luận văn thạc sĩ quan hệ quốc tế công tác thông tin đối ngoại của việt nam trong thời kỳ đổi mới - Pdf 23

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
NGUYỄN QUỲNH HƯƠNG
công tác thông tin đối ngoại
của việt nam trong thời kỳ đổi mới
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
1
NGUYỄN QUỲNH HƯƠNG
Công tác thông tin đối ngoại
của việt nam trong thời kỳ đổi mới
Chuyên ngành : Quan hệ quốc tế
Mã số : 60 31 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS. Vũ Dương Ninh
HÀ NỘI - 2009
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời đại thông tin, bùng nổ thông tin, xa lộ thông tin, đó là những
khái niệm còn khá mới nhưng chứng tỏ sức mạnh của thông tin trong đời sống
xã hội quốc gia và quốc tế hiện nay. Xã hội càng phát triển, yêu cầu thông tin
càng đa dạng, phong phú và ngược lại, sự phát triển của thông tin thúc đẩy sự
phát triển của xã hội. Trong thời đại hiện nay với xu thế toàn cầu hóa, khu
vực hóa mỗi quốc gia muốn phát triển phải khai thác được các quan hệ giao
lưu quốc tế. Thông tin chính là chiếc cầu nối trong sự giao lưu giữa các quốc
gia, là phương tiện giúp cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa các cộng đồng, là
nguồn lực để phát triển đất nước. Theo đó, thông tin đối ngoại đã trở thành một
trong những công cụ quan trọng, phổ biến được sử dụng trong quan hệ quốc

công tác thông tin đối ngoại. Với suy nghĩ đó, tôi chọn đề tài: "Công tác
thông tin đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới" làm luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài và nguồn tài liệu
Ở nước ta những năm gần đây, công tác thông tin đối ngoại đã được
giới học giả, các cấp, các ngành quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn. Tại các buổi
hội thảo, hội nghị tổng kết, đánh giá về hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà
nước, công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại đã được đưa ra bàn luận và
phân tích sâu ở các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, đây là chủ đề còn khá
mới đối với các sinh viên, học viên cao học ngành quan hệ quốc tế.
Về các công trình đã công bố, có thể kể đến tác phẩm Báo chí và
ngoại giao (Dương Văn Quảng) là cuốn sách bàn trực tiếp đến vai trò của
truyền thông đối với công tác đối ngoại. Một số cuốn sách khác như Cơ sở lý
luận báo chí, truyền thông đại chúng (Tạ Ngọc Tấn), Quản lý và phát triển
4
báo chí, Báo chí truyền thông và kinh tế, văn hóa -xã hội (Lê Thanh Bình),
Báo chí với sự nghiệp đổi mới ngày nay (Ngọc Đán) phân tích vai trò và
nghiệp vụ báo chí là tài liệu tham khảo rất quan trọng khi nghiên cứu sâu vào
lĩnh vực thông tin.
Các cuốn sách nước ngoài đã dịch như Bùng nổ thông tin (Breton
Philipe, Serge Proul), Sức mạnh của truyền thông (Michael Schudson) hoặc
cuốn The Press and Foreign policy (Cohen) đã đề cập đến vấn đề cơ bản của
thông tin và thông tin trong ngoại giao.
Luận văn tham khảo và khai thác một số nguồn tài liệu chủ yếu sau:
- Các văn kiện Đại hội Đảng.
- Các văn bản pháp quy như Hiến pháp, Luật báo chí.
- Thông tư, nghị định, chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ.
- Các bài diễn văn, báo cáo tổng kết, tài liệu của các Bộ, Ban, ngành
tham gia làm công tác thông tin đối ngoại như Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài
Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa,

của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới thông qua việc triển khai và hoạt động
của các ban Đảng, các cơ quan nhà nước và toàn xã hội: các lực lượng chuyên
trách chỉ đạo, lực lượng thực hiện, lực lượng hỗ trợ…
* Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn của mình, luận văn tập trung phân tích công tác thông
tin đối ngoại trong những năm đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế từ 1986 đến nay. Để có cái nhìn xuyên
suốt, luận văn có nhắc khái quát công tác thông tin đối ngoại thời kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ.
6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn được dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước
về công tác thông tin đối ngoại.
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu quốc tế, nghiên cứu khoa
học xã hội, kết hợp tổng kết thực tiến, phân tích, thống kê…
6. Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở phân tích một cách có hệ thống, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước cùng những hoạt động của các lực lượng tham gia công
tác thông tin đối ngoại từ năm 1986 đến nay, luận văn cố gắng làm rõ thành
tựu và hạn chế trong công tác thông tin đối ngoại của ta thời kỳ đổi mới, từ đó
nêu một vài giải pháp để phát huy công tác này trong thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hệ thống hóa hoạt động thông tin đối
ngoại của nước ta để từ đó rút ra một số kinh nghiệm phục vụ thiết thực
đường lối đối ngoại rộng mở và hội nhập quốc tế.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ
làm công tác thông tin đối ngoại, cho sinh viên, học viên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:

viên, nhằm thực hiện các chức năng, yêu cầu và nhiệm vụ được định trước.
Nội dung của thông tin chính là những sự kiện, vấn đề thường xuyên
nảy sinh và đổi mới trong mọi mặt đời sống con người, xã hội. Còn hình thức
8
của thông tin có quan hệ chặt chẽ với những giác quan chính (nghe, nhìn)
tương đối ổn định của con người. Thông tin có biểu hiện trực tiếp, trực cảm,
tương ứng để con người có thể tiếp nhận, sử dụng và trao đổi được là dạng
chữ viết, hình ảnh và âm thanh nói chung. Chỉ có những phương tiện thể hiện
và trao đổi thông tin (phát thanh, chuyển tải, khuếch đại và thu nhận) là luôn
thay đổi nhanh chóng và rõ rệt hơn, gắn với sự phát triển ngày càng cao hơn
của khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Khi nắm bắt và tác động vào riêng hình
thức của thông tin, những phương tiện truyền thông góp phần quyết định
trong việc tích cực hóa và hợp lý hóa cả về mặt số lượng lẫn về mặt chất
lượng quá trình chuyển giao và trao đổi thông tin.
Theo Đại từ điển tiếng Việt: "Thông tin: là truyền tin, được tin, báo cho
nhau biết, tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh" [37, tr. 1587].
Loài người đã phát triển từ những hình thức thông tin đơn giản, chủ yếu
dùng tiếng nói và các tín hiệu, đến sự ra đời của chữ viết, báo chí, đài phát thanh,
vô tuyến truyền hình và làm cho thông tin phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn
cầu. Thông tin hiện đại đang góp phần rất lớn vào sự tiến bộ của nhân loại. Sự
bùng nổ thông tin mang tính chất toàn cầu đã thúc đẩy sự phát triển của giao lưu
kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - kỹ thuật giữa các quốc gia dân tộc. Nhu
cầu giữ và tiếp nhận thông tin cùng tăng lên gấp nhiều lần. Thế giới như được
thu hẹp lại, trong đó những nguồn tin của mỗi cộng đồng, mỗi địa phương được
khai thác nhanh chóng và dựa vào dòng thác thông tin để trở thành sự hiểu biết
chung của nhân loại.
Đối với mỗi quốc gia, thông tin được xác định ở hai hướng chính:
thông tin đối nội và thông tin đối ngoại.
Thông tin đối ngoại là hoạt động truyền - nhận tin tức, xử lý và giải
thích các thông tin trong quan hệ giữa các nước với nhau.

hóa, hiện đại hóa đất nước và đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa
10
đa phương hóa, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế
giới. Tuyên truyền đường lối đổi mới gắn liền với việc quảng bá những thành
tựu mọi mặt mà nước ta đã đạt được trong những năm qua và làm rõ quyết
tâm chính trị, mô hình phát triển của Việt Nam. Làm rõ đường lối, chính sách
sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và tài chính với các đối tác
nước ngoài.
- Tuyên truyền chính sách đối ngoại của Việt Nam. Chính sách đối
ngoại trong bối cảnh hiện nay là bao gồm cả kinh tế đối ngoại và trong đó có
cả hợp tác song phương lẫn đa phương. Trong tình hình hiện nay, ta cần tuyên
truyền những khả năng to lớn của Việt Nam trong quan hệ hợp tác với mọi
đối tác, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội và theo nguyên tắc cùng có
lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Tuyên truyền đi đôi với
việc phổ biến những văn bản liên quan đến đầu tư kinh tế đối ngoại như
những văn bản pháp lý, những quy định hành chính của ta về đầu tư, thuế,
xuất, nhập khẩu…
Thông tin tuyên truyền đối ngoại không chỉ làm rõ đường lối chính
sách đối ngoại mà còn hỗ trợ cho các hoạt động ngoại giao. Đó là: cung cấp
thông tin về các hoạt động ngoại giao cho báo chí và cho công chúng, chuẩn
bị dư luận, tránh những bất ngờ không cần thiết trong phản ứng của dư luận,
vận động dư luận ủng hộ quan điểm, chính sách của ta, đồng thời phản đối,
đấu tranh dư luận, chống lại những luận điệu sai trái thù địch, phản bác những
thông tin xuyên tạc, sai lệch về tình hình Việt Nam nhất là về tình hình dân
chủ, nhân quyền, tôn giáo, biên giới lãnh thổ; ngăn chặn việc truyền bá vào
Việt Nam những quan điểm, tư tưởng, lối sống, văn hóa phản động, đồi trụy,
kích động bạo lực.
- Tuyên truyền về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa Việt Nam .
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là một trong những nội dung của quan hệ quốc
tế. Văn hóa giúp ta hiểu được cốt cách của một dân tộc và nền tảng chính sách

+ Đánh giá xu thế phát triển của tình hình thế giới.
+ Cung cấp thông tin về các nước trên thế giới, về các vấn đề mà thế
giới cùng quan tâm giải quyết.
Tuyên truyền thông tin quốc tế trong nước nhằm:
+ Đáp ứng nhu cầu thông tin quốc tế về mọi mặt của nhân dân.
+ Phổ biến quan điểm chính thống của ta về các vấn đề quốc tế, như
vậy có thể tránh được những lệch lạc trong quan điểm và nhận thức có thể
xuất hiện trong một số người.
+ Củng cố tình hữu nghị và hợp tác của nhân dân ta với nhân dân các
nước trên thế giới.
1.1.2. Công tác thông tin đối ngoại là một nhiệm vụ của công tác
đối ngoại
Từ khi ra đời và phát triển cho đến nay, dù dưới bất kỳ hình thái kinh
tế - xã hội nào, mỗi nhà nước đều có hai chức năng cơ bản là: chức năng đối
nội và chức năng đối ngoại. Hai chức năng này có mối liên hệ mật thiết, hỗ
trợ, gắn bó với nhau phục vụ lợi ích quốc gia. Đối nội là cơ sở của đối ngoại.
Đối ngoại là sự tiếp tục, kéo dài của đối nội. Mặt trận đối ngoại tìm ra và khai
thác tốt nhất các nhân tố thuận lợi bên ngoài phục vụ cho các mục tiêu bên
trong, phát triển đất nước, phát hiện các nguy cơ, thách thức bên ngoài để tìm
cách hạn chế và khắc phục. Các quốc gia thông qua hoạt động đối ngoại nhằm
nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Đối ngoại là nhằm phục vụ mục
tiêu cách mạng trong nước nhưng phải phù hợp với xu hướng, quy luật vận
động của thế giới mới có thể phát huy hết nhiệm vụ, chức năng của mình.
Mục đích của thông tin tuyên truyền đối ngoại cũng là mục đích của
hoạt động đối ngoại. Một mặt là phải làm cho bạn bè cũng như các đối tác
13
trên thế giới hiểu rõ nước mình, mặt khác là góp phần thực hiện mục tiêu cách
mạng đề ra. Trong mọi thời kỳ, mục đích của chính sách đối ngoại, các hoạt
động đối ngoại đều nhằm phục vụ ba mục tiêu cơ bản là:
- Góp phần đảm bảo độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia và sự toàn

trong quá trình lịch sử loài người. Mọi chính Đảng, Nhà nước đều tiến hành
công tác tư tưởng, coi đó là hoạt động quan trọng vào bậc nhất của mình, sử
dụng mọi tinh hoa văn hóa, mọi phát minh khoa học mới nhất kể cả những
thành tựu công nghệ tiên tiến nhất cho công tác tư tưởng. Công tác tư tưởng
của Đảng ta là hoạt động đa dạng và có chủ đích nhằm xây dựng, xác lập,
phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, hình thành niềm tin, định hướng giá
trị đúng đắn, góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho con người, thúc
đẩy con người hành động tích cực và sáng tạo để thực hiện thắng lợi lý tưởng
và mục tiêu cách mạng của chủ nghĩa xã hội.
Nói đến công tác tư tưởng - văn hóa, mọi người thường chỉ liên tưởng
đến phạm vi quốc gia. Nhưng trên thực tế, thông tin tuyên truyền đối ngoại là
sự tiếp tục của công tác tư tưởng - văn hóa trên phạm vi quốc tế với đối tượng
khá phức tạp và đa dạng hơn. Nếu trong nước, thông tin tuyên truyền nhằm
làm cho mọi công dân quán triệt rồi triển khai thực hiện những chủ trương chính
sách của Đảng và Nhà nước, thì trên phạm vi quốc tế, văn hóa - thông tin tuyên
truyền đối ngoại thực chất là nhằm tranh thủ dư luận thế giới, góp phần vào việc
thực hiện nhiệm vụ cách mạng được xác định cho một giai đoạn nhất định.
Hiện nay, mục tiêu của cách mạng Việt Nam là tập trung phát triển
kinh tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối
cảnh toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Để thực hiện nhiệm vụ này,
Việt Nam cần phát huy tối đa nội lực, đồng thời phải biết tận dụng mọi khả
năng hợp tác quốc tế nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp. Nhiệm vụ của văn hóa,
15
thông tin tuyên truyền đối ngoại chính là làm cho thế giới hiểu rõ mục tiêu
trên và góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp.
Thật vậy, văn hóa - thông tin đối ngoại được Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ X năm 2006 nhấn mạnh nhiệm vụ: "Đẩy mạnh công tác văn hóa -
thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân
dân ta với nhân dân các nước" [15, tr. 115]. Trong giai đoạn hiện nay, văn hóa
đối ngoại được xác định có vai trò quan trọng, là một trong ba trụ cột của

Thông tin tuyên truyền đối ngoại đa dạng về hình thức, phong phú về nội
dung. Nhưng đối tượng tuyên truyền khá đặc biệt - chủ yếu là người nước ngoài.
Đối tượng thông tin đối ngoại khác cơ bản với thông tin đối nội. Đối
tượng của thông tin đối nội là cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân
trong nước. Tuyệt đại đa số đối tượng này tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng, nhất trí với đường lối, chính sách của Nhà nước. Người làm công tác
tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền cùng có điểm chung về văn hóa,
truyền thống và cách suy nghĩ. Ngược lại, trong tuyên truyền đối ngoại, giữa
người làm tuyên truyền và đối tượng cần tuyên truyền có sự khác nhau thậm
chí đôi khi là đối lập về cách tư duy, cách suy nghĩ, văn hóa, truyền thống,
phong tục tập quán…
Đối tượng của thông tin tuyên truyền đối ngoại gồm nhiều tầng lớp,
giai cấp, thành phần xã hội với trình độ nhận thức, hiểu biết và có mối quan
tâm khác nhau đến Việt Nam. Có thể phân chia ra hai loại đối tượng: đối
tượng bên ngoài ở tại các nước (bao gồm cả người nước ngoài và Việt kiều)
và đối tượng bên trong (gồm người nước ngoài ở Việt Nam).
* Đối tượng bên ngoài ở các nước
Chính giới: Gồm các nghị sĩ Quốc hội, quan chức chính phủ, các chính
khách, các nhà hoạt động chính trị ở các cấp. Đây là nhóm đối tượng có vai
17
trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách đối nội và đối ngoại. Họ là
nhóm đối tượng đặc biệt và nếu ta có quan hệ chặt chẽ và làm tốt việc cung
cấp thông tin cho đối tượng này, tác động đến họ, thì họ sẽ có thể là lực lượng
hậu thuẫn cho nhũng chính sách của nước đó với ta. Thông tin mà ta cần cung
cấp cho những đối tượng này là các chủ trương chính sách lớn của đất nước ta
và những vấn đề có liên hệ trực tiếp tới quan hệ song phương hoặc những
thông tin mà từng nhóm đối tượng cần đến liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh
vực nào đó ở Việt Nam.
Giới kinh doanh: Là các công ty, các nhà đầu tư, kinh tế, tài chính.
Đây là một lực lượng có vai trò rất quan trọng trong việc thực thi các chiến

tham gia thực hiện công tác này một cách tự nhiên.
Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước chú trọng tới việc đáp ứng các nhu cầu
thông tin và tình cảm của người Việt ở nước ngoài. Từ chương trình phát
thanh "Dành cho đồng bào Việt Nam xa Tổ quốc" của Đài Tiếng nói Việt Nam
được phát vào đêm thứ Sáu hàng tuần trong những năm 80, ngày nay chúng ta
đã có VTV4 phát 24/24 được phủ sóng vệ tinh tới tất cả các khu vực trên thế giới
có người Việt Nam sinh sống, chúng ta đã có hàng ngàn trang web của các báo,
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, và nhiều ấn phẩm đa truyền thông phục vụ
riêng cho đối tượng này, giúp cho đồng bào có nguồn thông tin đa dạng về Tổ
quốc. Để gây được tác động tốt đến họ, cần phải có không chỉ chính sách tốt
mà còn cả sự thực hiện nghiêm chỉnh chính sách đó ở các cấp, tránh gây phiền
nhiễu cho họ và tạo điều kiện tốt cho họ trở về làm ăn, sinh sống tại quê nhà.
* Đối tượng ở trong nước
Cộng đồng người nước ngoài ở Việt Nam: Các cán bộ, nhân viên
thuộc các cơ quan đại diện ngoại giao, đoàn ngoại giao; các đại diện, nhân
viên các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ; các nhà đầu tư, kinh
doanh, chuyên gia các lĩnh vực, các đoàn khách đến thăm viếng, khách du
19
lịch, đặc biệt chú ý tới đội ngũ phóng viên báo chí nước ngoài đang hoạt động
báo chí tại Việt Nam (bao gồm phóng viên thường trú và phóng viên nước
ngoài đến Việt Nam tác nghiệp trong thời gian ngắn), sinh viên trí thức. Đây
là những đối tượng trực tiếp chứng kiến tình hình chính trị xã hội, kinh tế, văn
hóa của đất nước ta. Ngoài việc hợp tác với các cơ quan chính phủ và địa
phương trong việc hỗ trợ phát triển, theo dõi tình hình về nhân quyền, tôn
giáo, tự do báo chí…, nhóm đối tượng này thường ra các báo cáo hàng năm
về tình hình mọi mặt của Việt Nam, trực tiếp kiến nghị và thực hiện các chính
sách quan hệ với đất nước ta và họ có thể tạo ra dư luận thuận hoặc bất lợi
cho ta. Do đó mục đích của công tác thông tin đối ngoại là đem lại cho họ
những ấn tượng tốt đẹp về đất nước, con người Việt Nam.
Riêng phóng viên nước ngoài, đây là kênh thông tin quan trọng, tin

sở đó, mặc dù vẫn còn yếu tố tình cảm, cơ bản là khả năng hợp tác của Việt
Nam và quyền lợi của các bên.
Hơn thế nữa, đối tượng tuyên truyền không những chỉ nhận thông tin mà
còn thu thập xử lý thông tin về tất cả các lĩnh vực của Việt Nam để cung cấp ra
bên ngoài theo quan điểm của họ. Những người này không chỉ là phóng viên mà
cả các đối tượng khác như giới kinh doanh, viên chức ngoại giao, khách đến thăm.
1.1.4. Lực lượng tham gia công tác thông tin đối ngoại
Hiện nay, ở nước ta, tham gia vào công tác thông tin đối ngoài bao gồm
các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan truyền thông đại chúng, đoàn thể quần
chúng và cơ quan đại diện của ta tại nước ngoài. Bên cạnh đó còn có sự tham
gia của Việt kiều và những cá nhân, tổ chức nước ngoài có thiện chí với ta.
* Lực lượng trực tiếp làm công tác thông tin đối ngoại
Lực lượng quan trọng, đứng tuyến đầu trong công tác thông tin đối ngoại
là các cơ quan truyền thông đại chúng. Theo Cục Báo chí, Bộ Thông tin và
21
Truyền thông, tính đến tháng 12 năm 2007, cả nước có 633 cơ quan báo chí in
với 813 ấn phẩm, gồm có 174 báo (Trung ương 73, địa phương 101), 459 tạp chí
(Trung ương 353, địa phương 106) và hơn 1.000 bản tin của các cơ quan, tổ
chức ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hàng năm
số lượng bản báo được phát hành ở Việt Nam khoảng 600 triệu bản, bình quân
có 8 bản báo/người/năm. Nhiều cơ quan bộ, ngành đã lập các trang web riêng
Thông tấn xã Việt Nam có 9 đơn vị làm công tác thông tin đối ngoại.
Bản tin đối ngoại hàng ngày bằng 4 thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp, Tây Ban
Nha), có 25 phân xã ngoài nước, quan hệ với 40 hãng thông tấn quốc gia và
quốc tế. Đài Tiếng nói Việt Nam có 4 loại hình, đơn vị chủ yếu tham gia công
tác thông tin đối ngoại, đã mở 6 cơ quan thường trú ở Nga, Trung Quốc, Thái
Lan, Pháp, Ai Cập, Nhật Bản. Đài đưa lên mạng internet 4 hệ phát thanh là
VOV1, VOV2, VOV3, VOV6, riêng chương trình đối ngoại tầm xa (VOV6)
với 12 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Nga, Đức, Tây Ban Nha, Nhật, Trung, Lào,
Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Việt Nam). Đài Truyền hình Việt Nam phát 5

- Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều người Việt Nam ra
nước ngoài học tập, công tác, sinh sống. Họ ra nước ngoài mang theo và đại
diện cho hình ảnh của một đất nước cởi mở đang phát triển năng động thay
thế hình ảnh Việt Nam tận cùng của đói nghèo và chia rẽ do những "thuyền
nhân" thập kỷ 70 và 80 mang ra.
- Các tập đoàn, công ty nước ngoài, các tổ chức nước ngoài vào Việt
Nam ngày càng nhiều, lợi ích của họ gắn bó với Việt Nam. Bản thân sự hiện
diện và hoạt động có hiệu quả của các công ty lớn như Ford, Nike, Intel,
Microsoft… tại Việt Nam đã có giá trị quảng bá rất lớn cho Việt Nam. Các
công ty nước ngoài cũng có kênh thông tin và mạng lưới quan hệ riêng, rất
rộng rãi và hiệu quả. Bản thân các doanh nghiệp nước ngoài làm ăn tại Việt
nam cũng có nhu cầu quảng bá cho hoạt động của mình để nâng cao uy tín và
23
tăng doanh thu, giá trị cổ phiếu trên thị trường chứng khoán…
1.2. HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.2.1. Hoạt động thông tin đối ngoại trong giai đoạn kháng chiến
chống Pháp từ 1945 - 1954
Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã đánh đổ ách thống trị
của thực dân Pháp, phát xít Nhật và đập tan chế độ phong kiến, thành lập
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi vĩ đại này là kết quả của cuộc
đấu tranh lâu dài của nhân dân các dân tộc Việt Nam, nhất là từ khi có sự lãnh
đạo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ
lâm thời đọc bản "Tuyên ngôn Độc lập", khai sinh nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, khẳng định thắng lợi to lớn của cuộc đấu tranh chính nghĩa của
nhân dân Việt Nam, đứng về phe Đồng minh chống phát xít, giành lại độc lập,
tự do cho Tổ quốc và tuyên bố với thế giới: "Nước Việt Nam có quyền hưởng
tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc
Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ
vững quyền tự do, độc lập ấy" [24, tr. 4].

xâm lược. Bước đầu Chính phủ ta đã mở Phái viên quán ở Bangkok (Thái
Lan) tháng 7/1946, ra các bản tin tiếng Việt, Thái và Anh để gửi cho Việt
kiều, Đại sứ quán các nước và các tổ chức quốc tế. Cơ quan Phái viên chuyển
về Việt Bắc các phỏng vấn của các nhà báo quốc tế và chuyển các câu trả lời
từ trong nước bằng tiếng Anh cho các nhà báo. Bangkok đã trở thành đầu mối
quốc tế để mở rộng hoạt động của Việt Nam tại hải ngoại. Tiếp đó, tháng
2/1948 ta lập phòng thông tin ở Răng-gun (Myanmar) và sau đó là phòng
thông tin tại New Delhi (Ấn Độ) năm 1951. Khi chuẩn bị về nước sau chuyến
thăm Pháp với danh nghĩa là thượng khách của Chính phủ Pháp, tháng
25

Trích đoạn Thông tin đối ngoại trong hoạt động tuyên truyền về đất nước, lịch sử và nền văn hóa lâu đời của cộng đồng dân tộc Việt Nam Về phương thức Một số bài học kinh nghiệm Phương hướng, nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại trong bối cảnh hội nhập Nâng cao nhận thức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước đối với công tác thông tin đối ngoạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status