BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ KIỀU NGA
QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN
TRONG “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA
PH.ĂNGGHEN VÀ VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG
THÀNH PHỐ MÔI TRƯỜNG Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2014
Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
của mỗi quốc gia, dân tộc. Đà Nẵng là thành phố trẻ đang trên đà
phát triển nhanh và hướng tới sự phát triển bền vững. Mục đích
hướng tới của thành phố miền Trung này là phát triển thành phố môi
trường, thành phố đáng sống.
Trong di sản của các vị thủy tổ sáng lập ra chủ nghĩa Mác, Ph
Ăngghen là người có công bàn đến khá nhiều vấn đề liên quan đến
môi trường tự nhiên trong mối quan hệ với con người. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu và kế thừa tư tưởng của Ph. Ăngghen về vấn đề này
để vận dụng vào xây dựng thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện
nay, theo tôi là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ thực trạng và yêu cầu xây dựng một thành phố
môi trường ở Đà Nẵng hiện nay, trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ
giữa con người và tự nhiên trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên"
của Ph.Ăngghen, nhằm đưa ra những giải pháp cho hoạt động bảo vệ
môi trường đảm bảo sự hài hòa giữa con người và tự nhiên cho sự
phát triển bền vững của thành phố. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài
“Quan hệ giữa con người và tự nhiên trong “Biện chứng của tự
nhiên” của Ph.Ăngghen và vận dụng vào xây dựng thành phố môi
trường ở Đà Nẵng hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn cao học
của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu quan hệ giữa con người và tự nhiên
2
trong “Biện chứng của tự nhiên” của Ph.Ăngghen và thực trạng môi
trường ở Đà Nẵng, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm
xây dựng thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những quan điểm của Ph.Ăngghen về tự nhiên,
về con người và mối quan hệ giữa con người với môi trường sống,
3. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy
và học tập một số nội dung về mối quan hệ giữa con người với môi
trường tự nhiên và sự phát triển bền vững.
4. Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo và cung cấp
các luận cứ cho việc đề ra các chủ trương, chính sách đối với công
tác bảo vệ môi trường sinh thái ở thành phố Đà Nẵng nhằm hướng tới
một sự phát triển bền vững.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung luận văn gồm 03 chương, 09 tiết.
7. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
* Các công trình nghiên cứu về quan hệ giữa tự nhiên và con
người như: Nguyễn Trọng Chuẩn, Một số vấn đề về Triết học – Con
người – Xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2002. Hồ Sĩ Quý (chủ
biên), Mối quan hệ giữa tự nhiên và con người trong sự phát triển xã
hội. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2000.
* Các công trình nghiên cứu về môi trường và môi trường tự
nhiên, môi trường sinh thái như: Phạm Thị Ngọc Trầm, “Xây dựng
đạo đức sinh thái - một trách nhiệm xã hội của con người đối với tự
nhiên”, tạp chí Triết học số tháng 6/2009.
4
* Các công trình nghiên cứu về giáo dục, bảo vệ môi trường,
giáo dục đạo đức sinh thái như: Đỗ Huy, “Giáo dục đạo đức sinh thái
và xây dựng môi trường văn hoá trong lịch trình thế kỷ XXI”, tạp chí
Lý luận chính trị tháng 2/2007. Nguyễn Công Thảo, Phạm Thị Cẩm
Vân (2013), “Nghiên cứu môi trường dưới góc độ nhân học ở
phương Tây và Việt Nam”, Khoa học xã hội Việt Nam, tr 92-104.
* Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững nhìn từ
góc độ quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và về
phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên như: Lưu Đức Hải
chính trị học, Gia đình thần thánh (1845, viết chung với C.Mác), Hệ
tư tưởng Đức (1845-1846, viết chung với C.Mác), Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản (1848, viết chung với C.Mác), Chống Đuy-rinh
(1818), Nguồn gốc gia đình, Chế độ tư hữu và Nhà nước (1884), Lút-
vích Phơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1866),
Biện chứng của tự nhiên (1873-1883), Vấn đề nông dân ở Pháp và
Đức (1894), và nhiều bài báo, tác phẩm có giá trị khác.
1.1.2. Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của
Ph.Ăngghen
Taïc pháøm âæåüc Ph.Ăngghen viãút vaìo nhæîng nàm 1873-1883.
Taïc pháøm chæa hoaìn thaình, nhæng noï coï yï nghéa to låïn trong
6
kho tng l lûn Mạc-Lãnin. Nọ cung cáúp cho chụng ta kiãøu máùu vãư
viãûc váûn dủng phẹp biãûn chỉïng trong quạ trçnh phán têch, khại quạt
cạc thnh tỉûu ca khoa hc tỉû nhiãn, vảch ra phỉång hỉåïng cho khoa
hc tỉû nhiãn phạt triãøn. Nọ cung cáúp nhiãưu váún âãư thãú giåïi quan v
phỉång phạp lûn biãûn chỉïng duy váût.
* Nội dung cơ bản trong tác phẩm:
- Những sơ thảo đề cương (từ trang 455-457)
- Lời nói đầu (từ trang 458-483)
- Bìa tựa cũ của cuốn “Chống Đuy-ring” về biện chứng (từ
trang 484-495)
- Khoa học tự nhiên trong thế giới thần linh (từ trang 496-509)
- Phép biện chứng (từ trang 510-518)
- Phép biện chứng (từ trang 694-735)
- Những hình thái vận động cơ bản (từ trang 519)
- Khoa học tự nhiên và triết học (từ trang 681-693)
1.2. QUAN ĐIỂM CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA TỰ NHIÊN VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA LỒI NGƢỜI
1.2.1. Quan điểm của Ph.Ăngghen về sự phát triển của tự nhiên
quá trình phát triển của con người với tốc độ ngày càng nhanh hơn.
- Con người thống trị được tự nhiên nhờ có lao động, bắt tự
nhiên phục vụ cho mục đích của mình.
1.3. QUAN ĐIỂM CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ QUAN HỆ GIỮA
CON NGƢỜI, XÃ HỘI, TỰ NHIÊN
1.3.1. Vai trò của các yếu tố con ngƣời, xã hội và tự nhiên
trong hệ thống con ngƣời – xã hội – tự nhiên
- Con người và xã hội không chỉ là một bộ phận của tự nhiên.
8
Hơn thế tự nhiên – con người – xã hội nằm trong một chỉnh thể thống
nhất.
- Tự nhiên là toàn thể thế giới vật chất vô cùng, vô tận. Sự vận
động của vật chất trong giới tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo
quy luật tiến hóa của sự sống trong những điều kiện nhất định, cuối
cùng con người đã xuất hiện từ động vật bậc cao, từ vượn người.
- Sự xuất hiện của con người trên trái đất không chỉ kết quả
của các quy luật sinh học mà quan trọng hơn là kết quả của quá trình
lao động.
- Sự hình thành con người gắn liền với sự hình thành các quan
hệ giữa người với người. Xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ
và những quan hệ của các cá nhân, và xã hội được xem là sản phẩm
của sự tác động qua lại của những con người.
- Con người và giới tự nhiên thống nhất ở tính vật chất. Con
người không đối lập với tự nhiên, mà là một bộ phận hữu cơ của giới
tự nhiên.
- Con người và giới tự nhiên có mối quan hệ biện chứng, quy
định lẫn nhau, cả hai nằm trong hệ thống tự nhiên - xã hội.
- Với tư cách là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, vừa là sản
phẩm của sự tác động qua lại giữa người và người để tồn tại và phát
triển, xã hội vừa phải tuân theo những quy luật của tự nhiên, vừa phải
nhận thức và vận dụng các quy luật trong hoạt động thực tiễn.
- Trình độ nhận thức có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến
quan hệ giữa xã hội và tự nhiên, nhất là sự nhận thức các quy luật và
vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người.
- Quá trình lao động sản xuất và chinh phục tự nhiên của con
10
người là hoạt động có ý thức, họ biết được hậu quả của quá trình
chinh phục đó. Quá trình nhận thức được hậu quả không đơn giản chỉ
một sớm một chiều con người có thể thấy được, đòi hỏi phải trải qua
một quá trình lâu dài.
- Bên cạnh khả năng nhận thức hậu quả, đòi hỏi con người phải
có biện pháp thực tế để ngăn ngừa những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
- Vai trò của CNTB đối với môi trường tự nhiên.
- Tầm quan trọng của việc nhận thức quy luật của giới tự nhiên
và sử dụng những quy luật cho sự phát triển bền vững của toàn xã hội
trong mối quan hệ hài hòa tự nhiên - xã hội.
11
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG MÔI TRƢỜNG SINH THÁI Ở THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
2.1. VÀI NÉT VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Về điều kiện tự nhiên: Thành phố Đà Nẵng có vị trí chiến lược
quan trọng, nằm ở vị trí trung điểm của cả nước. Địa hình thành phố
Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung
ở phía Tây và Tây Bắc. Đà Nẵng có nhiều thắng cảnh nổi tiếng như
Nam Ô, Xuân Thiều, bán đảo Sơn Trà, Bà Nà Núi Chúa, Ngũ Hành
Sơn, bãi tắm Mỹ Khê, Bảo tàng Điêu khắc Chăm… Đà Nẵng cũng là
nơi có nhiều di tích văn hóa của các dân tộc do nhiều thế hệ để lại.
Về đặc điểm kinh tế - xã hội: Toàn thành phố có 08 đơn vị
nằm trong cụm du lịch tổng hợp quốc gia Cảnh Dương - Hải Vân -
Non Nước và là trung tâm du lịch thể thao biển của cả nước.
- Có nhiều dự án phát triển du lịch ven biển, ven sông, góp
phần nâng cao chất lượng dịch vụ thu hút khách du lịch, nhưng cũng
tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và cảnh quan.
Nguyên nhân gây ô nhiễm: lượng nước thải tự thấm và thải ra
môi trường xung quanh, hệ thống xử lý nước thải xây dựng chưa
đúng quy chuẩn (không có bể tách mỡ, bể chứa không đúng quy
cách, nước thải sau xử lý không được kiểm soát, ý thức của các
doanh nghiệp, cũng như các cơ sở dịch vụ du lịch về một nền du lịch
bền vững, “du lịch sinh thái” vẫn chưa đầy đủ…)
2.2.3. Phát triển công nghiệp
Phát triển công nghiệp có chuyển biến tích cực, nhưng cũng
gây sức ép lên môi trường không khí, nước thải, chất thải rắn, đặc
13
biệt góp phần gia tăng lượng khí nhà kính.
Trong những năm qua, ngành công nghiệp xây dựng thành
phố Đà Nẵng đạt tốc độ tăng trưởng khá cao.
Sự phát triển công nghiệp ở Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, tạo công
ăn việc làm cho hơn 60.000 lao động, thực hiện chiến lược xoá đói
giảm nghèo và thực hiện di dời rất nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi
trường trong nội thành vào khu công nghiệp. Tuy nhiên mặt trái của
hoạt động này còn nhiều bất cập và thiếu sự đồng bộ.
2.2.4. Các hoạt động kinh tế khác
- Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình
quân của Đà Nẵng 5 năm (2006 - 2010) đạt khoảng 11,2% cao hơn
bình quân cả nước là 1,9 lần. Trong ba năm 2008-2010 và 2013 Đà
Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) đứng đầu cả nước.
Đà Nẵng đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện
- Khai thác tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản của
thành phố được khai thác nhiều trong thời gian qua. Mặt trái của nó
chưa được nhìn nhận và đánh giá một cách nghiêm túc, dẫn đến sự
thiếu bền vững hiện nay và trong tương lai gần.
Nhiều dự án khai thác trái phép không đúng quy hoạch, khai
thác vượt mức sản lượng cho phép, kiểm soát chưa chặt chẽ tại các
vùng cần bảo vệ môi trường nghiêm ngặt. Việc khai thác và cấp phép
khai thác chưa đánh giá đúng vị trí vai trò của tài nguyên đối với môi
trường sống sinh vật.
2.2.5. Vấn đề dân số
Mật độ dân số khu vực nội thành hiện nay là 3.202,64
người/km
2
, cao gấp 1,12 lần so với thời điểm năm 2004. Có sự dịch
15
chuyển rõ ràng giữa nông thôn và thành thị. Sự phân bố dân số trong
vùng nội thành không cân đối giữa các quận, huyện, mật độ dân số
của các quận Thanh Khê (18.380,34 người/km2), Hải Châu
(8.901,17người/km2), cao hơn so với các quận, huyện khác trong khu
vực nội thành. Sự tập trung quá đông dân số ở một vài khu vực sẽ tạo
nên những áp lực lớn cho môi trường.
2.3. THỰC TRẠNG MÔI TRƢỜNG SINH THÁI Ở ĐÀ NẴNG
HIỆN NAY VÀ SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ
2.3.1. Môi trƣờng nƣớc
Nguồn nước mặt ở các sông đã có dấu hiệu bị ô nhiễm, chất
lượng nước sông Phú Lộc bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Khai thác, sử dụng và bảo vệ hồ đầm chưa hợp lý nên tình
trạng ô nhiễm vẫn xảy ra liên tục (thời điểm trước năm 2006), có nơi
ô nhiễm đến mức báo động và diễn biến ô nhiễm thay đổi theo mùa.
Nguồn nước suối ở bán đảo Sơn Trà, Bà Nà – Núi Chúa và
tranh gây ô nhiễm nặng đất ở khu vực ven sân bay Đà Nẵng.
2.3.4. Tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học
Thành phố Đà Nẵng có đặc thù đa dạng về địa hình, là nơi giao
thoa của các tiểu vùng khí hậu, điều đó đã dẫn đến đa dạng về các
kiểu hệ sinh thái.
Đà Nẵng có sự đa dạng về văn hóa cũng như các loại hình sản
xuất nông nghiệp, nên các hệ sinh thái nông nghiệp ở đây cũng có độ
đa dạng sinh học cao.
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục
vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du
lịch. Thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng cho thành phố các khu rừng tự
nhiên đặc sắc (khu Bà Nà – Núi Chúa, khu Bán đảo Sơn Trà và khu
Nam Hải Vân)
17
CHƢƠNG 3
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG CỦA ĂNGGHEN VỀ QUAN HỆ
GIỮA CON NGƢỜI VỚI TỰ NHIÊN VÀO XÂY DỰNG
THÀNH PHỐ MÔI TRƢỜNG Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
3.1. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT
Để có thể công bố “Đà Nẵng - thành phố môi trường” vào
năm 2020, mục tiêu tổng quát mà Thành phố cần đạt được là:
- Tạo nên một danh hiệu “thành phố môi trường” cho thành
phố Đà Nẵng, tạo sự an toàn về sức khoẻ và môi trường cho người
dân, các nhà đầu tư, cho du khách trong và ngoài nước khi đến với
thành phố Đà Nẵng;
- Ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường tại
các khu dân cư, khu công nghiệp, vùng ven biển; Đảm bảo chất
lượng môi trường nước, đất, không khí đặc biệt chú trọng đến vấn đề
ô nhiễm không khí do giao thông vận tải, xử lý nước thải công
kinh tế - xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên.
- Phải thể hiện rõ những kế hoạch cụ thể về đầu tư xây dựng
sớm và thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ở
từng quận huyện, khu dân cư trong những năm trước mắt và hướng
tới tương lai lâu dài, phải mang tính thiết thực.
- Phải thể hiện rõ chính sách phát triển chung, chính sách phát
triển riêng, cụ thể trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở
những địa bàn mà trình độ phát triển kinh tế cũng như trình độ dân trí
thấp.
19
- Nên hướng vào việc tập trung đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ
tầng kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh
tế vùng ven đô, nông thôn, miền núi; hướng vào việc xây dựng và
thực hiện tốt các chính sách xã hội như chính sách xóa đói, giảm
nghèo, các chính sách về dân số, kế hoạch hóa gia đình…
3.3.2. Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của
Nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng tự nhiên ở thành phố Đà Nẵng
- Những văn bản chỉ đạo việc bảo vệ môi trường sinh thái cho
các quận huyện thực sự khoa học.
- Tăng cường phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện rộng
rãi các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của
thành phố về công tác bảo vệ môi trường.
- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường trên địa bàn thành phố, rà soát sửa đổi, thay thế các văn
bản không còn phù hợp với tình hình thực tế. Tăng cường công tác
thanh tra, kiểm tra và kiểm soát ô nhiễm trên địa bàn.
- Tăng cường, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác môi trường
từ thành phố đến quận, huyện, xã, phường theo hướng tinh gọn
nhưng hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
- Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho Sở Tài nguyên và
thành phố, các chương trình hành động và Đề án về “xây dựng Đà
Nẵng – Thành phố Môi trường” đến người dân.
+ Về phương thức giáo dục: Hình thành và tăng cường năng
lực cho cán bộ, bộ phận tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong các
cơ quan, tổ chức, đoàn thể ở từng địa phương.
21
+ Về phương pháp giáo dục: Có thể thông qua giáo dục bằng
lý thuyết (qua các cơ sở giáo dục, các buổi tập huấn, qua hội nghị,
hội thảo, tuyên truyền…) hoặc qua hoạt động thực tiễn (sản xuất vật
chất, sinh hoạt xã hội…) để nâng cao nhận thức cho nhân dân.
3.3.5. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và nâng cao
trách nhiệm của chính quyền địa phƣơng đối với việc bảo vệ môi
trƣờng tự nhiên trong quá trình phát triển kinh tế
* Giải pháp về phát huy vai trò làm chủ của nhân dân đối với
việc bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế
- Giúp cho nhân dân hiểu được trách nhiệm xã hội của mình và
khuyến khích họ tham gia vào công tác xây dựng thành phố môi
trường sinh thái.
- Tăng cường, cải tiến các hoạt động mạng tính dân chủ cao.
- Tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân chia sẻ thông tin, chuyển
giao, hợp tác các phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường tự nhiên
trong phát triển kinh tế.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân trong
công tác bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển kinh tế.
* Giải pháp về nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa
phương đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái
- Cần có cơ chế phân cấp quản lý về bảo vệ môi trường sinh
thái cho các cơ quan ban ngành.
- Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh
tế của mình mà Thành phố sẽ giao trách nhiệm cụ thể cho chính
Thứ hai: Đẩy mạnh việc phổ biến, giáo dục và áp dụng các tiêu
chuẩn quốc tế, khu vực về môi trường cho các tổ chức, cá nhân, mọi
người dân biết để thực hiện theo.
23
Thứ ba: Xây dựng chiến lược hợp tác và huy động tối đa các
nguồn lực khu vực và quốc tế, chú trọng nâng cao năng lực xây dựng
các chương trình, dự án, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn
tài trợ quốc tế cho bảo vệ môi trường.
Thứ tư: Tăng cường hợp tác với quốc gia có chung đường biên
giới như ký kết các dự án đầu tư có hiệu quả với nước tham gia để
bảo vệ môi trường khu vực biên giới và kiểm soát ô nhiễm xuyên
biên giới.
Thứ năm: Học hỏi kinh nghiệm các nước đi trước cách xử lý
các điểm nóng về môi trường, cách xử lý các tổ chức và cá nhân gây
ô nhiễm môi trường…