ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LÊ HỒNG HẠNH
CHẤT LƢỢNG VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI (FDI) VÀO TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU Hà Nội - 2015
Cán bộ hƣớng dẫn
TS. Phạm Xuân Hoan
Hà Nội - 2015
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ CHẤT LƢỢNG VỐN FDI VÀO ĐỊA PHƢƠNG 4
1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
1.2. Cơ sở lý luận về chất lượng vốn FDI vào địa phương 8
1.2.1. Tổng quan về vốn FDI 8
1.2.2. Chất lượng vốn FDI 15
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng vốn FDI vào địa phương 24
1.2.4. Kinh nghiệm cuả một số nước Châu Á trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài 29
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1. Cơ sở phương pháp luận cho nghiên cứu luận văn 33
2.2. Các phương pháp nghiên cứu được sự dụng trong luận văn 33
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG VỐN FDI TẠI TỈNH BẮC NINH 36
3.1. Thực trạng thu hút vốn FDI tại tỉnh Bắc Ninh 36
i
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Kƣ hiệu
Nguyên nghĩa
1
BQL
Ban quản lư
2
CBCC
Cán bộ công chức
3
CCLĐ
Cơ cấu lao động
4
CN
Công nghiệp
5
CNH, HĐH
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
6
DN
Doanh nghiệp
7
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
8
DNTN
Tập đoàn đa quốc gia
19
USD
Đô la Mỹ
20
UBND
Uỷ ban nhân dân
21
VĐK
Vốn đăng kư
22
VTH
Vốn thực hiện
23
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
24
XHCN
Xă hội chủ nghĩa
25
XTĐT
Xúc tiến đầu tư ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Bảng
Nội dung
Quy mô các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
45
6Bảng 3.6
Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo đối tác
46
7Bảng 3.7
Giá trị khu vực FDI trong GDP toàn tỉnh
49
8Bảng 3.8
Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Bắc Ninh
50
9Bảng 3.9
Năng suất vốn của nền kinh tế, khu vực FDI và khu vực ngoài FDI
52
10Bảng 3.10
Số lượng và cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn năm 2012
62
16Bảng 3.16
Số lượng và CCLĐ theo giới tính, trong tỉnh và nhập cư 2012
63
17Bảng 3.17
Lương bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp
63
18Bảng 3.18
Mức chênh lệch về lương của các nhóm lao động năm 2012
63
19Bảng 3.19
Thông tin điều tra doanh nghiệp về chấp hành môi trường
64
Hình 3.4
Năng suất lao động các khu vực kinh tế tại tỉnh Bắc Ninh
53
5Hình 3.5
Tỷ trọng nộp ngân sách khu vực FDI và kinh tế trong nước vào
thu ngân sách toàn tỉnh giai đoạn 2001 - 2012
60
1
2
lượng. Dòng vốn FDI vào Bắc Ninh trên thực tế còn nhiều vấn đề phải được xem
xét lại, đặc biệt là vấn đề chất lượng dòng vốn này như: cơ cấu dòng vốn còn nhiều
bất cập, hiệu quả đầu tư của nhiều dự án chưa cao, khả năng duy trì tính bền vững
của dòng vốn cũng như tác động của dòng vốn đến các mục tiêu thu hút vốn vào
phát triển kinh tế - xă hội của tỉnh Bắc Ninh còn nhiều vấn đề. Do đó, trong những
năm gần đây, kết quả thu được từ việc thu hút FDI của tỉnh Bắc Ninh mặc dù đă
góp phần làm thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế, và nâng cao mức sống, giải
quyết việc làm cho người lao động, nhưng còn nhiều vấn đề nảy sinh từ chất lượng
dòng vốn chưa cao đang có xu hướng trầm trọng hơn, tiêu biểu như sau:
- Sự mất cân đối trong phát triển giữa các ngành kinh tế do dòng vốn FDI đưa
đến, làm ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-
HĐH của tỉnh.
- Mục tiêu chuyển giao công nghệ từ việc huy động dòng vốn FDI chưa thực
hiện được, tình hình thực hiện nội địa hóa công nghệ diễn ra còn chậm, năng lực
cạnh tranh công nghệ của tỉnh chưa được nâng cao. Những lĩnh vực đầu tư vào tỉnh
Bắc Ninh còn mang nặng tính lắp ráp, gia công.
- Chưa thực sự tạo ra động lực cho các doanh nghiệp nói riêng và công nghiệp
của tỉnh phát triển. Kết quả sử dụng vốn đầu tư từ nước ngoài của tỉnh Bắc Ninh
còn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa tận dụng được lợi thế, cơ cấu vốn FDI
chưa hợp lư.
- Một số bất cập về hiệu ứng xă hội của dòng vốn FDI: nhiều dự án lớn sử dụng
nhiều đất, nhưng sử dụng chủ yếu là nhiều lao động giản đơn, đóng góp vào ngân sách
của tỉnh còn hạn chế; Tình trạng tranh chấp lao động và đình công còn diễn ra; xuất hiện
nguy cơ ô nhiễm môi trường tại một số dự án FDI.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài:“Chất lượng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) vào tỉnh Bắc Ninh” làm nội dung nghiên cứu cho luận
văn tốt nghiệp với mong muốn nghiên cứu và phân tích thực trạng thu hút vốn FDI,
đi sâu vào khía cạnh chất lượng dòng vốn, đánh giá đúng mức độ chất lượng dòng
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ CHẤT LƢỢNG VỐN FDI VÀO ĐỊA PHƢƠNG
1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Lĩnh vực FDI đă và đang được nhiều tác giả nghiên cứu làm rơ thể hiện
trong các đề tài luận văn, luận án, các hội thảo khoa học. Một số công trình liên
quan đến đề tài luận văn mà tác giả được biết gồm:
* Luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ
- Phạm Thu Phương (2007), “Chuyển đổi các hình thức đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam” đă nêu khái niệm, đặc trưng và các yếu tố quy định việc
chọn lựa, chuyển đổi các hình thức đầu tư FDI, nghiên cứu kinh nghiệm phát triển
và chuyển đổi các hình thức FDI của một số nước như: Trung Quốc, Thái Lan,
Inđônêxia, Malaysia. Nghiên cứu các chính sách chuyển đổi các hình thức FDI của
Việt Nam từ năm 1993 đến 1997, phân tích, đánh giá các hình thức FDI và tiến
trình chuyển đổi các hình thức FDI của Việt Nam, từ đó đưa ra nhóm giải pháp về
pháp luật chính sách, nhóm giải pháp về công tác quản lư, nhóm giải pháp của các
chủ đầu tư nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của việc chuyển đổi các hình thức
FDI ở Việt Nam.
- Nguyễn Quang Vinh (2007), “Thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập”, đă hệ thống hóa một số vấn đề lư
thuyết và kinh nghiệm thế giới về thu hút đầu tư nước ngoài. Tổng kết tình hình thu
hút đầu tư trong những năm qua, đánh giá những thành công, hạn chế và cách thức
hoạt động, trên cơ sở đó xác định rơ các quan điểm, định hướng thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam là thành viên WTO và những tác động của
các cam kết quốc tế về đầu tư của luật đầu tư và luật doanh nghiệp.
- Nguyễn Tử Quỳnh (2007), “Các giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007- 2015” đă phân tích, đánh giá tiềm năng,
thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997-
2006 nhằm xác định các khó khăn cản trở nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Bắc
6
- Hà Thanh Việt (2007), “Thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên địa bàn duyên hải miền trung” đăphân tích luận giải về các nhân tố ảnh hưởng
đến khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn FDI trên một vùng kinh tế của một
quốc gia, khái quát được bối cảnh kinh tế- xă hội của vùng duyên hải miền trung và
nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vốn FDI trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng
về hiệu quả của việc thu hút và sử dụng vốn FDI tại vùng duyên hải miền trung và
những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên. Từ đó đề ra ba nhóm giải pháp
và có những giải pháp đặc thù áp dụng riêng cho vùng duyên hải miền trung.
- Nguyễn Thị Ái Liên (2011), “Môi trường đầu tư với hoạt động thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” đă đưa ra bức tranh tổng thể lư luận về
môi trường đầu tư gồm khái niệm, đặc điểm, phân loại, các yếu tố của môi trường
đầu tư, các chỉ số môi trường đầu tư mà các nghiên cứu khác chỉ đề cập phần nào và
chưa đầy đủ. Luận án đă đề xuất quy trình đánh giá, cải thiện môi trường đầu tư tại
Việt Nam.
* Các đề tài cấp Bộ:
- Trương Thái Phiên (2000), “Chiến lược đổi mới chính sách huy động các
nguồn vốn nước ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế- xă hội giai đoạn 2001-
2010” đă đưa ra các giải pháp chủ yếu thu hút nguồn vốn FDI như: đổi mới cơ cấu
FDI nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch đối
với FDI, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách quản lư nhằm cải thiện
môi trường đầu tư nước ngoài, mở rộng hợp tác đầu tư nước ngoài theo hướng đa
phương hóa, đa dạng hóa, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải tiến công tác tổ
chức bộ máy quản lư, phân cấp và cơ chế thu hút vốn, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thúc
đẩy hoạt động hỗ trợ, xúc tiến FDI, tăng cường công tác bảo hộ sở hữu trị tuê, phát
triển và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong nước phục vụ có hiệu
quả hoạt động FDI.
- Nguyễn Ngọc Định (2002), “Xây dựng một lộ trình thu hút vốn FDI vào
Việt Nam giai đoạn 2003- 2010” đă nghiên cứu, phân tích các nguyên nhân gây ra
đề ra giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn FDI giai đoạn 2007- 2015. Ở luận văn
này, tác giả cũng nghiên cứu, phân tích thực trạng về vốn FDI trên địa bàn tỉnh Bắc,
nhưng tập trung ở khía cạnh chất lượng trong giai đoạn 2001- 2012, từ đó đề xuất
8
những giải pháp nâng cao chất lượng vốn FDI vào tỉnh Bắc Ninh áp dụng cho giai
đoạn đến năm 2020.
* Đóng góp dự kiến:
- Làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về chất lượng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI).
- Cung cấp hệ thống thông tin, số liệu về thực trạng đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Bắc Ninh trong giai đoạn 2001- 2012.
- Chỉ ra những hạn chế về chất lượng vốn FDI và nguyên nhân của những
hạn chế đó.
- Đưa ra một số định hướng, giải pháp thúc đẩy phát triển chất lượng đầu tư
trực tiếp nước ngoài giúp chính quyền địa phương có các chính sách thích hợp trong
nâng cao vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Kết quả nghiên cứu cũng góp phần khẳng định việc tăng cường thu hút FDI
tại Bắc Ninh cần gắn quy mô với chất lượng và hiệu quả sử dụng, chứ không thu
hút bằng mọi giá.
1.2. Cơ sở lý luận về chất lƣợng vốn FDI vào địa phƣơng
1.2.1. Tổng quan về vốn FDI
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của vốn FDI
Khái niệm về vốn FDI:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có ư kiến cho
rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) là việc các công ty
đa quốc gia tiến hành đầu tư ở nước sở tại thông qua việc thiết lập liên doanh với các
công ty của nước sở tại, mua các công ty của nước sở tại, và có thể thông qua việc thiết
lập chi nhánh của mình tại nước sở tại.
Theo Nguyễn Như Bình (2004, trang 4) thì “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình
nước tiếp nhận đầu tư. Chủ sở hữu vốn FDI tham gia quản lư, điều hành quá trình
sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng
với phần vốn góp đó. Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư dưới hình
thức 100% vốn thì có toàn quyền quyết định, nếu góp vốn thì quyền này phụ thuộc
vào mức độ góp vốn. Thu nhập từ hoạt động đầu tư này phụ thuộc hoàn toàn vào
10
kết quả sản xuất kinh doanh, mức độ lăi được chia theo tỷ lệ góp vốn của các bên,
nếu bị lỗ thì trách nhiệm của các bên cũng tương ứng với phần góp vốn đó.
Thứ hai, vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư
nước ngoài dưới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả
vốn vay của các nhà đầu tư để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư
được trích lại từ lợi nhuận sau thuế của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì
vậy nước sở tại phải có chính sách về tài chính phù hợp, tránh trường hợp một số
nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng chỉ đưa một lượng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến
hành vay vốn tại nước sở tại để thực hiện đầu tư, mở rộng kinh doanh làm ảnh
hưởng đến mục đích thu hút đầu tư nước ngoài của nước sở tại.
Thứ ba, vốn FDI là vốn đầu tư phát triển dài hạn, trực tiếp từ bên nước ngoài
vì vậy đối với nước tiếp nhận đầu tư thì đây chính là nguồn vốn dài hạn bổ sung hết
sức cần thiết trong nền kinh tế. Vốn FDI là dòng vốn quốc tế gắn liền với việc xây
dựng các công trình, nhà máy, chi nhánh sản xuất vì thế thời gian đầu tư dài, lượng
vốn đầu tư lớn, có tính ổn định cao tại nước tiếp nhận đầu tư. Đây là đặc điểm phân
biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài. Đầu tư gián
tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư đến các
nước khác nhưng không nắm quyền quản lư, điều hành, thông qua các công cụ tài
chính như cổ phiếu, trái phiếu Đặc điểm của đầu tư nước ngoài gián tiếp là có thời
gian hoạt động ngắn, biến động bất thường hơn vì đây là hình thức mà nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác,
không trực tiếp tham gia quản lư hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp có tính thanh
khoản cao hơn so với đầu tư trực tiếp, dễ dàng thu lại số vốn đầu tư ban đầu khi
quản lư đặc biệt khuyến khích dòng vốn này. Tuy nhiên, việc thu hút vốn FDI phải
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế chung của từng địa phương, từng vùng và
cả nước. Vốn FDI vào địa phương là hình thức nhà đầu tư nước ngoài dịch chuyển
tiền, công nghệ,…của nhà đầu tư vào địa phương đồng thời nắm quyền quản lư,
điều hành với mục đích thu được lợi ích kinh tế từ địa phương tiếp nhận đầu tư. Thu
hút vốn FDI vào địa phương là việc áp dụng các biện pháp, chính sách để các nhà
đầu tư nước ngoài đem vốn đến đầu tư trực tiếp bằng các hình thức khác nhau phù
hợp với lợi ích chung của cả nhà đầu tư và địa phương tiếp nhận.
12
Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ về Quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư là cơ sở pháp lư quan trọng
để triển khai mạnh mẽ việc giao quyền cho các địa phương trong việc cấp phép và
quản lư các dự án FDI. Việc phân cấp mạnh mẽ cho các địa phương đă đem lại sự
chủ động sáng tạo, linh hoạt cho địa phương trong công tác vận động thu hút và
quản lư hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ nhất là các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu
tư, bao gồm:
- Các dự án đầu tư không phân biệt nguồn vốn, quy mô đầu tư trong những
lĩnh vực: Xây dựng và kinh doanh cảng hàng không; vận tải hàng không; Xây dựng
và kinh doanh cảng biển quốc gia; Thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí; thăm dò,
khai thác khoáng sản; Phát thanh, truyền hình; Kinh doanh casino; Sản xuất thuốc lá
điếu; Thành lập cơ sở đào tạo đại học; Thành lập khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao và khu kinh tế.
- Các Dự án đầu tư không thuộc các lĩnh vực trên, không phân biệt nguồn
vốn và có quy mô vốn đầu tư từ 1.500 tỷ đồng Việt Nam trở lên trong những lĩnh
vực sau: Kinh doanh điện; chế biến khoáng sản; luyện kim; Xây dựng kết cấu hạ
tầng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; Sản xuất, kinh doanh rượu, bia.
- Các dự án trong các lĩnh vực sau: Kinh doanh vận tải biển; Thiết lập mạng
và cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát, viễn thông và internet; thiết lập mạng
- Đưa lại lợi ích gì cho địa phương
- Có làm tổn hại đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến cuộc sống của
nhân dân hay không.
Thu hút vốn FDI vào địa phương phải tránh tư tưởng chạy theo quy mô, tốc
độ, thu hút bằng mọi giá mà phải kết hợp, chú trọng đến hiệu quả sử dụng vốn FDI
với mục đích gắn kết với sự phát triển nhanh và bền vững, giải quyết đúng đắn mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc
sống của nhân dân.
1.2.1.3. Mục tiêu thu hút vốn FDI vào địa phương
Nhìn chung các địa phương có nhu cầu thu hút vốn FDI nhằm vào những
mục tiêu chính sau đây:
- Mục tiêu thứ nhất: Giải quyết bài toán thiếu vốn.
14
Vốn FDI được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư của
địa phương, nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển. Hoạt động thu hút vốn FDI là
kênh huy động vốn lớn cho phát triển kinh tế, FDI tác động đến quá trình tăng
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xă hội cho địa phương. Vốn
FDI còn là một luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác,
bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và
không tạo ra nợ cho địa phương tiếp nhận, do vậy ít có khuynh hướng thay đổi khi
có tình huống bất lợi. Nguồn vốn FDI có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống kinh tế - xă hội và thường là vốn đầu tư dài hạn, các nhà đầu tư
tự làm, tự chịu trách nhiệm nên góp phần để tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Mục tiêu thứ hai: giải quyết bài toán dư thừa lao động.
FDI có vai trò quan trọng trong việc góp phần giải quyết việc làm, thông qua
thu hút các dự án FDI để tạo việc làm cho người lao động địa phương. Quan trọng
hơn là đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực và
tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. FDI không những tạo
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động mà còn góp phần tích cực giải quyết các
đất nước ngày càng phát triển hơn. Tuy nhiên đường lối kinh tế của mỗi địa
phương không thể nằm ngoài chính sách phát triển kinh tế của đất nước. Trong
điều kiện đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng như hiện nay, các địa
phương cần có chính sách thu hút FDI sao cho vừa đảm bảo khung chính sách
thu hút FDI chung của nhà nước, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của địa
phương mình. Mỗi địa phương đều có những điều kiện riêng về tự nhiên, kinh tế,
xă hội, do vậy việc vận dụng sáng tạo chính sách thu hút FDI của nhà nước và
phát huy tối đa những thế mạnh riêng sẽ giúp cho địa phương thu hút được
những dự án FDI có chất lượng, đem lại nhiều nguồn lợi góp phần vào quá trình
phát triển kinh tế xă hội của đất nước.
1.2.2. Chất lượng vốn FDI
1.2.2.1. Quan điểm về chất lượng vốn FDI
Chất lượng là vấn đề đặt ra đối với mọi nền sản xuất và mọi loại hình hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Chất lượng phản ánh giá trị về mặt lợi ích của
16
sản phẩm hàng hóa dịch vụ và là khái niệm phức tạp, phụ thuộc vào trình độ của
nền kinh tế và tùy những góc độ của người quan sát.
Chất lượng là mức độ đạt được các quy định, tiêu chuẩn đặt ra về sản phẩm hay
dịch vụ phù hợp với lợi ích của những đối tượng quan tâm trong điều kiện nhất định.
Hay chất lượng là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của tổ chức kinh tế. Chất lượng là mức độ các tổ chức kinh tế thực hiện
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đạt được các quy định, tiêu chuẩn
đặt ra về quy mô khách hàng, doanh số, mức độ an toàn và lợi nhuận phù hợp với
lợi ích của những đối tượng quan tâm trong những điều kiện nhất định.
Có thể hiểu Chất lượng dịch vụ là kết quả của một quá trình đánh giá, tích
lũy của khách hàng dựa trên sự so sánh giữa chất lượng mong đợi (hay dự đoán) và
mức độ chất lượng khách hàng đă nhận được.
Nói một cách khác: Chất lượng dịch vụ luôn được so sánh với mức độ thỏa
măn nhu cầu của khách hàng sau khi đă tiêu dùng dịch vụ.
mục tiêu cụ thể.
Chất lượng dòng vốn FDI: là thuộc tính bên trong của dòng vốn, được thể hiện ở
cấu trúc dòng vốn, tính hiệu quả của dòng vốn và tác động tan tỏa của nó đến các đối
tượng hưởng lợi.
Như vậy, nếu như mặt số lượng dòng vốn FDI phản ánh qua các câu hỏi: dòng
FDI vào địa phương tăng lên hay giảm đi cả về đầu vào và đầu ra thì câu hỏi chất lượng
FDI lại là dòng vốn FDI đầu tư vào địa phương có cấu trúc như thế nào, hiệu quả cao hay
thấp và sự lan tỏa của dòng vốn này vào các đối tượng hưởng lợi ịch (kinh tế, xă hội, môi
trường) nhiều hay ít, tốt hay xấu.
Sở dĩ phải khái niệm hóa thuật ngữ chất lượng FDI bởi vì bản thân FDI
không chỉ là đồng vốn mà nó còn là tri thức, công nghệ… nó vừa có tác động tích
cực vừa có tác động tiêu cực, có dòng vốn FDI tốt và có dòng vốn FDI chưa tốt đối
với nước nhận đầu tư. Nếu một dự án FDI phát huy được nhiều mặt tích cực hơn
tiêu cực thì khả năng chất lượng hơn những dự án khác.
Chất lượng FDI không chỉ dừng lại ở việc xem xét tại giai đoạn đầu của quá
trình đầu tư trực tiếp nước ngoài, tức là giai đoạn cấp phép và triển khai dự án, mà
18
nó còn xem xét đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
FDI có chất lượng gồm những đặc điểm sau:
Thứ nhất, FDI có chất lượng theo khái niệm trên mang tính chủ quan của con
người, nó là một khái niệm động. FDI chất lượng là phải đáp ứng tốt mục tiêu phát
triển của nước nhận đầu tư trong điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Mỗi giai đoạn
phát triển khác nhau hoặc mỗi nước khác nhau thì mục tiêu khác nhau. Ở thời điểm
này, hoạt động đầu tư này có chất lượng nhưng có thể không chất lượng ở thời điểm
khác. Vì vậy, chất lượng FDI ở đây mang ư nghĩa tương đối nhiều hơn.
Thứ hai, FDI có chất lượng thuộc về hình thức đầu tư mới vì hoạt động đầu
tư mới thường tạo ra năng lực sản xuất mới. FDI có chất lượng thường có sự lan tỏa
tích cực
Thứ ba, về nguyên tắc, FDI có chất lượng không kể xuất phát từ những nhà