BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ KIỀU NGA
QUAN HỆ GIỮA CON NGƢỜI VÀ TỰ NHIÊN
TRONG “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN”
CỦA PH.ĂNGGHEN VÀ VẬN DỤNG VÀO
XÂY DỰNG THÀNH PHỐ MÔI TRƢỜNG
Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2014
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Hồng Lƣu
Đà Nẵng - Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kiều Nga MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 4
2.2.1. Quá trình đô thị hóa 40
2.2.2. Phát triển du lịch, dịch vụ 42
2.2.3. Phát triển công nghiệp 45
2.2.4. Các hoạt động kinh tế khác 48
2.2.5. Vấn đề dân số 52
2.3. THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ 54
2.3.1. Môi trường nước 54
2.3.2. Môi trường không khí 59
2.3.3. Môi trường đất 63
2.3.4. Tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học 65
CHƢƠNG 3: VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG CỦA ĂNGGHEN VỀ QUAN HỆ
GIỮA CON NGƢỜI VỚI TỰ NHIÊN VÀO XÂY DỰNG THÀNH PHỐ
MÔI TRƢỜNG Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 68
3.1. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT 68
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG THÀNH PHỐ MÔI
TRƯỜNG Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 69
3.2.1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đối với Đà Nẵng phải thực
sự khoa học 69
3.2.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước về
bảo vệ môi trường tự nhiên ở thành phố Đà Nẵng 70
3.2.3. Không ngừng phát triển kinh tế, ổn định xã hội, nâng cao đời
sống cho nhân dân 72
3.2.4. Tăng cường công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về kết hợp
giữa phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên cho các nhà quản
lý, các cấp chính quyền và quần chúng nhân dân 75
động phát triển xã hội. Bên cạnh sự gia tăng các lợi ích được mang lại từ sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, thành phố Đà Nẵng nói
riêng thì những tác động xấu đến môi trường cũng đang diễn ra với mức độ
ngày càng tăng, đi ngược lại với xu thế của thời đại là phát triển bền vững.
Thực trạng môi trường nước ta đang tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có
nơi, có lúc đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng
các nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô
nhiễm nặng; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng
tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức,
không có quy hoạch; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ
sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm. Những vấn
đề về môi trường toàn cầu đang được đặt ở mức độ báo động: khí hậu thay
đổi theo hướng nóng lên, tầng ôzôn suy giảm, mực nước biển dâng cao, mưa
axít, bão lũ, mưa lớn, hạn hán; các sự cố tràn dầu trên biển, sự cố môi trường
ở các cơ sở sản xuất ngày càng gia tăng đã và đang gây ra hàng loạt ảnh
2
hưởng xấu đến sản xuất và đời sống ở nhiều vùng. Việc đẩy mạnh phát triển
công nghiệp, dịch vụ, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi mật độ
dân số đã quá cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một số vùng
nông thôn, miền núi, các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến xấu về khí
hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lên tài nguyên và môi trường, đưa công tác
bảo vệ môi trường trước những thách thức lớn.
Những thách thức trên không nằm ngoài sự quan tâm của thành phố Đà
Nẵng. Với một thành phố trẻ như Đà Nẵng, năng động, tốc độ đô thị hóa cao,
diện mạo đô thị ngày một khang trang với hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật
và cơ sở hạ tầng xã hội được đầu tư cả về số lượng lẫn chất lượng, đã đem lại
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu quan hệ giữa con người và tự nhiên trong
“Biện chứng của tự nhiên” của Ph.Ăngghen và thực trạng môi trường ở Đà
Nẵng, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng thành phố
môi trường ở Đà Nẵng hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những quan điểm của Ph.Ăngghen về tự nhiên, về con
người và mối quan hệ giữa con người với môi trường sống, làm cơ sở lý luận
khoa học cho việc nhận thức vấn đề này trong giai đoạn hiện nay.
- Liên hệ thực tiễn công tác bảo vệ môi trường trong tiến trình xây dựng
một thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp cho hoạt động bảo vệ môi trường đảm bảo
cho sự phát triển bền vững của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quan điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ
giữa con người, xã hội và tự nhiên mà chủ yếu là mối quan hệ giữa con người
với môi trường sống. Trên cơ sở đó nghiên cứu thực trạng của vấn đề môi
trường tại thành phố Đà Nẵng trong 10 năm trở lại đây nhằm góp phần xác
định đúng những phương hướng và giải pháp để vận dụng vào xây dựng
4
thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật; các quan
điểm của Đảng, Nhà nước và của Thành phố Đà Nẵng về vấn đề phát triển và
bảo vệ môi trường, luận văn sử dụng các phương pháp logic và lịch sử; phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu nhằm thực hiện mục đích và
thư từ ghi chép khác đã phân tích và luận giải sâu sắc mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên, dự báo về tình hình môi trường sống trong xã hội hiện tại,
về sự biến đổi của môi trường cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, từ đó đúc
rút thành những nguyên lý, lý luận triết học mang tính triết lý cao.
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu trong thời kỳ hiện đại
của các nhà khoa học ở các quốc gia, các nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh việc
phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường tự nhiên ở
những quốc gia khác nhau, từ đó đề cập tới các nhóm giải pháp nhằm có được
sự phát triển bền vững trong tương lai.
Ở Việt Nam, bảo vệ môi trường tự nhiên trong giai đoạn đất nước tập
trung cho việc phát triển kinh tế xã hội là một vấn đề bức xúc hiện nay. Đảng
và Nhà nước đã ra nhiều văn bản nhằm thực hiện tốt sự kết hợp giữa tăng
trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên để tạo ra sự phát triển bền vững
của đất nước. Tuy nhiên, công tác nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực
tiễn của vấn đề trên chưa được đầu tư và quan tâm thích đáng. Các văn bản
mà Đảng và Nhà nước đưa ra mới chỉ dừng lại ở sự khái quát chung, chủ yếu
là thông qua các văn kiện Đại hội Đảng, các Hội nghị chuyên đề của Ban
chấp hành Trung ương các khoá và đề cập ở một số Bộ luật. Mặt khác, điều
đó cũng mới chỉ dừng lại ở phạm vi chung của cả nước, riêng đối với thành
phố Đà Nẵng thì chưa được xem xét một cách công phu và có hệ thống. Vì
vậy cần thiết phải đi sâu vào nghiên cứu về mặt lý luận, mà cụ thể ở đề tài này
là đi sâu nghiên cứu quan hệ giữa con người và tự nhiên trong Biện chứng của
tự nhiên của Ph.Ăngghen, từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp tối ưu cho
6
việc bảo vệ môi trường sinh thái nhằm góp phần vào việc xây dựng một thành
phố môi trường ở Đà Nẵng cho hôm nay và những ngày mai.
những vấn đề toàn cầu của thời đại, mối quan hệ giữa hiện đại hóa xã hội và
môi trường sinh thái, vai trò của con người trong công tác bảo vệ môi trường
sinh thái. Từ đó đưa ra những phương hướng giải quyết vấn đề trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các giải pháp nhằm xây dựng những
mô hình hành động hợp lý cho con người với mục đích tạo ra một môi trường
sống lành mạnh.
- Các công trình nghiên cứu về giáo dục, bảo vệ môi trường, giáo dục
đạo đức sinh thái:
Trần Văn Miều, Tuổi trẻ Việt Nam với sự nghiệp bảo vệ môi
trường, NXB Thanh niên, năm 2002.
Đỗ Huy, “Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng môi trường văn hoá
trong lịch trình thế kỷ XXI”, Tạp chí Lý luận chính trị tháng 2/2007.
Phan Thị Hồng Duyên, “Giáo dục đạo đức sinh thái vì sự phát triển bền
vững cho con người và giới tự nhiên”, Tạp chí Triết học số tháng 1/2008.
Lê Thị Thanh Hà, “Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam
hiện nay”, Khoa học xã hội Việt Nam, tr 84-91, số 9, năm 2013.
Nguyễn Công Thảo, Phạm Thị Cẩm Vân, “Nghiên cứu môi trường dưới
góc độ nhân học ở phương Tây và Việt Nam”, Khoa học xã hội Việt Nam, tr
92-104, số 9, năm 2013.
Các nghiên cứu này đề cập đến việc giáo dục, bảo vệ môi trường, giáo
dục đạo đức sinh thái, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng môi trường
văn hoá, phát triển bền vững…
- Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững nhìn từ góc độ quan
hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và về phát triển kinh tế với
bảo vệ môi trường tự nhiên:
Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh, “Quản lý môi trường cho sự phát
triển bền vững”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, năm 2005.
8
9
vấn đề liên quan đã được nhiều quốc gia, nhiều địa phương và các nhà khoa
học quan tâm. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên mới chỉ tập trung vào
nghiên cứu quan hệ giữa con người và tự nhiên mang tính khát quát hay
nghiên cứu ở góc độ kinh tế - xã hội nhằm tìm ra hướng giải quyết cho vấn đề
môi trường tự nhiên. Riêng đối với những vấn đề môi trường tự nhiên ở thành
phố Đà Nẵng cũng mới chỉ dừng lại ở các văn kiện, báo cáo hoặc đề án của
thành phố chứ chưa phải là một công trình nghiên cứu công phu và mang tính
khái quát, toàn diện dưới góc độ triết học. Đặc biệt nghiên cứu và tìm ra các
giải pháp cho việc xây dựng một thành phố môi trường ở Đà Nẵng trên cơ sở
xác lập quan hệ hài hoà giữa con người với tự nhiên dưới góc độ triết học
Mác – Lênin thì chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống. 10
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ CON NGƢỜI, TỰ NHIÊN
năm 1873 - 1883. Khi bắt đầu xuất hiện một xu hướng chống chủ nghĩa Mác
thâm nhập vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân. Đó là chủ nghĩa
cơ hội: núp dưới chiêu bài chủ nghĩa xã hội, nhưng thực ra tìm cách thay thế
lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của chủ nghĩa Mác bằng các loại lý luận
chủ nghĩa xã hội giả hiệu, phản động của giai cấp tư sản. Một trong những đại
biểu của chủ nghĩa cơ hội đó là Đuyrinh. Thời điểm này giai cấp tư sản đã
tiến hành một cuộc tấn công quy mô vào lý luận chủ nghĩa Mác, bằng cách lợi
dụng tất cả các trào lưu chống duy vật phản khoa học.
Một nhiệm vụ bức thiết đề ra trước các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác là
phải đập tan tất cả các trào lưu ấy, vạch rõ rằng các trào lưu ấy không dựa vào
những tài liệu khoa học về tự nhiên, mà trái lại mâu thuẫn với mọi thành tựu
của khoa học tự nhiên thời bấy giờ.
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ăngghen vạch trần mọi xu
hướng xa rời chủ nghĩa duy vật và phê phán triệt để những người theo “chủ
nghĩa Đácuyn xã hội”, “chủ nghĩa duy tâm sinh lý học”, “chủ nghĩa duy tâm
toán học” v.v cùng với những người theo “thuyết không thể biết”, “chủ
nghĩa máy móc” và “phép siêu hình”. Ăngghen vạch rõ sự liên hệ trực tiếp
của những trào lưu triết học phản động đó với tình hình chính trị lúc bấy giờ
và mục đích nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản.
Chủ nghĩa Mác có nhiệm vụ tự giác vận dụng phép biện chứng duy vật
để đưa khoa học tự nhiên thời đó ra khỏi tình trạng vô cùng rối loạn và đầy
rẫy mâu thuẫn không giải quyết được. Chính tác phẩm Biện chứng của tự
nhiên của Ăngghen là nhằm giải quyết nhiệm vụ mà sự phát triển của khoa
học tự nhiên lúc đó đã đặt ra. Có thể nêu một cách tóm tắt mục đích chủ yếu
của Ăngghen khi viết tác phẩm này là:
12
lại chủ nghĩa Mác, đồng thời Bécstanh là người theo quan điểm của thuyết
Cantơ mới mà Ăngghen đã phê phán kịch liệt trong tác phẩm Biện chứng của
tự nhiên. Mãi tới năm 1925, với sự quan tâm của Đảng Cộng sản Liên Xô, tác
phẩm Biện chứng của tự nhiên của Ăngghen mới được xuất bản ở Mátxcơva.
Tác phẩm chưa hoàn thành, nhưng nó có ý nghĩa to lớn trong kho tàng
lý luận Mác-Lênin. Nó cung cấp cho chúng ta kiểu mẫu về việc vận dụng
phép biện chứng trong quá trình phân tích, khái quát các thành tựu của khoa
học tự nhiên, vạch ra phương hướng cho khoa học tự nhiên phát triển. Nó
cung cấp nhiều vấn đề thế giới quan và phương pháp luận biện chứng duy vật.
Nội dung cơ bản trong tác phẩm: được in toàn văn trong C.Mác và
Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, 2004.
Thông qua “Sơ thảo đề cương chung” của quyển sách chúng ta có thể
tiếp cận rõ ràng hơn khi nghiên cứu tác phẩm này:
1. Nhập đề lịch sử: trong khoa học tự nhiên, do sự phát triển của bản
thân nó, quan điểm siêu hình không thể tồn tại được nữa.
2. Tiến trình phát triển lý luận ở nước Đức từ thời kỳ Hêghen đến nay
(bài tựa cũ). Trở lại phép biện chứng một cách không tự giác cho nên đầy
mâu thuẫn và chậm chạp.
3. Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến. Những quy luật
chủ yếu: sự chuyển hoá lượng thành chất, sự xâm nhập lẫn nhau của các mâu
thuẫn đối cực và chuyển hoá từ mâu thuẫn này sang mâu thuẫn khác khi mâu
thuẫn đó lên tới cực độ, sự phát triển bằng mâu thuẫn hoặc phủ định của phủ
định - phát triển theo hình xoáy trôn ốc.
4. Liên hệ giữa các bộ môn khoa học: toán học, cơ học, vật lý học, hoá
học, sinh vật học - Xanh Ximông (Côngtơ) và Hêghen.
5. Nhận xét về các môn khoa học riêng biệt và nội dung biện chứng của
thời đó và trình bày những điểm chung của phép biện chứng duy vật với tư
15
cách là khoa học về liên hệ phổ biến và những quy luật chủ yếu của nó: quy
luật chuyển hoá lượng thành chất và ngược lại, quy luật xâm nhập vào nhau
của các mặt đối lập và quy luật phủ định của phủ định.
Phần thứ hai là phần chủ yếu, nói về phân loại các khoa học tự nhiên và
nêu những ý kiến về từng môn khoa học và nội dung biện chứng của khoa học
đó. Phần này gồm điểm 4 và điểm 5 của đề cương (điểm 5 lại có 5 điểm nhỏ).
Phần cuối cùng gồm có 6 điểm, gồm các điểm 6, 7, 8, 9, 10 và 11.
Ăngghen định phê phán và vạch trần những xu hướng thế giới quan trong
“thuyết không thể biết” (nhận thức có giới hạn), chủ nghĩa máy móc (quy
những hình thức vận động cao thành hình thức thấp), Thuyết sức sống, chủ
nghĩa Đácuyn về xã hội,…
Ăngghen vạch trần và giải thích những sai lạc của các nhà tư tưởng tư
sản về các hiện tượng xã hội (áp dụng một cách vô lý những quy luật của tự
nhiên hữu sinh vào xã hội), đồng thời nêu nhiệm vụ chứng minh rằng: con
người nhờ lao động mà tách ra khỏi giới động vật.
Quyển sách dự định kết thúc bằng phần xem xét các hiện tượng xã hội,
bước đầu vạch ra mối liên hệ biện chứng giữa các hiện tượng tự nhiên với các
hiện tượng xã hội, biện chứng của tự nhiên và biện chứng của xã hội.
1.2. QUAN ĐIỂM CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỰ
NHIÊN VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA LOÀI NGƢỜI
1.2.1. Quan điểm của Ph.Ăngghen về sự phát triển của tự nhiên
- Ph.Ăngghen đã kế thừa một cách có hệ thống và có cơ sở từ những
phát minh khoa học lúc bấy giờ để nghiên cứu về sự phát triển của thế giới tự
nhiên, về vũ trụ và sự hình thành con người, điển hình như giả thuyết của
độ giảm xuống tới mức mà các giới hạn trong đó an-bu-min (chất sống đầu
tiên, sơ đẳng) có thể sống được [39, tr. 473-474].
Sinh vật phát triển từ đơn bào đến đa bào. Bản chất của sự sống là
“phương thức tồn tại của những thể an-bu-min, và phương thức tồn tại ấy chủ
yếu là ở chỗ các thành phần hoá học của những vật thể ấy luôn luôn đổi mới
17
thông qua dinh dưỡng và điều tiết” [39, tr. 837]. Điều này về sau đã được
Ăngghen trình bày trong tác phẩm “Chống Đuy-ring”.
1.2.2. Quan điểm của Ph.Ăngghen về sự ra đời của loài ngƣời
Ph.Ăngghen đã phân tích một cách logic về quá trình tiến hoá của thế
giới sinh vật, từ chất an-bu-min không có hình thù nhất định, đến tế bào đầu
tiên với cái nhân và cái màng bọc bên ngoài, các loài sinh vật nguyên thuỷ
không tế bào và có tế bào, những cây cỏ đầu tiên dần dần được phân hoá,
những động vật đầu tiên đã phát triển, tiếp tục phân hoá thành vô số giống
loài động vật, đến các loài có xương sống với hệ thống thần kinh phát triển
đầy đủ nhất, cuối cùng trong các loài có xương sống mà trong đó giới tự nhiên
đạt tới trình độ tự nhận thức được mình đó là con người. [39, tr. 474-475]
Như vậy chúng ta có thể thấy được rằng con người xuất hiện trên trái
đất không phải do thần thánh sinh ra, mà là kết quả của quá trình tiến hoá
lâu dài của tự nhiên.
Một số ngành khoa học tự nhiên cho rằng: con người từ vượn mà ra.
Thực chất cách nói như vậy không hoàn toàn đúng, vì nói như vậy người ta
hình dung con người là do giống vượn ngày nay mà ra. Thực ra giống vượn
hiện nay không thể đẻ ra người được, nó khác với người, như lợn rừng khác
lợn thường. Có thể tổ tiên của các loài vượn hiện nay và tổ tiên của loài người
giống nhau. Đến một giai đoạn phát triển nào đó có sự nhảy vọt thay đổi về
triển đã làm cho cái vực sâu giữa người và khỉ từ đó trở nên không thể vượt
qua”. [39, tr. 475]
Như vậy, từ các cách phân tích của Ăngghen chúng ta có thể gói gọn lại
với hai cách tiếp cận. Thứ nhất, con người và giới tự nhiên được hình thành từ
những chất cơ bản chất, qua quá trình vận động và biến đổi từ đó mới hình
thành nên giới tự nhiên và con người. Thứ hai, con người trở thành người với
một điểm xuất phát là từ một loài vượn người, qua thời gian với sự tác động
của nội và ngoại cảnh, loài vượn người này dần dần trở thành người như bây
giờ.
19
1.2.3. Vai trò của lao động trong việc chuyển biến từ vƣợn thành
ngƣời
- Vai trò của lao động trong việc hình thành con người.
Ăngghen nói: “Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là
nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự
nhiên là cái cung cấp những vật liệu cho lao động biến thành của cải. Nhưng
lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa. Lao động là điều kiện
cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà
trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân
con người”. [39, tr.641]
Đề cập đến vai trò của lao động trong việc hình thành con người,
Ph.Ăngghen cho rằng: Lao động tạo ra dáng đi thẳng, lao động rèn luyện cơ
năng và giác quan, bàn tay của con người. Ph.Ăngghen khẳng định: “Như vậy,
bàn tay không những là khí quan của lao động, mà còn là sản phẩm của lao
động nữa. Chỉ nhờ có lao động, nhờ thích ứng được với những động tác ngày
càng mới, nhờ sự di truyền của sự phát triển đặc biệt đã đạt được bằng cách