết là vì con người, tức là yếu
tố con người phải có trong tiểu thuyết, tiểu thuyết phải là những cảm giác, suy nghĩ của con
người và viết tiểu thuyết không bao giờ là chỉ để vui vẻ vì như thế người viết sẽ không tìm
cho
mình được một cách viết riêng. Nhìn vào những thành công mà tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
có được, chắc hẳn ông đã nắm rất rõ những yếu tố cơ bản này của tiểu thuyết.
1.2. Khái quát về tiểu thuyết Ma Văn Kháng
1.2.1. Hoàn cảnh xã hội, văn học và sự xuất hiện của Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936, tại làng
Kim Liên, thuộc Kẻ Chợ (nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội). Vùng quê
ấy gọi là “Ô Đồng Lầm” – một cái tên gợi lên khá rõ cái lam lũ cực nhọc.
Ở tuổi thiếu niên, Đinh Trọng Đoàn tham gia quân đội, sau đó được đi học ở khu học xá
Nam Ninh (Trung Quốc). Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm
1954, ông đã xung phong lên
vùng đất Tây Bắc, khai hoang, mở trí. Đây là một bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc đời
ông. Ông từng tâm sự rằng: “Tôi ra đi theo biến cố của mốc lịch sử hào hùng năm 1954, mở
đầu thời kỳ hòa bình lập lại, thế hệ thanh niên miền Bắc theo tiếng gọi của những Đan cô,
Paven Cooxaghin mang sứ mệnh cao đẹp đi đến những vùng khó khăn nhất của đất nước. Sống
nhiệt thành, lửa dân tộc bùng lên, đi như viên đạn thẳng đầu, ấy là tâm thế của cả một thế
hệ…” [ 80
, tr.41].
Ma Văn Kháng phản ánh vào trong tác phẩm vẫn là cuộc sống và con người miền núi. Có thể
nói, đây là giai đoạn chiêm nghiệm, là sự hồi tỉnh của tiềm thức, nó thôi thúc nhà văn phải viết
và viết bằng tất cả sự trải nghiệm về cuộc đời.
Viết nhiều, viết khỏe và được bạn đọc đón nhận ở cả hai thể loại tiểu thuyết và truyện
ngắn. Từ khi bước vào nghề văn cho đến nay, Ma Văn Kháng đã có gần năm mươi năm cầm
bút. Cùng với thời gian, các tác phẩm của ông ra đời đã để lại cho độc giả những ấn tượng thật
khó quên. Sự nghiệp văn c
hương của ông được đán
h dấu bằng truyện ngắn đầu tay mang tên Phố
cụt (1961) và tiểu thuyết đầu tay in năm 1976, nhưng ông bộc bạch rằng: “tự coi là qua được kỳ
tập dượt là từ những năm 80” [63, tr. 206]. Bởi vậy, sau những năm 80, nhiều tác phẩm có giá trị
lần lượt ra đời và Ma Văn Kháng đã dần khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn cũng như
trong lòng người đọc.
Trong thể tài tiểu thuyết, một thể tài văn xuôi được Ma Văn Kháng đặc biệt lưu tâm tíc
h
lũy, được đánh dấu với “đứa con tinh thần đầu lòng” là Gió rừng. Nhìn một cách bao quát, sự
nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng có thể chia thành hai giai đoạn, trước và sau những năm
đầu của thập niên 80. Tuy nhiên, mọi sự phân chia ở đây cũng chỉ mang tính tương đối. Và ở
mỗi giai đoạn, ông đều có những đóng góp nhất định cho văn học nước nhà và để lại dấu ấn
khó quên t
rong lòng người đọc.
Trong giai đoạn đầu, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng tập trung viết về đề tài miền núi.
Nhìn chung, ở giai đoạn này, tiểu thuyết của ông còn mang khuynh hướng sử thi rất rõ, nhưng
ông đã có đóng góp thực sự cho mảng văn học viết về miền núi.
Giai đoạn sau, có thể xem
Mưa mùa hạ (1982) như là một dấu mốc đánh dấu bước
chuyển trong đời văn Ma Văn Kháng. Lúc này, tiểu thuyết của ông đã có sự thay đổi rõ rệt về
đề tài, tư duy nghệ thuật, đó là những tiểu thuyết hướng về đời sống của người dân thành thị
đương thời với những mặt tích cực, tiêu cực của nó.
Qua từng chặng đường sáng tác, chúng ta có thể thấy rõ sự vận động của tiểu thuyết Ma
. Và với hơn hai mươi năm cần cù tích lũy tư
liệu, vốn sống, Ma Văn Kháng đã có những tác phẩm tiêu biểu như: Gió rừng (1976), Đồng
bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải (1983), Trăng non (1984) và Gặp gỡ ở La Pan Tẩn
(2001). Tuy chưa phải là nhà văn viết về miền núi hay nhất, nhưng những tác phẩm của ông đã
“làm sống lại bức tranh đời sống hiện t
hực mang tính chất sử thi về con đường của các dân tộc
miền núi phía bắc làm cuộc đổi đời, đi theo cách mạng mà từng người lao động lương thiện giữ
gìn và phát huy được phẩm cách của mình, mỗi cộng đồng dân tộc từng bước tiến đến ấm no,
hạnh phúc và văn minh” [35, tr.10].
Gió rừng là nét phác thảo về cuộc sống của đồng bào Dao đỏ, ở xã Chin San đang trong
thời kì thực hiện chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp, kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ.
Còn Trăng non, như chính tác giả đã thú nhận, nó là “một vòm trời cổ tích”. Miêu tả công cuộc
xây dựng một vùng kinh tế mới lên sản xuất lớn, một cuộc sống đầy gian lao, vất vả nhưng có
sức hút mãnh liệt đối với những khát khao của bao kiếp người bao đời khốn khó, có sức lay
động những tâm
hồn u mê và thức tỉnh cả những kẻ lầm đường lạc lối của người dân Xã Hồ.
Trong cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập của Tổ Quốc, trong gian khổ của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, miền núi và miền xuôi đã sát cánh cùng nhau, kiên trì thực hiện lí tưởng
độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái và nhân văn. Những tác phẩm của Ma Văn Kháng ra đời nối
tiếp nhau như để “làm sáng lên bức tranh lịch sử - xã hội hào hùng, bi tráng của một vùng miền
núi phía Tây Bắc nước ta trọn một nửa t
hế kỷ, từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống
Pháp đến thời kì xây dựng trong hòa bình và chống Mỹ cứu nước” [35, tr.11]. Đồng bạc trắng
hoa xòe và Vùng biên ải có thể xem
như một bộ tiểu thuyết liên hoàn hai tập, phản ánh một
cách sinh động hiện thực lịch sử đời sống của đồng bào dân tộc Lào Cai trong bối cảnh đêm
trước cách mạng và trong những năm kháng chiến. Đến Gặp gỡ ở La Pan Tẩn một câu chuyện
về người thầy giáo Thiêm tận tụy, hết lòng cho sự nghiệp khai sáng bộ tộc Mèo La Pa Tẩn thì
bối cảnh câu chuyện chủ yếu vẫn là cuộc sống m
iền núi. Thế mới biết, miền núi với Ma Văn
Luật pháp trong tay Chao, được văn bản hóa với các điều luật chi tiết, lạ lùng như: “Chó cắn
seo phái chủ chó bị phạt một đồng, cắn binh thầu tăng lên hai đồng. Ngựa vào ruộng nhà quan,
bất kể đã vặt ngọn t
huốc phiện nào chưa, cứ theo lệ, phạt hai lạng thuốc và năm đồng bạc. Mỗi
năm, mỗi nhà dân trong châu phải góp cho nhà quan một cân thóc, một cân gà, gọi là thóc
khách, gà khách; ai chậm nộp, phạt gấp đôi... …” [35, tr.175]. Cái hà khắc, tàn bạo của chế độ
thổ ty thể hiện ngay trong những luật lệ ấy. Chỉ chừng ấy thôi, người đọc cũng có thể hình dung
về cuộc sống của đồng bào dân tộc trong xã hội cũ. Và chính những trang viết như thế về
những thổ ty như La Văn Đờ, Nông Vĩnh Yêng trong Đồng bạc trắng hoa xòe đã đưa chúng ta
trở về với chế độ phong kiến t
hế tập phiên thần một thời.
Sức lôi cuốn trong tiểu thuyết viết về miền núi của Ma Văn Kháng, không chỉ là ở những
tư liệu, những thông tin mà tác giả đã dày công tì
m hiểu, góp nhặt… mà nó còn nằm ở những
trang viết đặc sắc về thiên nhiên, lối sống, phong tục tập quán mang dấu ấn xứ sở của vùng đất
rẻo cao.
Với ngòi bút trữ tình, thiên nhiên vùng cao đã đi vào những trang tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng đầy tính nguyên sơ và thơ mộng. Chúng ta như đi vào một thế giới xa lạ khi đọc những
câu văn tác giả viết về xứ Hmông: “Xứ lạ này, trâu trông thấy người mặc áo trắng, tưởng con
vật lạ, xôn
g tới giương sừng đòi tỷ thí”. Khi đến tận nơi lại “có cảm giác đã được đặt chân tới
cái ngõ hẻm tận cùng trời bị lãng quên của vũ trụ”. Ngọn gió xứ này cũng làm ngất ngây hồn
người, “gió xuân hây hẩy mùi men rượu, gió hè nồng đậm hương trà, gió thu mang mùi cây lá
thơm và mùa đông gió chở múi tuyết băng”. Trên bản làng có những đêm trăng rất đỗi mộng
mơ: “Trăng tãi sáng.
Dưới làng mờ mờ bóng nhà. Nước ở các mảnh ruộng bậc thang hất lên
long lanh ánh gương soi”. Xứ này còn đẹp ở trong những câu chuyện cổ, trong những câu hát
trữ tình, hồn nhiên: “Đêm qua đêm tàn. Ta lê bước về nhà. Hồn ta còn ngủ ở thắt lưng em”, hay
“Nếu ta là hạt sương, ta xin tan trên tay nàng. Nếu ta là hạt mưa, ta xin tan trên chân nàng”…
Đời sống của những người dân miền núi còn nhiều lắm những nỗi nhọc nhằn, nhưng
Cuộc sống khốn khó của đồng bào vùng cao đi vào tác phẩm của Ma Văn Kháng một
cách rất bình dị. Ông không hề thi vị hóa, lý tưởng hóa cuộc sống ấy. Nơi ấy, lịch sử luôn có
những biến động thăng trầm
. Hình ảnh khu chợ súng - một biểu trưng sinh động của sự loạn lạc
đã thể hiện rất rõ điều đó. Từ những phong tục, tập quán cổ hủ, lạc hậu: thờ ma, cúng ma chữa
bệnh, tục nối dây, tục cướp vợ…, bức tranh đời sống tăm tối, đau thương của đồng bào rẻo cao
đã được tác giả tái hiện một cách sống động, khiến người đọc cứ ám ảnh mãi về miền đất ấy. Sự
tối tăm của đời sống nơi đây còn thể hiện ở những niềm tin thơ ngây vào một đấng tối cao nào
đấy ngoài con người, mà với họ là rất đỗi thiêng liêng. Họ thờ “Vua Mèo” vì họ cho rằng một
đấng tối cao có nhiều phép lạ như thần thánh, chỉ cần “phất tay thì lau thành m
ía”, “lá chuối
thành vải”, “giậm chân là cỏ thành ngô”. Thế mới hiểu được rằng, cái nghèo đói cơ cực luôn
vây bủa, bám chặt vào từng cuộc đời, từng thành viên của bộ tộc. Những con người tội nghiệp
ấy chỉ có thể tìm được cơm no, áo ấm trong niềm tin mù quáng, trong trí tưởng tượng hư ảo mà
thôi.
Nam Cao từng nói: “Sống đã rồi hãy viết”. Câu nói này rất đúng với trường hợp của Ma
Văn Kháng. Ông gắn bó với dân tộc Mèo, ăn ở, sinh hoạt cùng họ, nên khi ông viết về họ,
người đọc cứ ngỡ ông là người Mèo chính gốc. Ông đến với vùng rừng núi xa xôi
, hiểm trở ấy
bằng cả trái tim tình nguyện của một người muốn đi tìm vẻ đẹp trong chiều sâu nhân bản, trong
cái hoang sơ của núi rừng. Ma Văn Kháng luôn nghĩ rằng: phải sống hết mình vì nhân dân
trước rồi sau đó mới có thể làm một cái gì thích hợp với sở trường của mình. Và thực tiễn sá
ng
tác của ông đã phản ánh đúng điều nhà văn suy nghĩ: “Sự ra đời của những trang viết ở ngay vị
trí công tác là kết quả ở cả hai phía: người viết văn và người cán bộ nhưng hài hòa làm một từ
gốc rễ sâu xa; một tình yêu, một cách cảm nghĩ và một lối sống đúng đắn. Tình yêu, cách cảm
nghĩ và lối sống ấy được chung đúc lại thành ý thức trách nhiệm của người cầm bút trong việc
tự khẳng định phong cách nghệ thuật của mình trên cơ sở bảo đảm tính chất dân tộc đậm đà
cho tác phẩm - hai y
êu cầu nhất thiết phải được gắn kết một cách nhuần nhuyễn trong một hiện